Thứ Sáu, 12 tháng 10, 2012

CHẾ ĐỊNH BẢO LÃNH CỦA VIỆT NAM NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LUẬT SO SÁNH


Cùng với các biện pháp bảo đảm bằng tài sản như cầm cố, thế chấp, bảo lãnh được sử dụng khá phổ biến trong các giao dịch vay vốn nước ngoài. Bảo lãnh là một biện pháp bảo đảm theo đó bên bão lãnh cam kết với bên có quyền sẽ thực hiện nghĩa vụ nếu bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. So với pháp luật của một số nước trên thế giới, quy định về biện pháp bảo đảm này của Việt Nam dường như rất « ưu ái » bên nhận bảo lãnh. Thêm vào đó, vẫn còn nhiều khía cạnh của giao dịch bảo đảm này vẫn còn chưa được điều chỉnh bởi pháp luật hiện hành.
1. Xác lập bảo lãnh
Hình thức cam kết bảo lãnh – Về cơ bản, Bộ luật dân sự và Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về Giao dịch bảo đảm được bổ sung, sửa đổi năm 2012 (Nghị định 163) chỉ đặt ra yêu cầu duy nhất về hình thức là việc bảo lãnh phải được lập thành văn bản. Theo Thông tư 28/2012/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước ngày 03 tháng 10 năm 2012 quy định về bảo lãnh ngân hàng (Thông tư 28), cam kết bảo lãnh có thể là thư bảo lãnh, hợp đồng bảo lãnh hay hình thức cam kết khác do các bên thỏa thuận không trái với quy định của pháp luật Việt Nam (khoản 9, điều 3). Nhìn chung, dù được thể hiện bằng hình thức văn bản nào đi chăng nữa (hợp đồng bảo lãnh, thư bảo lãnh, quyết định bảo lãnh,v.v…) thì phải nhìn nhận cam kết bảo lãnh (văn bản bảo lãnh) là hợp đồng chứ không phải là một hành vi pháp lý đơn phương vì nó kéo theo sự trao đổi việc chấp thuận giao kết hợp đồng giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh[2] – là các bên của quan hệ bảo lãnh bảo lãnh. Đây là hợp đồng đơn vụ vì chỉ có bên bảo lãnh là bên có nghĩa vụ[3].
Tính chất của bảo lãnh – Chế định bảo lãnh của Việt Nam đặc biệt có lợi cho bên nhận bảo lãnh. Thực vậy, theo quy định tại điều 361 của Bộ luật dân sự, nếu khi nghĩa vụ được bảo lãnh đến hạn mà bên được bảo lãnh (chẳng hạn bên đi vay) không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ này thì bên bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh và các bên có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình. Điều đó có nghĩa là khi các bên không có thỏa thuận thì khi nghĩa vụ được bảo lãnh đến hạn nếu bên có nghĩa vụ không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ này, bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh mà không cần phải chứng minh với bên bảo lãnh việc bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ. Trong trường hợp công ty mẹ bảo lãnh cho công ty con, ngân hàng đương nhiên sẽ được lợi hơn khi gọi bảo lãnh vì thông thường công ty mẹ có tiềm lực tài chính tốt hơn công ty con.
Khoản 1, điều 3, Thông tư 28 khi định nghĩa bảo lãnh ngân hàng cũng lấy lại khái niệm bảo lãnh của Bộ luật dân sự[4].
Dưới góc độ luật so sánh, cách tiếp cận của nhà làm luật Việt Nam rất giống với cách tiếp cận của pháp luật Anh theo đó nếu không có thỏa thuận khác thì bên bảo lãnh không thể buộc bên nhận bảo lãnh yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ của mình trước khi gọi bảo lãnh[5] ngay cả khi bên được bảo lãnh hoàn toàn có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình[6]. Bên nhận bảo lãnh không nhất thiết phải xử lý các tài sản bảo đảm của bên có nghĩa vụ trước khi yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh[7] nhưng nếu như bên nhận bảo lãnh lựa chọn xử lý các tài sản bảo đảm này thì phải làm sao đạt được mức giá bán cao nhất để giảm bớt khoản nợ được bảo lãnh.
Pháp luật của Pháp đi theo hướng ngược lại. Hình thức bảo lãnh như quy định của pháp luật Việt Nam được pháp luật Pháp gọi là bảo lãnh độc lập (garantie autonome)là một dạng bảo lãnh đặc biệt và rất khác biệt so với bảo lãnh thông thường[8]. Trong trường hợp bảo lãnh thông thường, bên bảo lãnh chỉ thực hiện cam kết bảo lãnh khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ được bảo lãnh và có bằng chứng về việc bên có nghĩa vụ không có khả năng thực hiện nghĩa vụ được bảo lãnh. Quy định như thế bảo vệ tốt hơn bên bảo lãnh bởi vì trừ bảo lãnh do ngân hàng phát hành với tính chất là một nghiệp vụ kinh doanh, trong trường hợp bảo lãnh một khoản vay chẳng hạn, bên bảo lãnh thường không được nhận phí bảo lãnh và không (hoặc không trực tiếp) liên quan tới việc thực hiện dự án sản xuất, kinh doanh được nêu trong phương án vay của bên đi vay. Và khác với pháp luật Việt Nam, việc bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh ngay khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ được bảo lãnh chỉ được áp dụng khi các bên có thỏa thuận rõ ràng trong hợp đồng bảo lãnh, tức là khi đó bên bảo lãnh hiểu rõ mức độ cam kết của mình và rủi ro gắn với cam kết đó[9].
Có thể chính vì tính chất « có lợi » rõ ràng cho bên nhận bảo lãnh của bảo lãnh theo quy định hiện nay của pháp luật Việt Nam nên trong quá trình đàm phán, các ngân hàng hay doanh nghiệp nước ngoài với tư cách là bên cho vay thường dễ dàng đồng ý lựa chọn áp dụng pháp luật Việt Nam đối với hợp đồng bảo lãnh.
Để hạn chế rủi ro, thông thường khi đưa ra cam kết bảo lãnh, bên bảo lãnh nên cố gắng đàm phán để đưa ra điều khoản về thực hiện bảo lãnh theo đó bên bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh khi bên nhận bảo lãnh chứng minh được (i) nghĩa vụ đã đến hạn, (ii) bên được bảo lãnh không thực hiện hay thực hiện không đúng hợp đồng và (iii) bên được bảo lãnh không có khả năng thanh toán.
Đồng bảo lãnh – Một nghĩa vụ dân sự có thể được bảo lãnh bởi nhiều bên khác nhau. Điều 365 của Bộ luật dân sự phân biệt hai trường hợp đồng bảo lãnh :
- Nếu các bên có thỏa thuận hay pháp luật quy định[10] các bên bảo lãnh theo phần độc lập thì người có quyền chỉ có thể yêu cầu bên đồng bảo lãnh liên quan thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trong phần bảo lãnh tương ứng.
- Nếu không có thỏa thuận hoặc pháp luật không quy định, thì chế định đồng bảo lãnh mặc nhiên trở thành bảo lãnh liên đới và người có quyền có thể yêu cầu bất cứ bên bảo lãnh liên đới nào thực hiện toàn bộ nghĩa vụ được bảo lãnh. Bên bảo lãnh liên đới sau khi đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ được bảo lãnh có quyền yêu cầu các bên bảo lãnh liên đới còn lại phải hoàn trả phần giá trị bảo lãnh mà mình đã thay thế họ thực hiện. Có ý kiến cho rằng quy định về quyền bồi hoàn của người bảo lãnh đối với những người bảo lãnh khác như thế là không phù hợp bởi những người bảo lãnh liên đới là bảo lãnh đồng thời, không phải là tái bảo lãnh nên khi nghĩa vụ đã được thực hiện thì nghĩa vụ của họ cũng không còn. Người bảo lãnh đã thực hiện nghĩa vụ hộ bên được bảo lãnh phải đòi lại tài sản từ bên được bảo lãnh chứ không phải từ những người bảo lãnh còn lại[11]. Về lý thuyết việc truy đòi bên được bảo lãnh sẽ giúp bên bảo lãnh liên đới đã thực hiện nghĩa vụ được bảo lãnh có thể được thanh toán toàn bộ số tiền đã trả cho bên nhận bảo lãnh thay vì được thanh toán từng phần trong trường hợp truy đòi từ các bên bảo lãnh liên đới khác. Hơn nữa cách thức này giúp tránh việc các bên bảo lãnh liên đới khác phải truy đòi tài sản từ bên được bảo lãnh sau khi thanh toán cho bên bảo lãnh liên đới đã thực hiện nghĩa vụ được bảo lãnh đối với bên nhận bảo lãnh. Song có lẽ phương pháp này chỉ nên được áp dụng trong trường hợp bên được bảo lãnh có khả năng thực hiện nghĩa vụ. Hơn nữa, nếu bỏ quyền bồi hoàn này thì bảo lãnh liên đới sẽ chứa đựng rất nhiều rủi ro bởi bên nhận bảo lãnh có toàn quyền quyết định sẽ yêu cầu ai trong số các bên bảo lãnh liên đới phải thực hiện nghĩa vụ được bảo lãnh thay cho bên nhận bảo lãnh. Pháp luật của Anh[12] hay của Pháp[13] đều có quy định tương tự về quyền bồi hoàn này (right of contribution, recours en contribution) như quy định này của pháp luật Việt Nam. Mặt khác, điều 365, Bộ luật dân sự chỉ quy định việc một bên bảo lãnh liên đới đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ yêu cầu những người bảo lãnh còn lại phải thực hiện phần nghĩa vụ của họ đối với mình là quyền, chứ không phải là nghĩa vụ của bên này. Tức là pháp luật không cấm bên bảo lãnh liên đới này yêu cầu bên được bảo lãnh (bên có nghĩa vụ) thanh toán cho mình toàn bộ số tiền đã trả cho bên nhận bảo lãnh mà không cần phải yêu cầu các bên bảo lãnh liên đới khác thực hiện nghĩa vụ của họ.
Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh – Bên bảo lãnh có thể cầm cố hay thế chấp tài sản của mình để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh (điều 44, Nghị định 163). Cần phân biệt trường hợp này với trường hợp cầm cố, thế chấp tài sản của người thứ ba[14]. Với cơ chế cầm cố, thế chấp tài sản của người thứ ba, bên thứ ba dùng tài sản của mình để bảo đảm trực tiếp nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ đối với bên có quyền (bên nhận cầm cố, thế chấp) và nếu bên có nghĩa vụ không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ được bảo đảm, bên nhận cầm cố, thế chấp có quyền xử lý tài sản cầm cố, thế chấp. Nếu giá trị tài sản cầm cố, thế chấp không đủ để thanh toán nghĩa vụ được bảo đảm, bên thế chấp không phải thanh toán phần còn thiếu.
Về biện pháp bảo đảm bằng tài sản của người thứ ba, Nghị định 163 có các quy định riêng về việc cầm cố, thế chấp tài sản của bên thứ ba (khoản 2, điều 57). Giá trị pháp lý của biện pháp bảo đảm này chỉ có thể được thừa nhận nếu hiểu khái niệm “bên bảo đảm” trong giao dịch dân sự trong định nghĩa về cầm cố (điều 326, Bộ luật dân sự) và định nghĩa về thế chấp (điều 342, Bộ luật dân sự) theo hướng mở rộng. Thực vậy, nếu hiểu “bên bảo đảm” theo nghĩa bên có nghĩa vụ (tức là tài sản bảo đảm phải thuộc sở hữu của bên có nghĩa vụ) thì chế định cầm cố, thế chấp tài sản của bên thứ ba của Nghị định 163 vi phạm quy định của Bộ luật dân sự và nếu như thế hợp đồng cầm cố, thế chấp tài sản của người thứ ba sẽ bị vô hiệu. Thiết nghĩ, nên thừa nhận giá trị pháp lý của biện pháp bảo đảm này vì nó cũng được xây dựng trên cơ sở tôn trọng sự thỏa thuận của các bên và góp phần tăng cường tính đa dạng của các biện pháp giao dịch bảo đảm[15].
2. Luật áp dụng khi hợp đồng bảo lãnh có yếu tố nước ngoài
Quyền tự do lựa chọn luật áp dụng – Pháp luật Việt Nam công nhận quyền của các bên trong việc lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng trong đó có một bên là doanh nghiệp nước ngoài[16]. Do bảo lãnh là một loại hợp đồng nên nguyên tắc này cũng được áp dụng.
Trong trường hợp các bên không chọn luật áp dụng – Tuy vậy, nếu các bên không lựa chọn luật áp dụng trong hợp đồng bảo lãnh (trường hợp này cũng không phải hiếm gặp), thì sẽ phải lựa chọn luật áp dụng nào trong trường hợp phát sinh tranh chấp ?
- Giả thiết đầu tiên dựa trên mối quan hệ giữa hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm và hợp đồng bảo lãnh theo đó luật áp dụng có thể là luật áp dụng cho nghĩa vụ được bảo đảm. Theo giả thiết này, luật áp dụng cho hợp đồng bảo lãnh là luật áp dụng cho hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm (hợp đồng vay chẳng hạn). Giải pháp này cho phép bảo đảm tính thống nhất về luật áp dụng của hai hợp đồng vốn có mối liên hệ mật thiết với nhau và qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho sự vận hành của biện pháp bảo đảm. Điều này nhằm bảo vệ bên nhận bảo đảm và giúp giải quyết được các khó khăn phát sinh khi có nhiều bên cùng bảo lãnh cho một nghĩa vụ. Tuy vậy, nhà làm luật không còn coi hợp đồng bảo đảm (trong đó có hợp đồng bảo lãnh) là hợp đồng phụ của hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm (hợp đồng vay chẳng hạn) (khoản 2, Điều 410, Bộ luật dân sự). Thực vậy, theo quy định tại khoản 1 điều 15 của Nghị định 163, khi hợp đồng vay (hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm) bị vô hiệu mà hợp đồng này đã được thực hiện một phần (hay toàn bộ) thì hợp đồng bảo lãnh không chấm dứt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Lý do nằm ở chỗ do hợp đồng vay đã được thực hiện một phần (hay toàn bộ) nên đã phát sinh nghĩa vụ hoàn trả tiền gốc và lãi của bên đi vay và nghĩa vụ hoàn trả này được bảo đảm bởi hợp đồng bảo lãnh đã ký giữa các bên. Trên tinh thần này, nếu hợp đồng vay đã được thực hiện một phần hoặc toàn bộ, hợp đồng bảo lãnh vẫn có hiệu lực cho dù hợp đồng vay bị hủy bỏ hoặc đơn phương chấm dứt, trừ trường hợp có thỏa thuận khác[17].
- Giả thiết thứ hai được đưa ra trên cơ sở tham khảo quy định của Quy tắc Rome 1 năm 2008 của Liên minh Châu Âu về luật áp dụng đối với các nghĩa vụ hợp đồng, theo đó hợp đồng được điều chỉnh bởi pháp luật của nước mà ở đó bên phải thực hiện nghĩa vụ chính của hợp đồng (characteristic performance of the contract) cư trú (được hiểu là có trụ sở trong trường hợp pháp nhân)[18]. Nếu áp dụng nguyên tắc chọn luật áp dụng này vào trong trường hợp bảo lãnh có thể dễ dàng thấy do hợp đồng bảo lãnh là hợp đồng đơn vụ và chỉ có bên bảo lãnh là có nghĩa vụ phải thực hiện một công việc – thanh toán cho bên nhận bảo đảm trong trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm – cho nên luật áp dụng sẽ là luật nơi bên bảo lãnh có trụ sở.
- Giải pháp của pháp luật Việt Nam : theo quy định của điều 769 của Bộ luật dân sự, trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng trong hợp đồng thì quyền và nghĩa vụ của các bên được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng. Nơi thực hiện hợp đồng là nơi có trụ sở của bên có quyền nếu đối tượng của nghĩa vụ dân sự không phải là bất động sản (điểm b, khoản 2, điều 284, Bộ luật dân sự). Như vậy, luật áp dụng cho hợp đồng bảo lãnh là pháp luật của nước mà bên nhận bảo lãnh có trụ sở. Về lý thuyết, điều này đặc biệt có lợi cho ngân hàng hay doanh nghiệp nước ngoài là bên cho vay khi nhận bảo lãnh từ doanh nghiệp hay ngân hàng Việt Nam.
Nếu tranh chấp được đưa ra trước Trọng tài quốc tế Việt Nam thì nếu các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng thì Hội đồng trọng tài quyết định áp dụng pháp luật mà Hội đồng trọng tài cho là phù hợp nhất (khoản 2, điều 14, Luật Trọng tài). Thông thường, trọng tài sẽ dựa vào các yếu tố của tranh chấp, thái độ của các bên trong tố tụng trọng tài và đặc biệt là vào các nguyên tắc của tư pháp quốc tế để xác định luật áp dụng.
3. Bảo lãnh vay vốn nước ngoài
Các loại bảo lãnh – Khi một doanh nghiệp hay ngân hàng Việt Nam (gọi tắt là doanh nghiệp Việt Nam) ký kết một khoản vay nước ngoài với một doanh nghiệp hay tổ chức tín dụng nước ngoài, ngoài bảo lãnh chính phủ[19], đâu là các loại hình bảo lãnh mà doanh nghiệp Việt Nam có thể tìm kiếm tại Việt Nam để bảo đảm nghĩa vụ hoàn trả khoản vay? Có thể phân biệt hai loại bảo lãnh dựa trên tính chất của chủ thể bảo lãnh :
- Bên bảo lãnh là tổ chức tín dụng Việt Nam (bank guarantee) : theo quy định tại khoản 4, điều 3, Thông tư 28, bên nhận bảo lãnh có thể là tổ chức, cá nhân là người không cư trú. Như vậy có thể hiểu là pháp luật Việt Nam cho phép một tổ chức tín dụng Việt Nam hay chi nhánh một ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam (ngân hàng Việt Nam) có thể bảo lãnh cho một doanh nghiệp Việt Nam vay vốn nước ngoài với điều kiện việc phát hành bảo lãnh bằng ngoại tệ của ngân hàng Việt Nam phải phù hợp với phạm vi kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối của ngân hàng đó (khoản 1, điều 4).
- Bên bảo lãnh là doanh nghiệp Việt Nam không có hoạt động ngân hàng (corporate guarantee) : trong số các quy định của Nghị định 134/2005/NĐ-CP ngày 01/11/2005 ban hành Quy chế quản lý vay và trả nợ nước ngoài, chỉ có điều 31 đề cập khả năng khoản vay của doanh nghiệp tư nhân được Chính phủ hoặc tổ chức được phép cấp bảo lãnh thuộc khu vực công (tổ chức tài chính/tín dụng nhà nước…) bảo lãnh. Có thể suy ra rằng nghị định này cho phép một doanh nghiệp Việt Nam được bảo lãnh cho một doanh nghiệp Việt Nam khác vay nước ngoài.
Pháp luật về quản lý ngoại hối – Trong thực tế, bên cho vay nước ngoài còn khá băn khoăn trước các quy định về quản lý ngoại hối áp dụng cho bảo lãnh khoản vay nước ngoài. Thực vậy, khoản 5 và điểm đ khoản 6, điều 4, Pháp lệnh Ngoại hối và điểm đ, khoản 6, điều 3, Nghị định 160/2006/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Ngoại hối (Nghị định 160) cho phép thực hiện các khoản thanh toán tiền lãi và trả dần nợ gốc của khoản vay nước ngoài như một giao dịch vãng lai. Tương tự điểm c, khoản 4, điều 4, Pháp lệnh ngoại hối và điểm c, khoản 4, điều 3 Nghị định 160 quy định giao dịch cho vay và trả nợ nước ngoài là một giao dịch vốn được phép thực hiện. Tuy nhiên, rất khó có thể coi việc thanh toán và chuyển tiền cho bên nhận bảo lãnh để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh là giao dịch vãng lai hay giao dịch vốn này mà chỉ có thể coi đó là một giao dịch tương tự[20]. Tuy nhiên, khi căn cứ pháp lý chưa rõ ràng như thế, bên nhận bảo lãnh đứng trước rủi ro là ngân hàng được phép có thể gây khó dễ cho việc chuyển tiền ra nước ngoài, khiến cho quá trình gọi bảo lãnh tốn thêm nhiều thời gian.
4. Bảo lãnh và pháp luật công ty
Quy tắc vì lợi ích công ty – Pháp luật của Anh có quy định về quy tắc vì lợi ích doanh nghiệp (corporate benefit rules) trong việc đứng ra bảo lãnh (hay rộng hơn là việc tạo ra giao dịch bảo đảm). Trong thực tế, khi cấp tín dụng, ngân hàng thường yêu cầu một biện pháp bảo đảm bổ sung – ngoài biện pháp bảo đảm đối với tài sản của bên đi vay – từ công ty mẹ, công ty con hay công ty liên kết của công ty đi vay. Mục đích của việc ký kết giao dịch bảo đảm bổ sung này là nhằm đề phòng khả năng thiếu hụt tài sản bảo đảm của bên đi vay qua đó nhằm giảm thiểu rủi ro cấp tín dụng. Tuy nhiên, công ty đứng ra bảo lãnh cần phải chứng minh được việc mình nhận được lợi ích doanh nghiệp từ việc cấp bảo lãnh này. Quy tắc này xuất phát từ bổn phận của giám đốc (người đại diện) đối với công ty là phải làm việc ngay tình (in good faith) và thực hiện những công việc mà anh ta cho là vì lợi ích tốt nhất của công ty. Nếu nhìn qua có thể thấy có thể khó giải thích được việc một công ty đứng ra bảo lãnh khoản vay cho một công ty khác là vì lợi ích tốt nhất của mình. Về mặt thương mại, một câu hỏi lớn đặt ra là đâu là các ích lợi và rủi ro của việc cấp một bảo lãnh như thế? Nếu suy luận theo lo-gic thông thường về mặt thương mại, nếu rủi ro càng lớn thì lợi ích mà công ty nhận được từ việc cấp bảo lãnh phải càng lớn. Công ty mẹ có thể giải thích rằng việc đứng ra bảo lãnh chính là việc hỗ trợ một công ty con bởi vì thông thường công ty mẹ sẽ được chia lợi nhuận của công ty con với tư cách là thành viên góp vốn hay cổ đông của công ty con. Về phần mình công ty con khi bảo lãnh cho công ty mẹ (up-stream guarantee) có thể lập luận rằng sự hỗ trợ từ công ty mẹ (chẳng hạn về mặt tài chính, marketing, phát triển sản phẩm) đưa lại cho mình các lợi ích doanh nghiệp cần thiết. Ngay cả khi công ty cho là không có được các lợi ích cần thiết để đứng ra bảo lãnh thì vẫn có thể bảo lãnh với điều kiện (i) tất cả các cổ đông của công ty phê chuẩn việc bảo lãnh, và (ii) công ty không ở trong tình trạng mất khả năng thanh toán tại thời điểm cấp bảo lãnh hoặc ngay sau thời điểm cấp bảo lãnh[21].
Theo quy định của pháp luật của Pháp, cam kết bảo lãnh của công ty cổ phần không phải là tổ chức tín dụng hoặc tài chính phải được sự chấp thuận của Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng giám sát của công ty và phải xác định rõ giá trị cam kết bảo lãnh và thời hạn bảo lãnh[22]. Nếu không, công ty sẽ không chịu trách nhiệm về việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, tức là cam kết bảo lãnh không có tính chất đối kháng đối với công ty.
Nhìn lại quy định của pháp luật Việt Nam có thể thấy do công ty mẹ và công ty con hay các công ty liên kết được xem như các pháp nhân độc lập với nhau (khoản 2, điều 147, Luật doanh nghiệp) nên về nguyên tắc có thể đứng ra bảo lãnh cho nhau. Không có quy định riêng nào của Luật doanh nghiệp đặt ra yêu cầu về việc bảo lãnh phải được sự chấp thuận của Hội đồng thành viên (đối với công ty trách nhiệm hữu hạn) hay của Hội đồng quản trị (đối với công ty cổ phần). Nếu xuất phát từ quy định tại điểm a, khoản 1, điều 56 hay điểm b, khoản 1, điều 119 của Luật doanh nghiệp, theo đó, thành viên hội đồng thành viên (Hội đồng quản trị) và (tổng) giám đốc công ty phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp tối đa của công ty, có thể lập luận theo hướng người đại diện của công ty ký cam kết bảo lãnh phải vì lợi ích của công ty. Mặt khác, có thể viện dẫn quy định tại điều 146 của Bộ luật dân sự theo đó giao dịch hay phần giao dịch do người đại diện xác lập vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với giao dịch hay phần giao dịch được thực hiện vượt quá phạm vi đại diện trừ trường hợp người được đại diện đồng ý hoặc biết mà không phản đối. Tuy nhiên do Luật doanh nghiệp không có các quy định cụ thể về hiệu lực của hành vi người đại diện theo pháp luật[23] cũng như về yêu cầu đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho công ty khi ký bảo lãnh nên dường như vẫn thiếu cơ sở pháp lý cho việc khởi kiện tại Tòa án để tuyên vô hiệu một cam kết bảo lãnh được cho là đã được xác lập không vì lợi ích của công ty.
Quy tắc hỗ trợ tài chính mua cổ phần của chính mình – Theo điều 678, Luật công ty năm 2006 của Anh (Company Act 2006), một công ty đại chúng hay bất cứ công ty con nào của công ty này không được trực tiếp hay gián tiếp hỗ trợ tài chính (trong đó có việc bảo lãnh hay ký kết các giao dịch bảo đảm khác) cho mọi đối tượng để mua cổ phiếu của công ty này (financial assistance). Pháp luật của Pháp cũng có quy định cấm tương tự tại điều L 225-216 của Bộ luật thương mại theo đó một công ty cổ phần không được ứng trước vốn, cho vay hay trở thành bên bảo đảm để bên thứ ba cam kết mua hay mua cổ phiếu của mình. Các quy định hiện hành của Việt Nam còn chưa đề cập đến trường hợp này nên về nguyên tắc giao dịch bảo lãnh được xác lập trong giao dịch này có thể vẫn được xem là hợp pháp.
5. Nghĩa vụ cảnh báo rủi ro tín dụng
Pháp luật nước ngoài - Dù Pháp là một nước thuộc hệ thống pháp luật thành văn (civil law), án lệ của Pháp đã thiết lập nên một loạt các quy định về nghĩa vụ cảnh báo rủi ro tín dụng (devoir de mise en garde), theo đó khi một người đứng ra bảo lãnh cho một khoản vay, ngân hàng có nghĩa vụ cảnh báo cho bên bảo lãnh về các rủi ro gắn với việc ký kết hợp đồng bảo lãnh này. Chẳng hạn, nếu không thực hiện nghĩa vụ này, ngân hàng sẽ phải bồi thường thiệt hại trong trường hợp cam kết bảo lãnh tỷ lệ nghịch với khả năng tài chính của người bảo lãnh[24]. Tại Anh và xứ Wales – thuộc hệ thống thông luật (common law) – các điều khoản nhằm hạn chế hay phủ nhận khả năng của bên bảo lãnh được từ chối trách nhiệm bảo lãnh có thể bị vô hiệu theo quy định của một số văn bản luật về thương mại (Trade Practices Act 1974, State Fair Trading Acts và Contracts Review Act 1980). Về phần mình, các thẩm phán cũng từng bước xác lập nghĩa vụ cảnh báo rủi ro tín dụng của ngân hàng cho vay (lending bank) khi mối quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh không mang tính chất thương mại. Điều này được thể hiện thông qua hai bản án mang tính nguyên tắc làBarclays Bank LTd v O’Brien (1993) và Royal Bank of Scotland v Etridge (2001). Trong bản án thứ nhất, Tòa án tối cao (House of Lords nay là Suprme Court) đã thiết lập một nguyên tắc theo đó trong một vài trường hợp, ngân hàng phải thông báo cho bên bảo lãnh về ảnh hưởng không chính đáng (undue influence) được suy đoán[25] và chỉ chấp nhận bảo lãnh khi các thông tin mà ngân hàng thu thập được cho phép bảo đảm rằng giao dịch bảo đảm không được xác lập như một hệ quả của ảnh hưởng không chính đáng này. Trong bản án thứ hai, Tòa tối cao đã khiển trách ngân hàng và bên luật sư tư vấn của ngân hàng vì đã không thực hiện nghĩa vụ tư vấn cho bên bảo lãnh. Tài liệu Hướng dẫn thực hành (Pratical Guidance) đã được Tòa tối cao soạn thảo sau khi có hai bản án trên và được dành cho các tổ chức tín dụng và các luật sư tư vấn, trong đó có nêu các bước thông tin cho bên bảo lãnh mà các đối tượng này phải tiến hành.
Tại Úc, nghĩa vụ tư vấn (advice duty) được xác lập cả trong các văn bản pháp luật – Bộ luật tín dụng tiêu dùng (UCCC) và Bộ luật về thực hành ngân hàng (Code of banking practice) – lẫn trong thực tiễn xét xử. Theo quy định của pháp luật, nghĩa vụ tư vấn kéo theo việc các ngân hàng phải bảo đảm rằng người bảo lãnh hiểu hợp đồng mà mình ký, đặc biệt là ảnh hưởng về mặt tài chính của hợp đồng này đối với mình. Tuy vậy, pháp luật chỉ dừng lại ở việc yêu cầu các ngân hàng phải tiến hành điều tra, xác minh về điều kiện tài chính của người bảo lãnh. Các thẩm phán Úc hoàn thiện các quy định của pháp luật bằng cách đưa ra nguyên tắc theo đó nghĩa vụ giải thích, tư vấn phải được thực thi khi ngân hàng ý thức được rằng bên bảo lãnh ở trong tình trạng mất khả năng đặc biệt (special disability) làm cho anh ta trở nên “dễ tổn thương” trong một giao dịch nhất định. Thực vậy, trong vụ án Commonwealth Bank of Australia v Amadio(1983), hai bố mẹ của một chủ doanh nghiệp đã có tuổi và gặp khó khăn trong việc hiểu các điều khoản của một hợp đồng được soạn thảo bằng tiếng Anh. Do đó họ đã tin rằng công ty của con trai mình vẫn hoạt động và có tiềm lực tài chính tốt nên đã đứng ra bảo lãnh cho công ty này để vay vốn và đã thế chấp tài sản của mình để bảo đảm nghĩa vụ bảo lãnh. Tòa án đã tuyên hợp đồng thế chấp này vô hiệu. Về nguyên tắc, trong trường hợp có dấu hiệu về việc bên bảo lãnh mất khả năng đặc biệt, tổ chức tín dụng có nghĩa vụ đưa ra bằng chứng về việc giao dịch không gian lận (fair), công bằng (just) và hợp lý (reasonable)[26](chẳng hạn người bảo lãnh đã được tư vấn bởi một văn phòng tư vấn chuyên nghiệp trên cơ sở đề xuất của ngân hàng). Và khi mất khả năng đặc biệt tồn tại, việc mà ngân hàng đã có các động thái nhất định để giải thích cho người bảo lãnh các hệ quả tiêu cực của hợp đồng tín dụng là chưa đủ nếu người bảo lãnh không hiểu các điều khoản của hợp đồng này[27]. Tòa án của Úc cũng quy chiếu đến các nguyên tắc án lệ (precedents) được Tòa án tối cao của Anh xác lập trong lĩnh vực này, đặc biệt là án lệ Barclays Bank plc v O’Brien (1993) nêu ở trên[28].
Pháp luật Việt Nam – Pháp luật ngân hàng Việt Nam hiện hành không đặt ra nghĩa vụ cảnh báo rủi ro tín dụng, nghĩa vụ giải thích hay nghĩa vụ tư vấn cho người bảo lãnh. Đây là một thiệt thòi lớn cho bên bảo lãnh, nhất là khi bên bảo lãnh là cá nhân và có trình độ hiểu biết hạn chế.
Nhìn một cách tổng thể, có thể thấy còn nhiều hạn chế và khoảng trống trong quy định của pháp luật của Việt Nam về bảo lãnh. Cần hoàn thiện khung pháp lý theo hướng bảo đảm cân bằng được cả lợi ích của bên bảo lãnh cũng như bên nhận bảo lãnh. Ngoài ra, nên bổ sung các quy định để điều chỉnh các vấn đề mà pháp luật hiện hành còn đang bỏ ngỏ, nhất là mối quan hệ giữa pháp luật bảo lãnh và pháp luật doanh nghiệp cũng như nghĩa vụ cảnh báo rủi ro tín dụng. Pháp luật về quản lý ngoại hối nên có những quy định cụ thể đảm bảo quyền lợi của bên nhận bảo lãnh nước ngoài trong trường hợp gọi bảo lãnh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. D. Adams, Banking and Capital Markets, College of Law Publishing, 2010.
2. L. Aynès et P.Crocq, Les sûretés – La publicité foncière, Defrénois, 5è édition, 2011.
3. GS.TS.NGND. Nguyễn Thị Mơ (chủ biên) – Giáo trình pháp luật trong hoạt động kinh tế đối ngoại, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông, tái bản lần thứ 4, Hà Nội, 2009.
4. TS. Đỗ Văn Đại và PGS.TS. Mai Hồng Quỳ – Tư pháp quốc tế Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2006.
5. E. Wentworth, Banking law and practice, www.fos.org.au
6. Encyclopaedia of Banking Law, The bank’s duty to exercise reasonable care and skill in The Relationship of Bank and Customer, LexisNexis, 2010.
7. The House of Lords, Practical Guidance for banks and solicitors dealing with guarantees by individuals, 2009.
8. A.L Tyree, Banking Law in Australia, fifth edition, LexisNexis Butterworths, 2005.

[1] ThS. Bùi Đức Giang, Công ty Luật Audier and Partners Vietnam LLC (A&P) & NCS khoa Luật, Đại học Paris 2 Panthéon Assas, Pháp.
[2] Thông thường, bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh có các trao đổi, thương lượng nhất định trước khi các bên đi đến thống nhất về việc bên bảo lãnh đưa ra cam kết bảo lãnh chính thức.
[3] Theo quy định tại khoản 2, điều 406, hợp đồng đơn vụ là hợp đồng mà chỉ một bên có nghĩa vụ.
[4] Theo đó, bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên bảo lãnh cam kết bằng văn bản với bên nhận bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh.
[5] Các bản án tiêu biểu : Belfast Banking Co v Stanley (1867) 15 WR 989, Rede v Farr (1817) 6 M & S 121, Lilley v Hewitt (1822) 11 Price 494 và Ewart v Latta (1865) 4 Macq 983.
[6] Bản án Wright v Simpson (1802) 6 Ves 714.
[7] Bản án Heeley (1832) 1 Cr & M 249 and Re Howe, ex p Brett (1871) 6 Ch App 838 at 841.
[8] Pháp luật của Anh cũng công nhận khái niệm “bảo lãnh độc lập” (on demand guarantee, demand performance guarantee) nhưng biện pháp này chỉ khác với bảo lãnh thông thường ở chỗ trong trường hợp này bên bảo lãnh có thể gọi bảo lãnh mà không cần phải có bằng chứng về việc bên được bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ.
[9] Về mặt hình thức, tên gọi bảo lãnh độc lập phải được viết rõ trong hợp đồng bảo lãnh.
[10] Một trong các trường hợp mà pháp luật quy định là trường hợp công ty mẹ là doanh nghiệp Nhà nước bảo lãnh cho doanh nghiệp có vốn góp của công ty mẹ để vay vốn tại ngân hàng (được hiểu là bao gồm cả ngân hàng nước ngoài) và các tổ chức tín dụng và trong trường hợp này, tỷ lệ (%) bảo lãnh của từng khoản vay không được vượt quá tỷ lệ (%) góp vốn của công ty mẹ trong doanh nghiệp được bảo lãnh vay vốn và tổng các khoản bảo lãnh vay vốn không được vượt quá số vốn góp của công ty mẹ trong doanh nghiệp đó (khoản 3, điều 3, Thông tư số 242/2009/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 30/12/2009 hướng dẫn thi hành một số điều của Quy chế Quản lý tài chính của công ty Nhà nước và Quản lý vốn Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác ban hành kèm theo Nghị định số 09/2009/NĐ-CP ngày 05/02/2009 của Chính phủ).
[11] Phần bình luật điều 365 (mục 58), Dự thảo Báo cáo rà soát Bộ luật dân sự 2005, http://luatsuadoi.vibonline.com.vn/Baocao/Bo-luat-Dan-su-16.aspx.
[12] D. Adams, Banking and Capital Markets, College of Law Publishing, 2010, trang 159.
[13] Điều 2310, Bộ luật dân sự Pháp.
[14] Trong thực tế, việc cầm cố, thế chấp tài sản của người thứ ba thường được hiểu là chỉ tồn tại trong quan hệ bảo lãnh.
[15] Pháp luật của Pháp công nhận giá trị pháp lý của chế định cầm cố, thế chấp tài sản của người thứ ba như là một biện pháp bảo đảm độc lập với chế định cầm cố, thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
[16] Điều 769, Bộ luật dân sự và điều 14, Luật Trọng tài thương mại.
[17] Xem thêm TS. Nguyễn Văn Tuyến, Đặc điểm pháp lý và mối quan hệ hiệu lực giữa hợp đồng thế chấp tài sản với hợp đồng tín dụng trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, Tạp chí ngân hàng số 17/2010.
[18] Khoản 2, điều 4.
[19] Bảo lãnh chính phủ được điều chỉnh bởi Nghị định 15/2011/NĐ-CP ngày 16/02/2011 của Chính phủ về cấp và quản lý bảo lãnh chính phủ.
[20] Giao dịch tương tự này được phép thực hiện theo quy định tại điểm g khoản 6, điều 4, Pháp lệnh Ngoại hối và điểm g, khoản 6, điều 3, Nghị định 160.
[21] D. Adams, Banking and Capital Markets, College of Law Publishing, 2010, trang 182 và 183.
[22] Điều L.225-35 và L.225-68, Bộ luật Thương mại Pháp.
[23] Xem thêm Phạm Thị Minh Trang, Người đại diện theo pháp luật, anh là ai? Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online, 12/10/2011.
[24] Xem thêm Dominique Legeais, Responsabilité du banquier fournisseur de crédit,JCl. Commercial, 1 juillet 2010, fasc.346 và Bui Duc Giang, « Devoir de mise en garde du banquier dispensateur de crédit », Mémoire de fin d’études Master 2 en Droit des affaires internationales de Tours, Paris, septembre 2010.
[25] Chẳng hạn, khi người vợ với tư cách là bên đồng đi vay hoàn toàn tin tưởng vào người chồng của mình (cũng là bên đồng đi vay) mà không hiểu gì về nội dung cam kết vay.
[26] Bản án Nobile v National Australia Bank Lmd (1987) and Portman Building Society v Dusangh (2000).
[27] Bản án Westpac Banking Group Corp v Clemesha (1988).
[28] Xem thêm A.L Tyree, Banking Law in Australia, fifth edition, LexisNexis Butterworths, 2005.
Nguồn: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Thứ Năm, 4 tháng 10, 2012

Loạn phụ phí, ngoại tệ chảy ngược


Hàng loạt các loại phí mới phát sinh như phí tắc nghẽn cảng, phí mất cân đối container… được các hãng tàu nước ngoài đưa ra đang khiến các doanh nghiệp xuất nhập khẩu của Việt Nam đứng ngồi không yên.
Phụ phí “xiết” chủ hàng

Thêm phụ phí không phải là chuyện mới đối với các hãng tàu. Vấn đề là các loại phí mà họ đặt ra ngày càng “không thể chịu được” như cách nói của các nhà xuất nhập khẩu.
Ông Trần Hồng Thủy - Chủ tịch HĐTV CT TNHH Thương mại và kho vận DEVYT bức xúc: Công ty chúng tôi thường xuyên nhập khẩu hàng hóa là máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, làm thủ tục tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu hàng hóa... với số lượng trung bình từ 150 - 200 container/tháng.
Thông thường, để nhận được Lệnh giao hàng, chúng tôi phải nộp các loại phí như phí hàng qua cảng, phí chứng từ, phí THC (khoảng 185 USD/container 40’; 129 USD/container 20’). Ngoài ra, tùy quy định của từng hãng tàu, chúng tôi còn phải nộp phí lưu container, lưu bãi nếu nhận hàng sau khi hàng về đến cảng 3 - 5 ngày (từ 10 - 22 USD/ngày/container tùy loại).
Dù phải nộp khá nhiều loại phí nhưng chúng tôi cũng không phản đối vì các loại phí này là phù hợp với thông lệ quốc tế và đã được chủ hàng, người nhập khẩu và hãng tàu thỏa thuận.
Đáng nói là thời gian qua, một số hãng tàu đã thông báo thu thêm phí tắc nghẽn, phí mất cân đối container với mức phí trung bình áp dụng cho tất các loại hàng hóa là 55 USD/container 20’ và 110 USD/container 40’, có hãng còn thu tới 150 USD và 300 USD cho 2 loại container trên. Thực tế là hiện tại, tất cả các hãng tàu đã đồng loạt thu thêm phí này mặc dù chưa được sự thỏa thuận thống nhất với chủ hàng, người nhập khẩu. Ông Thủy ước tính, tổng các loại phí container mà doanh nghiệp ông phải trả cho hãng tàu khi nhận một container lên tới 295USD/container 40’ và 184 USD/container 20’.
Bà Đặng Phương Dung - Phó Chủ tịch Hiệp hội dệt may Việt Nam cho biết, bà nhận được rất nhiều thông tin phản ánh của các doanh nghiệp hội viên phản ánh việc bị thu thêm phí ùn tắc container bên cạnh các loại phí khác như THC, phí lưu vỏ, phí lưu kho bãi... Bà Dung khẳng định đây là một loại phí hết sức vô lý trong khi tình hình giải tỏa container đang dần được giải quyết và các chủ hàng cũng luôn cố gắng bám tàu, bám hàng để làm các thủ tục nhận hàng nhanh nhất có thể.
Tương tự, đại diện Hiệp hội doanh nghiệp trẻ Bắc Ninh, ông Mãn Ngọc Anh cũng không giấu nổi bức xúc khi nói về khoản phí mất cân đối container mà các doanh nghiệp trong hiệp hội đang phải hứng chịu: “Nếu người nhận hàng không trả sẽ không có lệnh giao hàng. Còn nếu trả thì chẳng khác gì chúng tôi bị áp bức, bóc lột ngay trên chính lãnh thổ của đất nước mình”
Đại diện Hiệp hội giao nhận kho vận Việt Nam cho rằng phí ùn tắc là loại phụ phí mà chủ tàu thu của chủ hàng để bù vào các chi phí do tàu hoặc container phải chờ đợi. Thực chất, đây là “mẹo” mà chủ tàu đặt ra để thu tiền. Thời gian vừa qua không có ùn tắc tại cảng nhưng chủ hàng vẫn phải nộp phí ùn tắc. Nhiều phí “trái khoáy, vô lý, tức tưởi” nhưng vẫn phải thanh toán đề lấy hàng.


Thực chất là tăng giá cước


Đây là khẳng định của Phó Cục trưởng Cục HHVN xung quanh vấn đề thu thêm các loại phí “trên trời” của các hãng tàu. Ông Tiến cho biết, Cục HHVN đã nhận được nhiều phản ánh về việc thu thêm một số khoản phí như phí tắc nghẽn, phí phụ trội hàng nhập của chủ tàu.
Ông Tiến khẳng định: Do việc áp dụng mức thu phí, giá dịch vụ liên quan đến vận chuyển hàng hóa bằng đường biển giữa chủ hàng và chủ tàu chưa có một cơ chế quản lý, giám sát đồng bộ giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên các chủ tàu nước ngòai đơn phương áp thêm một số loại phí vô lý cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam.
Cũng theo ông Tiến thì việc các chủ tàu tự ý thu thêm các loại phí trên thực tế là giá dịch vụ. Mặc dù giá dịch vụ là do sự thỏa thuận giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển nhưng do các chủ hàng Việt Nam thường mua CIF, bán FOB (mua tại cảng đến và bán tại cảng đi) nên không chủ động được quyền thuê phương tiện vận chuyển. Từ đây mới có chuyện bị áp đặt bị động.
Trên thực tế, việc tăng giá dịch vụ gây khó khăn lớn cho doanh nghiệp Việt Nam vì chi phí vận chuyển sẽ tăng làm tăng giá thành sản phẩm hàng hóa và giảm tính cạnh tranh của các mặt hàng sản xuất trong nước để xuất khẩu, gây thiệt hại cho phía Việt Nam trong khi một khoản thu lớn từ các loại phí vô lý lại thuộc về các doanh nghiệp nước ngoài.


Thống kê cho thấy hiện có khoảng 60 hãng tàu nước ngoài đã có mặt tại Việt Nam. Các hãng tàu này đang đảm nhiệm 80 - 85% thị phần hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam.
Việc các chủ tàu nước ngoài đồng loạt tăng phí, giá dịch vụ thực chất là hình thức liên kết độc quyền về giá. Điều 11 Hiệp thương giá của Pháp lệnh giá số 40/2002/PL-UBTVQH quy định: “cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước về giá tổ chức hiệp thương giá giữa bên mua và bên bán đối với hàng hóa, dịch vụ quan trọng có tính chất độc quyền mua, độc quyền bán không thuộc phạm vi định giá của nhà nước.
Để thực hiện tốt Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về khuyến khích xuất khẩu, kiềm chế lạm phát và bình ổn giá trên thị trường, bảo về các doanh nghiệp Việt Nam, nên chăng Bộ Tài chính cần chủ trì thực hiện Hiệp thương giá giữa chủ tàu và chủ hàng theo quy định nói trên.
Nguồn: GTVT

PHÂN BIỆT DEMURRAGE - DETENTION VÀ STORAGE ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT, NHẬP KHẨU


Hiện tại có rất nhiều định nghĩa khác nhau về DEMURRAGE , DETENTION và STORAGE . Tuy nhiên để tóm lại một cách đơn giản và dễ hiểu thì có thể tham khảo bài viết sau .
Nói nôm na thì :
DEMURRAGE : Phí lưu container tại bãi của cảng.
DETENTION : Phí lưu container tại kho riêng của khách.
STORAGE : Phí lưu bãi của cảng.
Bạn có thể tham khảo ví dụ sau để hiểu rõ ràng hơn.

1/ DEM / DET và STORAGE được tính với hàng xuất khẩu :
Sau khi bạn liên hệ với cảng để nhận container và kéo về kho riêng của bạn đóng hàng . Thông thường đối với hàng XK thì bạn sẽ được lấy container đem về kho để đóng hàng trước ngày tàu chạy ETD là 05 ngày . Điều này có nghĩa là bạn sẽ được miễn phí 05 ngày DEM và 05 ngày DET với điều kiện bạn trả container về bãi trước giờ closing time quy định để xuất theo lịch tầu dự kiến. Nếu sau 05 ngày bạn không trả container về bãi để xuất đúng lịch tầu đã book mà container để tại kho của bạn thì bạn sẽ phải thanh toán tiền lưu container tại kho (DET). Nếu vì lý do nào đó bạn giao container về bãi nhưng sau closing time quy định và hàng không kịp xếp lên tầu dự kiến . Hàng của bạn sẽ phải nằm ở bãi và chờ đến chuyến sau thì bạn sẽ phải trả phí lưu container tại bãi ( DEM ) và phí lưu bãi tại cảng ( STORAGE ).
Trong trường hợp bạn đóng hàng tại bãi của Cảng thì DET sẽ không bị tính và DEM cũng sẽ được tính như trường hợp trên.

2/ DEM / DET và STORAGE được tính với hàng nhập khẩu :
Sau khi bạn đã hoàn tất các thủ tục hải quan, nhập khẩu và muốn mang container về kho riêng để rút hàng thì container này sẽ được miễn phí lưu container tại cảng (DEM ) và phí lưu bãi tại cảng (STORAGE) thông thường được các hãng tầu cho phép là 5 ngày kể từ ngày tầu cập cảng . Điều này có nghĩa là bạn sẽ được miễn phí 05 ngày DEM và 05 ngày STORAGE . Kể từ ngày thứ 06 trở đi thì bạn sẽ phải trả thêm phí DEM và STORAGE ( nếu hàng vẫn còn nằm trong bãi của cảng ) hay bạn sẽ phải trả phí DEM và DET nếu bạn đem hàng về kho riêng để dỡ hàng sau ngày quy định trên. Trong trường hợp bạn rút hàng tại bãi của Cảng sau 05 ngày được miễn nêu trên thì bạn phải trả phí lưu container ( DEM ) và lưu bãi ( STORAGE )

Ls Phan Khắc Nghiêm

Thứ Tư, 3 tháng 10, 2012

Khái quát về Hối phiếu (Bill of exchange)


Chúng ta hãy cùng tìm hiểu về khái niệm, đặc tính của hối phiếu và một số cách phân loại hối phiếu.
Khái niệm :
Theo Luật điều chỉnh về hối phiếu - ULB 1930 thì : Hối phiếu là tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do một người ký phát cho người khác, yêu cầu người này ngay khi nhìn thấy hối phiếu, hoặc đến một ngày nhất định trong tương lai, phải trả một số tiền nhất định cho một người nào đó (có thể là người phát hành hối phiếu hoặc người thứ ba), hoặc trả cho người sở hữu hối phiếu tại thời điểm đó.
Các đặc tính quan trọng :
- Tính bắt buộc của hối phiếu: Hối phiếu là "tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện". Người trả tiền hối phiếu phải trả theo đúng nội dung ghi trên tờ phiếu và không thể viện bất cứ lý do riêng nào của mình để từ chối trả tiền đối với người ký phát hối phiếu hay người thụ hưởng, trừ trường hợp hối phiếu được lập ra trái với các đạo luật chi phối nó.
- Tính trừu tượng của hối phiếu: Trên hối phiếu không nêu nguyên nhân phát sinh việc lập hối phiếu, mà chỉ ghi số tiền phải trả và những nội dung liên quan đến việc trả tiền. Hiệu lực pháp lý của hối phiếu cũng không bị ràng buộc bởi bất cứ nguyên nhân gì sinh ra hối phiếu. Nói cách khác, nghĩa vụ trả tiền của hối phiếu là trừu tượng.
- Tính lưu thông của hối phiếu: Hối phiếu có thể được chuyển nhượng một hay nhiều lần trong thời hạn của nó. Hối phiếu có tính chất này vì hối phiếu là lệnh đòi tiền của người này với người khác, trên hối phiếu có một giá trị tiền nhất định và hối phiếu có tính bắt buộc & tính trừu tượng.
Phân loại hối phiếu : Chúng ta có thể căn cứ vào các tiêu thức khác nhau để phân loại hối phiếu
- Căn cứ vào thời hạn trả tiền của hối phiếu, người ta chia hối phiếu thành ba loại:
+ Hối phiếu trả tiền ngay: Người trả tiền khi nhìn thấy hối phiếu này do người cầm hối phiếu xuất trình phải lập tức trả tiền ngay.
+ Hối phiếu trả tiền sau một số ngày nhất định: Người trả tiền khi nhìn thấy hối phiếu này ký chấp nhận trả tiền và sau đó từ 5 đến 7 ngày tiến hành trả tiền hối phiếu đó.
+ Hối phiếu có kỳ hạn: Sau một thời hạn nhất định ( thường lớn hơn 7 ngày ) kể từ ngày ký phát hối phiếu hoặc ngày chấp nhận hối phiếu, người trả tiền phải thanh toán tiền trên hối phiếu.
- Căn cứ vào chứng từ kèm theo hối phiếu, người ta chia hối phiếu thành hai loại:
+ Hối phiếu trơn: Là hối phiếu mà việc thanh toán tiền trên hối phiếu này không kèm theo chứng từ thương mại. Thường được sử dụng để thu cước phí vận tải, đòi nợ cũ...
+ Hối phiếu kèm chứng từ: Là loại hối phiếu được gửi kèm theo chứng từ thương mại đến người có nghĩa vụ trả tiền.
- Căn cứ vào tính chất chuyển nhượng của hối phiếu, người ta chia hối phiếu thành hai loại:
+ Hối phiếu đích danh: Là loại hối phiếu ghi rõ tên người thụ hưởng, loại hối phiếu này không thể chuyển nhượng bằng nguyên tắc ký hậu
+ Hối phiếu theo lệnh: Là loại hối phiếu yêu cầu người thanh toán trả tiền theo lệnh của người thụ hưởng hối phiếu. Hối phiếu theo lệnh được chuyển nhượng bằng hình thức ký hậu theo luật định.
- Căn cứ vào chủ thế ký phát hối phiếu chia làm hai loại:
+ Hối phiếu thương mại: Là hối phiếu do người xuất khẩu ký phát đòi tiền người nhập khẩu, liên quan đến nghiệp vụ thanh toán hàng hoá xuất khẩu hoặc cung ứng dịch vụ.
+ Hối phiếu Ngân hàng: Là hối phiếu do Ngân hàng phát hành lệnh cho Ngân hàng đại lý của mình thanh toán tiền nhất định cho người thụ hưởng được chỉ định trên hối phiếu ( loại hối phiếu này không thể chuyển nhượng).

Luật sư Phan Khắc Nghiêm

Thứ Ba, 2 tháng 10, 2012

Khó như xử lý tài sản bảo đảm

Nợ xấu tăng, kinh doanh khó khăn, các ngân hàng đang gồng mình xử lý tài sản bảo đảm để thu nợ. Nhưng, nếu như xử lý động sản tương đối thuận lợi thì xử lý bất động sản “khó như bắc thang lên trời” mà nguyên nhân chủ yếu là sự chây ì người vay bên cạnh không ít lỗi từ ngân hàng.
Theo Trưởng ban Pháp chế một ngân hàng thương mại cổ phần, mặc dù Nghị định 163/2006/NĐ-Chính phủ (29/12/2006) về giao dịch bảo đảm và Nghị định số 11/2012/NĐ-Chính phủ (22/2/2012) về sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định 163, đã quy định tương đối đầy đủ những điều khoản nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự và xử lý tài sản bảo đảm, đặc biệt là trong các tranh chấp dân sự giữa ngân hàng và người vay, nhưng thực tế không diễn ra như trong luật đã quy định.

Ngân hàng ngán ngẩm chây ỳ

“Luật quy định là thế  nhưng để bán được tài sản bảo đảm, thu hồi nợ với những khách hàng chây ỳ thì khó như bắc thang lên trời!”, bà nói.  

Thực tế xử lý tài sản bảo đảm ở các ngân hàng hiện nay cho thấy, có hai dạng thường gặp, đó là: tài sản bảo đảm là động sản và tài sản bảo đảm là bất động sản. 

Với tài sản bảo đảm là động sản mà không phải đăng ký quyền sở hữu (máy móc, dây chuyền sản xuất...)  thì theo hai nghị định trên, chỉ cần căn cứ vào những thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng mà ngân hàng và người vay đã ký kết, ngân hàng được phép bán qua đấu giá, thu hồi vốn; nếu còn thừa tiền thì chuyển thẳng vào tài khoản cho khách hàng là xong. 

Nhưng, với tài sản bảo đảm là bất động sản (đất, tài sản trên đất...) thì do các tài sản này đòi hỏi phải đăng ký quyền sở hữu và liên quan đến phạm vi điều chỉnh nhiều bộ luật khác. Giả định, khách hàng không chịu ký vào hợp đồng chuyển nhượng nhà đất cho ngân hàng thì không bao giờ ngân hàng bán được để thu hồi nợ. 

Ngân hàng có thể mang ra tòa nhưng khác với tòa hình sự, hầu hết tội danh đều được quy định khung hình phạt rất rõ trong luật nên dù chưa xử, ở một chừng mực nào đó, vẫn có thể hình dung được bản án ở mức nào. Nhưng với tòa dân sự thì không như vậy, có khi một vụ việc nhưng phán quyết ở hai tòa rất khác nhau, thậm chí đối lập.  

Theo bà trưởng ban pháp chế nói trên, bên cạnh nhiều vụ tòa cứ theo luật là xử thắng cho ngân hàng nhưng không phải tất cả đều được như vậy. Trong nhiều trường hợp, để thu được nợ, ngân hàng phải... quan hệ tốt với tòa, kể cả khi ngân hàng có đủ chứng cứ hợp pháp! “Tốt” ở đây được hiểu là ngoài sự “thân mật”, còn phải trang bị kiến thức cho tòa để tòa hiểu nội tình, bởi lĩnh vực ngân hàng rất chuyên sâu mà không phải thẩm phán nào cũng am hiểu. 

Có được bản án có lợi đã khó nhưng để cơ quan thi hành án làm “ngay và luôn” cho mình là cả vấn đề lớn, bởi cơ quan này cũng rất... bận! 

Theo ông Nguyễn Văn Luyện, Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự, từ 1/10/2011 đến 31/3/2012, các cơ quan thi hành án đã thi hành xong 148.389 trên tổng số 274.231 việc có điều kiện thi hành, đạt tỷ lệ 54,11%, thấp hơn 3,94% so với cùng kỳ năm 2011.

Vì thế, ngân hàng cũng phải “sát cánh” với cơ quan này thì mới mong thu được nợ do quyền năng của cơ quan thi hành án có quyền bán đấu giá bất động sản của con nợ để thu nợ cho ngân hàng, bất chấp con nợ có ký giấy chuyển nhượng quyền sở hữu hay không.  

“Giá mà con nợ luôn có ý thức trả nợ và ý thức cùng với ngân hàng xử lý hậu quả khi mất khả năng trả nợ thì sẽ không có chuyện chây ỳ như thế”, bà trưởng ban pháp chế nói trên nói.

Tiên trách kỷ, hậu trách nhân!

Trên thực tế, việc xử lý tài sản bảo đảm ở các ngân hàng khó khăn không chỉ do ý thức chây ỳ của con nợ mà còn ở cả lỗi từ ngân hàng mà cụ thể là sự tuân thủ các quy trình tín dụng (5 bước) cũng như quy định về giao dịch bảo đảm của luật pháp chưa đúng và đủ mà vụ việc lừa đảo liên quan đến ngân hàng NVB và phòng công chứng Việt Tín là một ví dụ. 

Cụ thể, chỉ trong vòng một tháng, ngân hàng NVB đã ký 5 khế ước vay đối với một phụ nữ (chưa từng quan hệ tín dụng với ngân hàng) với tổng giá trị gần 5 tỷ đồng, tài sản đảm bảo là các sổ đỏ mang tên phụ nữ này. Sau khi người này bỏ trốn, ngân hàng mới nhờ cơ quan công an can thiệp. Trong quá trình xác minh, cơ quan công an phát hiện người phụ nữ trên đã cho các hộ dân vay một số tiền rất nhỏ so với giá trị ngôi nhà, sau đó, lừa các hộ dân làm giấy chuyển nhượng giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà đất cho mình để mang thế chấp vay ngân hàng gần 5 tỷ đồng rồi bỏ trốn. 

Tuy nhiên, khi người viết làm việc với lãnh đạo chi nhánh ngân hàng này và yêu cầu xem hồ sơ thẩm định tài sản thế chấp thì ngân hàng chỉ trưng ra hợp đồng vay vốn của người được cho là lừa đảo và vài tấm ảnh chụp sơ sài mảnh đất ngổn ngang gạch vữa. Trong bức ảnh này không có ảnh chủ nhà (được cho là bị hại), cũng không có ảnh người đứng tên hợp đồng vay vốn.  

Tham gia bảo vệ quyền lợi cho các bị hại ở vụ kiện này, luật sư  nói: “Ngân hàng này còn lâu mới đòi được số nợ này vì vụ án liên quan đến hình sự đã được cơ quan công an khởi tố nên phải chờ phán quyết của tòa hình sự”. Trong khi đó, đối tượng lừa đảo đã bỏ trốn hiện đang truy nã gần hai năm qua nhưng vẫn “bóng chim tăm cá”.

Luật sư  cũng nêu một trường hợp khác là tài sản bảo đảm là lô hàng nhưng khi ngân hàng xuống phát mại thì toàn bộ số hàng đã không còn trong kho.

Ở một ví dụ  khác, người viết từng “mục sở thị” tài sản bảo đảm để vay vốn của một doanh nghiệp thủy sản với một ngân hàng chỉ là những chiếc bàn làm việc có “tuổi thọ” không dưới 5 năm. Đến khi ngân hàng này bị sáp nhập, những cán bộ của ngân hàng sáp nhập đã rất bất bình vì không hiểu tại sao bàn làm việc lại có thể là tài sản bảo đảm!

Bởi vậy, theo ông, không ít hồ sơ kiện tụng liên quan đến tranh chấp dân sự giữa khách hàng vay vốn và ngân hàng, đã cho thấy, ngân hàng chưa hoàn toàn làm đúng quy trình nội bộ và quy định luật pháp” và đó cũng là một nguyên nhân làm cho quá trình xử lý tài sản bảo đảm trở nên chậm trễ.
(Theo VnEconomy)

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ MỐI QUAN HỆ, TÁC ĐỘNG QUA LẠI GIỮA DỰ ÁN LUẬT HỘ TỊCH VỚI BỘ LUẬT DÂN SỰ, LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TỪ GÓC ĐỘ GIỚI VÀ NHỮNG KHUYẾN NGHỊ LỒNG GHÉP GIỚI CỤ THỂ TRONG DỰ ÁN LUẬT


I. Mối quan hệ, tác động qua lại giữa Dự án Luật Hộ tịch với Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình dưới góc độ giới
Dự án Luật Hộ tịch (dự án Luật) quy định về nguyên tắc, thẩm quyền, thủ tục đăng ký hộ tịch nhằm xác nhận và ghi vào sổ hộ tịch những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết. Do đó, dự án Luật này có mối liên quan rất chặt chẽ tới Bộ luật Dân sự (BLDS), Luật Hôn nhân và gia đình (LHNGĐ), Luật Quốc tịch Việt Nam, Luật Cư trú, Luật Nuôi con nuôi…
Tờ trình của Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã nêu quan điểm chỉ đạo trong xây dựng dự án Luật là bảo đảm phù hợp với Hiến pháp và đồng bộ, thống nhất với các đạo luật có liên quan đến lĩnh vực hộ tịch (như BLDS, LHNGĐ, Luật Quốc tịch Việt Nam, Luật Cư trú, Luật Nuôi con nuôi…). Về cơ bản, tôi tán thành với cách đặt vấn đề như đã nêu trong Tờ trình. Tuy nhiên, dưới góc độ giới, tôi cũng xin đưa ra một số ý kiến về mối quan hệ, tác động qua lại giữa dự án Luật với BLDS, LHNGĐ:
1. Mối tương quan trong hệ thống pháp luật
Khi xây dựng dự án Luật, Luật Hộ tịch thường được xác định như là luật hình thức (luật thủ tục) của BLDS, LHNGĐ và các luật nội dung khác có liên quan. Thực chất Luật Hộ tịch không đơn thuần là luật quy định về thủ tục mà còn là luật có liên quan trực tiếp đến công nhận và bảo đảm thực hiện các quyền con người nói chung, quyền của cá nhân nói riêng. Do đó, để phát huy tốt nhiệm vụ, vai trò của Luật Hộ tịch, cần xem xét mối quan hệ (ở cả góc độ giới) giữa dự án Luật với BLDS, LHNGĐ và các luật nội dung khác có liên quan trên hai phương diện: Luật Hộ tịch là luật hình thức, đồng thời là luật riêng của các luật nội dung. Tiếp cận như vậy, vừa đảm bảo xác định được rõ ràng, cụ thể phạm vi điều chỉnh của các luật, sự đồng bộ, thống nhất trong các quy định về quản lý nhà nước về hộ tịch (trên phương diện luật nội dung và luật hình thức), đồng thời đảm bảo được sự đồng bộ trong một thể thống nhất về quy định quyền và cơ chế bảo đảm công nhận, thực thi quyền của cá nhân (bao gồm bình đẳng giới), khắc phục được những bất cập, hạn chế trong quy định của các luật nội dung không còn phù hợp với điều kiện thực tiễn hiện nay (trên phương diện luật chung và luật riêng).[1]
2. Mối quan hệ với BLDS và LHNGĐ dưới góc độ giới
BLDS điều chỉnh các quan hệ xã hội được thiết lập trên nguyên tắc bình đẳng giữa các bên tham gia, do đó về cơ bản các nguyên tắc trong bình đẳng giới cũng đã được ghi nhận tương đối rõ nét ở Bộ luật này. Điều 5 của BLDS quy định “trong quan hệ dân sự, các bên đều bình đẳng, không được lấy lý do khác biệt về dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp để đối xử không bình đẳng với nhau”, ngoài ra nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận, nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền dân sự, nguyên tắc thiện chí trung thực… cũng đã được ghi nhận như là các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự.
LHNGĐ với tư cách là luật riêng của BLDS cũng đã kế thừa và bảo đảm các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự trong các quan hệ hôn nhân và gia đình. Đồng thời, Luật này cũng đã ghi nhận nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng trong hôn nhân và nguyên tắc không phân biệt đối xử giữa các con, giữa con trai và con gái, con đẻ và con nuôi, con trong giá thú và con ngoài giá thú.
Về quyền nhân thân của cá nhân, hai Luật này đã ghi nhận nhiều quyền con người và quyền công dân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Trong đó có một số quyền có tính nhạy cảm giới cần được công nhận, bảo vệ hoặc tổ chức, thực hiện thông qua thủ tục đăng ký hộ tịch do cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền thực hiện (nội dung điều chỉnh của dự án Luật Hộ tịch), bao gồm:
- Quyền đối với họ tên và thay đổi họ tên (Điều 26, Điều 27 BLDS) được xác nhận thông qua thủ tục đăng ký khai sinh và thủ tục đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch;
- Quyền xác định dân tộc (Điều 28 BLDS) được xác nhận thông qua thủ tục khai sinh hoặc thủ tục đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch;
- Quyền được khai sinh (Điều 29 BLDS) được xác nhận thông qua thủ tục khai sinh;
- Quyền được khai tử (Điều 30 BLDS) được xác nhận thông qua thủ tục khai tử;
- Quyền xác định lại giới tính (Điều 36 BLDS) được xác nhận thông qua thủ tục đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch;
- Quyền kết hôn (Điều 39 BLDS, các điều 9, 10, 11, 12, 13, 14 LHNGĐ) được xác nhận thông qua thủ tục đăng ký kết hôn;
- Quyền ly hôn (Điều 42 BLDS, Điều 85 LHNGĐ) được xác nhận thông qua thủ tục đăng ký ghi vào sổ bộ hộ tịch, sổ hộ tịch cá nhân về việc ly hôn theo bản án, quyết định có hiệu lực về ly hôn của Tòa án;
- Quyền nhận, không nhận cha, mẹ, con (Điều 43 BLDS, Điều 65 LHNGĐ) được xác nhận thông qua thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con hoặc thủ tục đăng ký ghi vào sổ bộ hộ tịch, sổ hộ tịch cá nhân về việc xác định cha, mẹ, con theo bản án, quyết định có hiệu lực về ly hôn của Tòa án;
- Quyền đối với quốc tịch (Điều 45 BLDS) được xác nhận thông qua thủ tục đăng ký khai sinh;
- Quyền về giám hộ và được giám hộ (các điều 59, 63, 70, 71 BLDS, các điều 79, 80, 81, 82, 83, 84 LHNGĐ) được xác nhận thông qua thủ tục đăng ký giám hộ.
Ngoài những quyền trên, một số quyền nhân thân khác được quy định trong BLDS tuy không cần được xác nhận thông qua thủ tục đăng ký hộ tịch, nhưng lại là yêu cầu trong đăng ký hộ tịch, đòi hỏi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cũng như mọi cá nhân, tổ chức phải tôn trọng và bảo vệ, như quyền bí mật đời tư (Điều 38), quyền được bảo vệ danh dự nhân phẩm, uy tín (Điều 37), quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 47), quyền tự do đi lại, tự do cư trú (Điều 48)…
Các quy định nêu trên của BLDS và LHNGĐ về cơ bản đã đảm bảo nguyên tắc lồng ghép giới trong xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật. Trong quy định về thủ tục đăng ký hộ tịch, Dự án Luật cần tiếp tục ghi nhận thành tựu này. Đồng thời, nếu BLDS và LHNGĐ có quy định chưa thể hiện rõ vấn đề giới, thì dự án Luật cần nghiên cứu, khắc phục thông qua các quy định về thủ tục đăng ký hộ tịch.[2]
3. Tác động của một số quy định trong BLDS, LHNGĐ đến dự án Luật[3]dưới góc độ giới
* Quyền đối với họ, tên và quyền xác định dân tộc:
Theo Điều 26, Điều 27 của BLDS, cá nhân có quyền có họ, tên và thay đổi họ, tên của mình trong các trường hợp luật định. Tuy nhiên, BLDS chưa thể hiện rõ vấn đề giới trong xác định họ của cá nhân. Trong khi đó, họ, tên và quyền với họ, tên có tính nhạy cảm giới cao do ảnh hưởng của phong tục, tập quán con sinh ra thường theo họ của cha (trừ một số cộng đồng dân tộc ít người con sinh ra theo họ của mẹ).
Về quyền xác định dân tộc, Điều 28 của BLDS quy định: “cá nhân khi sinh ra được xác định dân tộc theo dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ. Trong trường hợp cha đẻ và mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì dân tộc của người con được xác định là dân tộc của cha đẻ hoặc dân tộc của mẹ đẻ theo tập quán hoặc theo thỏa thuận của cha đẻ, mẹ đẻ”. Quy định này cũng đã đảm bảo một phần yêu cầu về lồng ghép giới. Tuy nhiên, với quy định dân tộc của con có thể được xác định theo tập quán hoặc theo thỏa thuận của cha đẻ, mẹ đẻ đã không đảm bảo yêu cầu về kỹ thuật lập pháp trong lồng ghép giới, tính thống nhất trong áp dụng pháp luật và có thể làm cho bình đẳng giới trong xác định dân tộc của cá nhân trở thành hình thức.
- Tác động đến dự án Luật
Dự án Luật phải đảm bảo quyền về họ, tên và xác định dân tộc của cá nhân được đảm bảo thực hiện thông qua thủ tục đăng ký khai sinh hoặc thủ tục đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch. Đồng thời, dự án Luật cũng cần có quy định khắc phục sự khuyết thiếu về vấn đề giới trong quy định quyền đối với họ, tên và xác định dân tộc trong BLDS, LHNGĐ.
Đánh giá:
Dự án Luật đã có tính toán đến vấn đề giới trong thủ tục xác định họ, dân tộc của cá nhân, khi quy định trong khai sinh họ, dân tộc của người con có thể được xác định theo thỏa thuận của cha mẹ (Khoản 5 Điều 24 dự thảo Luật): “Khi đăng ký khai sinh, họ, dân tộc của người con được xác định theo họ, dân tộc của người cha hoặc họ, dân tộc của người mẹ theo tập quán hoặc theo thoả thuận của cha, mẹ”.
Tuy nhiên, việc quy định cơ quan đăng ký hộ tịch có thể lựa chọn tập quán hoặc thỏa thuận của cha mẹ trong xác định họ, dân tộc của người con vẫn chưa khắc phục được hạn chế của BLDS (đã phân tích ở trên), dễ dẫn tới bình đẳng giới trong xác định họ, dân tộc của cá nhân trở thành hình thức trong thực tiễn. Đề nghị dự án Luật quy định khi đăng ký khai sinh, họ, dân tộc của người con được xác định theo họ, dân tộc của người cha hoặc họ, dân tộc của người mẹ theo thoả thuận của cha mẹ, trong trường hợp không có thỏa thuận của cha mẹ thì xác định theo tập quán.
Đối với việc xác định họ, dân tộc của con ngoài giá thú, dự án Luật dường như đã có sự “thiên lệch” khi quy định họ, dân tộc của người con được xác định theo họ, dân tộc của mẹ: “Trường hợp đăng ký khai sinh cho con ngoài giá thú thì họ, dân tộc của người con được xác định theo họ, dân tộc của người mẹ. Phần ghi về người cha trong Sổ bộ hộ tịch và Sổ hộ tịch cá nhân để trống. Nếu vào thời điểm khai sinh có người nhận con, thì kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh”.
Đề nghị dự án Luật quy định, khi đăng ký khai sinh cho con ngoài giá thú thì họ, dân tộc của người con được xác định theo họ, dân tộc của người cha hoặc người mẹ đã được xác định trước. Phần ghi về người cha hoặc mẹ chưa được xác định trong Sổ bộ hộ tịch và Sổ hộ tịch cá nhân để trống. Nếu vào thời điểm khai sinh có người nhận con, thì kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh. Trong trường hợp cha, mẹ của con ngoài giá thú cùng được xác định, thì họ, dân tộc của con ngoài giá thú theo họ, dân tộc của cha hay của mẹ căn cứ theo thỏa thuận của cha, mẹ, trong trường hợp cha, mẹ không có thỏa thuận thì xác định họ, dân tộc theo tập quán.
Về thay đổi họ, dân tộc, dự án Luật chưa có quy định bảo đảm vấn đề giới trong trường hợp thay đổi họ, dân tộc của con chưa thành niên, con mất năng lực hành vi dân sự theo yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc thay đổi họ, dân tộc từ họ, dân tộc của cha sang họ, dân tộc mẹ hoặc ngược lại.
* Quyền được khai sinh: Theo quy định của Điều 29 BLDS, cá nhân sinh ra có quyền được khai sinh. Tuy nhiên, BLDS không quy định về nguyên tắc lựa chọn nơi đăng ký khai sinh. Do đó, Chính phủ đã có hướng dẫn về lựa chọn nơi đăng ký khai sinh theo nguyên tắc: “1. Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã), nơi cư trú của người mẹ thực hiện việc đăng ký khai sinh cho trẻ em; nếu không xác định được nơi cư trú của người mẹ, thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người cha thực hiện việc đăng ký khai sinh.
2. Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú của người mẹ và người cha, thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi trẻ em đang sinh sống trên thực tế thực hiện việc đăng ký khai sinh” (Điều 13 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch).
Quy định về thẩm quyền đăng ký khai sinh như vậy chưa đảm bảo được quyền bình đẳng giữa cha, mẹ về đăng ký khai sinh, cũng như sự thuận lợi cho người dân trong thực hiện quyền được khai sinh của trẻ em.
- Tác động đến dự án Luật
Dự án Luật phải đảm bảo quyền được khai sinh của cá nhân trên cả hai phương diện lồng ghép giới và sự thuận tiện cho người dân, qua đó khắc phục được sự khuyết thiếu trong lồng ghép giới về quyền được khai sinh trong BLDS và trong pháp luật hiện hành về đăng ký hộ tịch.
Đánh giá:
Dự án Luật chưa bảo đảm tốt vấn đề giới trong quy định về thẩm quyền đăng ký khai sinh, khi về cơ bản, dự án Luật tiếp tục kế thừa quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP:
“1. Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của người mẹ thực hiện đăng ký khai sinh cho trẻ em; trường hợp không xác định được nơi thường trú của người mẹ thì Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi người mẹ tạm trú thực hiện đăng ký khai sinh.
2. Trường hợp không xác định được nơi thường trú, tạm trú của người mẹ thì Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của người cha thực hiện đăng ký khai sinh cho trẻ em; trường hợp không xác định được nơi thường trú của người cha thì Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi tạm trú của người cha thực hiện đăng ký khai sinh.” (Điều 22 Dự thảo Luật).
Đề nghị dự án Luật quy định việc khai sinh cho con được thực hiện ở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của cha hay của mẹ căn cứ vào sự thỏa thuận của cha mẹ, trong trường hợp cha mẹ không có thỏa thuận thì việc khai sinh thực hiện ở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú, tạm trú của người mẹ. Để đảm bảo sự thống nhất trong quản lý về Sổ bộ hộ tịch, có thể quy định theo một trong hai phương án: (1) Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của cha hoặc mẹ đã thực hiện việc khai sinh cho con là nơi quản lý sổ bộ hộ tịch, (2) Ủy ban nhân dân nơi thường trú của mẹ là nơi quản lý sổ bộ hộ tịch. Trường hợp đăng ký khai sinh tại nơi cư trú, không phải nơi quản lý Sổ bộ hộ tịch thì sau khi đăng ký, Hộ tịch viên phải thông báo ngay bằng văn bản trong đó ghi đầy đủ những nội dung đã được đăng ký cho Hộ tịch viên, nơi quản lý Sổ bộ hộ tịch để ghi vào Sổ bộ hộ tịch và cập nhật vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử.
* Quyền kết hôn: Theo Điều 39 BLDS, nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình có quyền tự do kết hôn. Điều 12 LHNGĐ quy định “Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của một trong hai bên kết hôn là cơ quan đăng ký kết hôn”. Điều 17 Nghị định số 158/NĐ-CP quy định: “1. Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ thực hiện việc đăng ký kết hôn.
2. Trong trường hợp cả hai bên nam, nữ là công dân Việt Nam đang trong thời hạn công tác, học tập, lao động ở nước ngoài về nước đăng ký kết hôn, đã cắt hộ khẩu thường trú ở trong nước, thì việc đăng ký kết hôn được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú trước khi xuất cảnh của một trong hai bên nam, nữ”.
Như vậy, về nguyên tắc, BLDS, LHNGĐ và pháp luật hiện hành về đăng ký hộ tịch đã bảo đảm vấn đề giới giới trong quy định về thẩm quyền đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, việc quy định Ủy ban nhân dân có thẩm quyền theo nơi cư trú còn chưa phù hợp với thực tiễn Ủy ban nhân dân nơi quản lý hộ tịch gốc và Ủy ban nhân dân nơi cư trú của công dân là khác nhau. Từ đó đã không tạo thuận lợi cho người dân thực hiện quyền kết hôn.
- Tác động đến dự án Luật
Dự án Luật phải đảm bảo quyền của cá nhân về đăng ký kết hôn trên cả hai phương diện lồng ghép giới và sự thuận tiện cho người dân.
Đánh giá:
Dự án Luật đã có những quy định tốt trong định hướng cải cách về thẩm quyền và thủ tục trong đăng ký kết hôn, giải quyết được những bất cập, hạn chế trong quy định của Luật HN-GĐ, bảo đảm vấn đề giới và sự thuận tiện cho người dân. Theo Điều 25 của dự thảo Luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi quản lý Sổ Bộ hộ tịch hoặc nơi cư trú của một trong hai bên nam, nữ có thẩm quyền giải quyết việc đăng ký kết hôn. Dự thảo Luật cũng quy định về thủ tục đăng ký kết hôn tại nơi cư trú, không phải nơi quản lý Sổ bộ hộ tịch của bên nam, nữ, thì sau khi đăng ký kết hôn, Hộ tịch viên phải thông báo ngay bằng văn bản trong đó ghi đầy đủ những nội dung đã được đăng ký cho Hộ tịch viên nơi quản lý Sổ bộ hộ tịch và cập nhật vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử (khoản 5 Điều 26).
* Quyền nhận cha, mẹ, con: Theo các Điều 43 BLDS, Điều 64, 65 LHNGĐ: người không được nhận là cha, mẹ hoặc là con của người khác có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định mình là cha, mẹ hoặc là con của người đó. Con có quyền xin nhận cha, mẹ của mình ngay cả khi cha, mẹ đã chết. Con đã thành niên xin nhận cha, không đòi hỏi phải có sự đồng ý của mẹ; xin nhận mẹ, không cần có sự đồng ý của cha.
Điều 33 Nghị định số 158/NĐ-CP quy định “”Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận là cha, mẹ, con thực hiện đăng ký việc nhận cha, mẹ, con”.
Như vậy, về nguyên tắc, BLDS, LHNGĐ và pháp luật hiện hành về dăng ký hộ tịch đã bảo đảm vấn đề giới trong quy định về nhận cha, mẹ, con. Tuy nhiên, việc quy định Ủy ban nhân dân có thẩm quyền theo nơi cư trú còn chưa phù hợp với thực tiễn Ủy ban nhân dân nơi quản lý hộ tịch gốc và Ủy ban nhân dân nơi cư trú của công dân là khác nhau. Từ đó, không tạo thuận lợi cho người dân thực hiện quyền nhận cha, mẹ, con. Mặt khác, pháp luật hiện hành về đăng ký hộ tịch cũng chưa có quy định về xác định cơ quan có thẩm quyền về nhận cha, mẹ, con trong trường hợp cả cha, mẹ cùng nhận con và họ có nơi cư trú khác nhau.
- Tác động đến dự án Luật
Dự án Luật phải đảm bảo quyền của cá nhân về đăng ký nhận cha, mẹ, con trên cả hai phương diện lồng ghép giới và sự thuận tiện cho người dân.
Đánh giá:
Dự án Luật đã bảo đảm sự thuận tiện cho người dân khi quy định: Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi quản lý Sổ bộ hộ tịch của người con hoặc nơi cư trú của người nhận hoặc được nhận là cha, mẹ, con có thẩm quyền đăng ký nhận cha, mẹ, con. Trường hợp đăng ký nhận cha, mẹ, con tại nơi cư trú, không phải nơi quản lý Sổ bộ hộ tịch thì sau khi đăng ký, Hộ tịch viên phải thông báo ngay bằng văn bản, trong đó ghi đầy đủ những nội dung đã được đăng ký cho Hộ tịch viên, nơi quản lý Sổ bộ hộ tịch để ghi vào Sổ bộ hộ tịch và cập nhật vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử.
Tuy nhiên, dự án Luật chưa quy định về xác định cơ quan có thẩm quyền về đăng ký nhận con trong trường hợp cả cha, mẹ cùng nhận con và họ có nơi cư trú khác nhau. Trong trường này cần thiết phải quy định về nguyên tắc lựa chọn nơi có thẩm quyền đăng ký nhận con theo nơi cư trú của cha hay của mẹ.
* Quyền về giám hộ và được giám hộ
Theo quy định của BLDS, cha, mẹ, con, anh, chị, em, ông bà nội, ông bà ngoại, cháu nội, cháu ngoại là những người thuộc diện giám hộ đương nhiên của nhau. Ngoài ra, việc giám hộ có thể được hiện thông qua giám hộ cử. Theo LHNGĐ, các thành viên gia đình khi thực hiện việc giám hộ có thể thỏa thuận cử một người trong số họ có đủ điều kiện làm người giám hộ để làm người giám hộ cho thành viên gia đình cần được giám hộ.
Ngoài ra, theo BLDS, việc giám hộ phải được giám sát. Người giám sát do những người thân thích của người được giám hộ cử ra, trong trường hợp không có người thân thích hoặc những người thân thích không cử được người giám sát việc giám hộ thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người giám hộ sẽ cử người giám sát.
- Tác động đến dự án Luật
Dự án Luật phải bảo đảm lồng ghép giới trong các quy định về thủ tục đăng ký giám hộ và thủ tục giám sát việc giám hộ.
Đánh giá:
Dự thảo Luật đã có những quy định tốt trong định hướng cải cách về thẩm quyền và thủ tục đăng ký giám hộ, giải quyết được những bất cập, hạn chế trong quy định của LHNGĐ và BLDS. Quy định về thẩm quyền đăng ký giám hộ trong Dự thảo Luật (Điều 27, khoản 4 Điều 28, Điều 49) phù hợp với thực tiễn hơn, đảm bảo lồng ghép giới, tạo thuận lợi cho người dân hơn so với quy định hiện hành (Điều 63 BLDS, Điều 102 LHNGĐ).
Tuy nhiên, để đảm bảo lồng ghép giới, dự án Luật cần bổ sung quy định về thỏa thuận của người tự nguyện làm người giám hộ (nếu có) trong giám hộ cử (Điều 28 và Điều 50). Về giám sát giám hộ, dự án Luật chưa có quy định về thủ tục cử người giám sát theo thỏa thuận của những người thân thích của người được giám hộ hoặc của Ủy ban nhân dân nơi cư trú của người giám hộ.
II. Những khuyến nghị cụ thể về lồng ghép giới trong dự án Luật
- Thứ nhất, về mối tương quan trong hệ thống pháp luật, khi xây dựng dự án Luật cần tiếp cận mối quan hệ giữa Luật Hộ tịch với BLDS, LHNGĐ và các luật nội dung có liên quan khác trên hai phương diện: Luật Hộ tịch là luật hình thức (luật thủ tục), đồng thời cũng là luật riêng của các luật nội dung;
- Thứ hai, dự án Luật cần quy định về việc xác nhận họ, dân tộc của cá nhân theo các nguyên tắc sau:
1. Khi đăng ký khai sinh, họ, dân tộc của người con được xác định theo họ, dân tộc của người cha hay họ, dân tộc của người mẹ căn cứ vào thoả thuận của cha mẹ, trong trường hợp không có thỏa thuận của cha mẹ mới xác định họ, dân tộc theo tập quán.
2. Trường hợp đăng ký khai sinh cho con ngoài giá thú thì họ, dân tộc của người con được xác định theo họ, dân tộc của người cha hoặc người mẹ đã được xác định trước. Phần ghi về người cha hoặc mẹ chưa được xác định trong Sổ bộ hộ tịch và Sổ hộ tịch cá nhân để trống. Nếu vào thời điểm khai sinh có người nhận con, thì kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh.
3. Về thay đổi họ, dân tộc, dự án Luật cần quy định về thỏa thuận của cha, mẹ trong trường hợp thay đổi họ, dân tộc của con chưa thành niên, con mất năng lực hành vi dân sự theo yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc thay đổi họ, dân tộc từ họ, dân tộc của cha sang họ, dân tộc mẹ hoặc ngược lại.
- Thứ ba, về khai sinh, Dự án Luật cần quy định việc khai sinh cho con thực hiện ở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của cha hay của mẹ căn cứ vào sự thỏa thuận của cha mẹ, trong trường hợp cha mẹ không có thỏa thuận thì việc khai sinh thực hiện ở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú, tạm trú của người mẹ.
Để đảm bảo sự thống nhất trong quản lý về Sổ bộ hộ tịch, có thể quy định theo một trong hai phương án: (1) Ủy ban nhân dân nơi thường trú của cha hoặc mẹ đã thực hiện việc khai sinh cho con là nơi quản lý sổ bộ hộ tịch, (2) Ủy ban nhân dân nơi thường trú của mẹ là nơi quản lý sổ bộ hộ tịch. Trường hợp đăng ký khai sinh tại nơi cư trú, không phải nơi quản lý Sổ bộ hộ tịch thì sau khi đăng ký, Hộ tịch viên phải thông báo ngay bằng văn bản trong đó ghi đầy đủ những nội dung đã được đăng ký cho Hộ tịch viên, nơi quản lý Sổ bộ hộ tịch để ghi vào Sổ bộ hộ tịch và cập nhật vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử.
- Thứ tư, bổ sung quy định về xác định cơ quan có thẩm quyền về đăng ký nhận con trong trường hợp cả cha, mẹ cùng nhận con và họ có nơi cư trú khác nhau.
- Thứ năm, quy định về việc thỏa thuận của người tự nguyện làm người giám hộ (nếu có); thủ tục cử người giám sát theo thỏa thuận của những người thân thích của người được giám hộ hoặc của Ủy ban nhân dân nơi cư trú của người giám hộ.

[1] Xem thêm: Nguyễn Hồng Hải “Mối quan hệ giữa Luật Hộ tịch với Luật Hôn nhân và gia đình và tác động của các chế định hôn nhân và gia đình đến dự án Luật Hộ tịch”. Tòa đàm chuyên gia về lồng ghép vấn đề giới trong dự án Luật Hộ tịch, Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội. Hà Nội, ngày 7/9/2012.
[2] Có ý kiến cho rằng, trên phương diện luật hình thức và luật nội dung, những bất cập, hạn chế về lồng ghép giới trong các luật nội dung thì phải được sửa đổi, bổ sung các luật nội dung đó, không thể thực hiện trong xây dựng Luật Hộ tịch.
[3] Dự thảo Luật Hộ tịch được Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Nguồn: HỘI THẢO ĐẠI BIỂU DÂN CỬ VỚI VIỆC LỒNG GHÉP VẤN ĐỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG DỰ ÁN LUẬT VIỆC LÀM, LUẬT HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ, LUẬT HỘ TỊCH. Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội và UN WOMEN IN VIETNAM đồng tổ chức. TPHCM. 30/9/2012 – 01/10/2012.