Hiển thị các bài đăng có nhãn luật sư tư vấn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn luật sư tư vấn. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 9 tháng 6, 2013

DI HỌA ĐỐI VỚI QUYỀN THẾ CHẤP NHÀ ĐẤT

Với chế độ sở hữu toàn dân về đất đai trong Hiến pháp, từ chỗ pháp luật cấm tiệt việc mua bán, chuyển nhượng và thế chấp đất đai, đến khi cho phép từng phần và mở rộng gần như hết cỡ, đã để lại những di chứng và tai họa đối với các quyền về đất đai, trong đó có quyền thế chấp nhà đất.
Không được thế chấp
Điều 14, Hiến pháp năm 1959 quy định “Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền sở hữu về ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác của nông dân.” Trong khi bản Hiến pháp này vẫn còn nguyên hiệu lực, nhưng quyền sở hữu tư nhân về đất đai thì đã bị hủy bỏ hoàn toàn bằng quy định tại điểm d, khoản 2, Mục III “Quyền và trách nhiệm của người sử dụng đất”, Quyết định số 201-HĐCP/QĐ ngày 01-7-1980 của Hội đồng Chính phủ về việc Thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước: “Không được phát canh thu tô, cho thuê, cầm cố hoặc bán nhượng đất dưới bất cứ hình thức nào”. Có thể coi Quyết định này chính là “Luật” đất đai đầu tiên của nước CHXHCN Việt Nam, xóa bỏ Luật Cải cách ruộng đất năm 1953 của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Nửa năm sau khi có Quyết định 201-HĐCP/QĐ nói trên, Điều 19, Hiến pháp năm 1980 chính thức chốt lại quy định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Để bảo vệ quy định này, Luật Đất đai năm 1987 quy định nghiêm cấm việc mua, bán đất đai (Điều 5). Do đã cấm mua bán, thì cũng phải cấm luôn việc thế chấp, vì nếu không thì lập tức thiên hạ sẽ tha hồ mua bán đất đai hợp pháp thông qua hình thức thế chấp. Nhưng dòng chảy cuộc sống đã lách qua luật khá đơn giản. Người ta không bán, không thế chấp đất, mà chỉ bán hoặc thế chấp một vài cây mít, bụi tre hay túp lều, cái chuồng trâu,… nhưng “khuyến mại” theo mênh mông ruộng đất.
Lách qua Hiến pháp
Hiến pháp năm 1992 vẫn bảo lưu chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. Tuy nhiên, do không thể cưỡng lại quy luật của cuộc sống và phát triển, nên mỗi năm pháp luật lại uốn mở một chút. Bản Hiến pháp này không hề có câu chữ nào cho phép việc mua bán, chuyển nhượng, thế chấp đất đai, nhưng căn cứ vào đó, Luật Đất đai năm 1993 lại diễn giải hoàn toàn khác với Luật Đất đai năm 1987. Đó là quy định mới “Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất.” (Điều 3).
Đến Luật sửa đổi năm 1998 thì lại bổ sung quyền của hộ gia đình, cá nhân và tổ chức kinh tế được Nhà nước cho thuê đất mà đã trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê hoặc đã trả trước tiền thuê đất cho nhiều năm, nếu thời hạn thuê đất đã được trả tiền còn lại ít nhất là 5 năm, thì có quyền thế chấp, chuyển nhượng, cho thuê lại và góp vốn bằng quyền sử dụng đất (Điều 78a và 78d). Và tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất lại được bổ sung quyền chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng (Điều 78c).
clip_image003Luật sửa đổi năm 2001 lại mở rộng hơn nữa bằng quy định “Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có quyền thế chấp giá trị quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai, thì được thế chấp hoặc bảo lãnh bằng giá trị quyền sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất đó tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam.” (Điều 78g).
Cái tài tình của Luật Đất đai là ở chỗ, cho phép người ta mua bán, thế chấp đất, tức là định đoạt tài sản không thuộc sở hữu của mình, bằng cách chuyển đổi từ ngữ lách qua Hiến pháp.
Di chứng của chuyển đổi
Tuy nhiên, do việc ảnh hưởng nặng nề của tư duy cấm đoán mua bán, thế chấp đất đai từ Hiến pháp năm 1980 và Luật Đất đai năm 1987, cho nên Luật Đất đai năm 1993 vẫn còn di chứng như: Hộ gia đình, cá nhân chỉ được thế chấp đất nông nghiệp tại các tổ chức tín dụng “để vay vốn sản xuất.” (Điều 77) và không cho tổ chức kinh tế quyền này. Đến Luật Đất đai năm 2003 thì mới cho phép tổ chức kinh tế được thế chấp đất, nhưng lại còn di chứng: Chỉ được thế chấp đất tại tổ chức tín dụng và chỉ “để vay vốn” (Điều 110), tức là không được để bảo đảm nghĩa vụ cho các hợp đồng mua bán, đầu tư, xây dựng,…
Đáng tiếc là di chứng cấm đoán vẫn còn dấu ấn tại Luật Đất đai năm 2003 hiện hành, với quy định: Hộ gia đình và cá nhân chỉ được thế chấp đất tại tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân “để vay vốn sản xuất, kinh doanh” (Điều 113), tức là không được thế chấp ngay cả đất ở để phục vụ đời sống (như học tập, xây nhà ở hay trị bệnh cứu người) như đã được quy định trước đó tại Luật Đất đai năm 1987 và Bộ luật Dân sự năm 1995. Tất nhiên, nếu thế chấp nhà ở hoặc các tài sản khác kèm theo đất thì lại không bị hạn chế này.
Cũng tương tự như “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” (xuất hiện từ Quyết định số 201-HĐCP/QĐ), quyền sử dụng đất từ năm 1980 đến nay vẫn được giữ nguyên trong các Hiến pháp và Luật Đất đai, nhưng bản chất của nó thì đã khác nhau một trời một vực: Từ chỗ là khái niệm hẹp, thì nay đã được mở ra hết mọi quyền năng của chủ sở hữu mà cuộc sống cần đến. Về cơ bản, Luật Đất đai năm 2003 hay năm 2013 sắp tới cũng không khác nhiều so với quy định từ năm 2001, vì thế, mới có kế hoạch ban hành Luật Đất đai mới trước khi thông qua Hiến pháp.[1]
Tai họa thế chấp nhà đất
Những di chứng nói trên dẫn đến tai họa là, trong nhiều trường hợp, mặc dù đất đai được phép chuyển nhượng (thực chất là mua bán, định đoạt) hợp pháp, nhưng nếu thế chấp mà không phải cho các tổ chức tín dụng hoặc không nhằm mục đích “vay vốn sản xuất, kinh doanh” thì sẽ bị coi là trái luật, vô hiệu. Và thủ tục pháp lý công chứng, đăng ký bắt buộc để mua bán, thế chấp đòi hỏi gấp đôi cần thiết.
Trong quá trình lột xác khái niệm “quyền sử dụng”, các đạo Luật Đất đai cũng thường nhầm lẫn gắn luôn việc thế chấp nhà ở cùng với đất đai tại các tổ chức tín dụng. Do đó[2], di chứng này cũng đã bị “lây nhiễm” sang Điều 114 “Điều kiện thế chấp nhà ở”, Luật Nhà ở năm 2005 với quy định: “Chủ sở hữu nhà ở được thế chấp nhà ở để bảo đảm thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ nếu giá trị của nhà ở đó lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ nhưng chỉ được thế chấp tại một tổ chức tín dụng.” Giải thích về quy định này, một lãnh đạo Vụ Pháp chế Bộ Xây dựng cho rằng: “cần hiểu là chỉ có tổ chức tín dụng mới được nhận thế chấp nhà ở, riêng cá nhân thì không được nhận thế chấp nhà ở. Còn việc Bộ luật Dân sự không cấm cá nhân nhận thế chấp nhà ở, Luật Đất đai không cấm cá nhân nhận thế chấp quyền sử dụng đất thì để các cơ quan giải thích hai luật trên lý giải” (“Thế chấp nhà: Nên hiểu có lợi cho dân”, Báo Pháp luật TP HCM ngày 03-4-2013). Phát ngôn này cũng na ná cách lập luận dẫn đến việc cấm cá nhân cho thuê nhà ở của Bộ Xây dựng như sau: Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006 quy định việc cho thuê nhà ở là hoạt động kinh doanh bất động sản. Mà cá nhân thì không được phép kinh doanh bất động sản, vì phải thành lập doanh nghiệp hoặc hợp tác xã, với mức vốn pháp định 6 tỷ đồng. Xét riêng việc quy định chỉ được thế chấp nhà ở tại một tổ chức tín dụng đã là một điều ngớ ngẩn, nay lại còn được giải thích theo hướng cấm thế thấp ở chỗ khác nữa thì khác nào cấm chủ sở hữu mua bán, thế chấp tài sản đang thuộc sở hữu của họ như Quyết định số 201-HĐCP/QĐ trước đây.[3] Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, từ chỗ bị nghiêm cấm “phát canh thu tô, cho thuê, cầm cố hoặc bán nhượng đất dưới bất cứ hình thức nào, đến nay gần như đã được tha hồ mua bán, thế chấp. Vậy mà nhà ở thuộc sở hữu tư nhân, lại bị hiểu là không được thế chấp cho cá nhân, tổ chức ngoài tổ chức tín dụng. Đây đúng là một tai họa pháp lý ít nhiều có nguyên do từ chế độ sở hữu đất đai.
Người đời đã từng đúc kết rằng, thời hạn để sửa chữa một quy định sai lầm ít nhất phải bằng với thời hạn đã thực hiện nó. Vậy chúng ta sẽ mất bao lâu nữa để sửa chữa điều này?
Nguồn: Thời báo kinh tế Sài Gòn

Thứ Hai, 18 tháng 3, 2013

Chống chuyển giá và khả năng thực thi pháp luật của cơ quan thuế

Thời gian gần đây, dư luận đề cập nhiều đến việc một số công ty có vốn đầu tư nước ngoài bị nghi ngờ thực hiện hành vi chuyển giá để trốn thuế (điển hình là Công ty Coca-Cola Việt Nam). Nhiều ý kiến bức xúc khi các doanh nghiệp này kinh doanh nhiều năm ở Việt Nam, liên tục kê khai lỗ nhưng lại mở rộng kinh doanh, tăng doanh thu. Có doanh nghiệp có lỗ cộng dồn lớn hơn số vốn đầu tư ban đầu. Nguyên nhân của tình trạng này là do thiếu cơ sở pháp lý, do Luật Đầu tư sơ hở, hay do giao dịch của doanh nghiệp quá đặc thù làm cơ quan thuế bất lực?... Chúng tôi xin bàn đến góc độ khả năng thực thi pháp luật của cơ quan thuế.
1. Cơ sở pháp lý
Có thể liệt kê các văn bản pháp luật hiện hành điều chỉnh vấn đề liên quan đến chuyển giá như Luật Quản lý thuế 2006 (sửa đổi, bổ sung 2012); Luật Giá 2012; Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2008; Thông tư 66/2012/TT-BTC (Thông tư 66 - hướng dẫn thực hiện việc xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết), trong đó đặc biệt là Thông tư 66 điều chỉnh chi tiết và trực tiếp nhất.
Mục đích của Thông tư 66 là hướng dẫn thực hiện các quy định về việc xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết làm căn cứ kê khai xác định nghĩa vụ thuế thu nhập của cơ sở kinh doanh. Thuật ngữ “giá thị trường” được giải thích là “để chỉ giá sản phẩm theo thỏa thuận khách quan trong giao dịch kinh doanh trên thị trường giữa các bên không có mối quan hệ liên kết (các bên độc lập)”. Như vậy, các doanh nghiệp có mối liên hệ liên kết khi giao dịch với nhau phải thực hiện theo giá thị trường như với các bên độc lập (arm’s length principle).
Thông tư 66 đã quy định chi tiết thế nào là các bên liên kết (tỷ lệ nắm giữ vốn đầu tư của chủ sở hữu, tỷ lệ vốn vay của bên liên kết…). Thông tư 66 cũng hướng dẫn cách xác định giá thị trường trong giao dịch liên kết. Theo đó, có 5 phương pháp xác định giá thị trường: 1) Phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập; 2) Phương pháp giá bán lại; 3) Phương pháp giá vốn cộng lãi; 4) Phương pháp so sánh lợi nhuận; 5) Phương pháp tách lợi nhuận. Tùy theo đặc thù của từng giao dịch mà lựa chọn phương pháp xác định giá thị trường phù hợp nhất. Trong đó Phương pháp 1 dựa vào đơn giá sản phẩm trong giao dịch độc lập để xác định đơn giá sản phẩm trong giao dịch liên kết khi các giao dịch này có điều kiện giao dịch tương đương nhau. Trong trường hợp không xác định được giá giao dịch độc lập (do là giao dịch đặc thù hoặc duy nhất) thì có thể áp dụng các phương pháp còn lại trên cơ sở xác định tỷ suất lợi nhuận gộp hoặc tỷ suất sinh lợi.
Khi khai báo thuế, doanh nghiệp có giao dịch liên kết có nghĩa vụ kê khai vào một mẫu ban hành kèm theo Thông tư 66 gồm thông tin về giao dịch liên kết và phương pháp xác định giá đối với các giao dịch liên kết đó. Doanh nghiệp có giao dịch liên kết có nghĩa vụ và trách nhiệm lưu giữ các thông tin, tài liệu và chứng từ làm căn cứ áp dụng phương pháp xác định giá thị trường đối với sản phẩm trong các giao dịch liên kết và xuất trình đầy đủ các dữ liệu, tài liệu, chứng từ cần thiết chứng minh cho việc lựa chọn và áp dụng phương pháp xác định giá phù hợp nhất đối với giao dịch liên kết.
Nếu doanh nghiệp dựa vào các tài liệu, dữ liệu, chứng từ không hợp pháp, không hợp lệ hoặc không nêu rõ nguồn gốc xuất xứ để xác định mức giá, tỷ suất lợi nhuận gộp hoặc các tỷ suất sinh lời áp dụng cho giao dịch liên kết hoặc không áp dụng hoặc cố tình áp dụng không đúng các quy định tại Thông tư 66 và doanh nghiệp không chứng minh được trong thời hạn tối đa là 90 ngày kể từ khi nhận được thông báo của cơ quan thuế thì tùy theo mức độ tuân thủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ của doanh nghiệp mà cơ quan thuế có quyền căn cứ vào cơ sở dữ liệu của mình ấn định mức giá được sử dụng để kê khai tính thuế, ấn định thu nhập chịu thuế hoặc số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết.
2. “Chuyển giá” là gì ?
Thuật ngữ “chuyển giá” là để ám chỉ việc doanh nghiệp dàn xếp các giao dịch với bên có mối quan hệ liên kết theo mức giá không như mức giá đối với bên độc lập (nói đơn giản là mua với giá cao và bán với giá thấp) hoặc các khoản chi trả dịch vụ bất hợp lý hoặc không cần thiết nhằm mục đích chuyển lợi nhuận về quốc gia có mức thuế suất có lợi nhất cho tập đoàn đó. Hành vi “chuyển giá” vì vậy thường được thực hiện bởi các tập đoàn đa quốc gia có các công ty con hoặc cơ sở kinh doanh thường trú ở nhiều quốc gia khác nhau. “Chuyển giá” ảnh hưởng trực tiếp đến việc thu thuế của các quốc gia có liên quan.
Để chống chuyển giá, các quốc gia phát triển đã tích lũy nhiều kinh nghiệm và xây dựng các quy định pháp luật về nguyên tắc xác định giá thị trường; xác định mối quan hệ liên kết; nguyên tắc ấn định chi phí, tỷ suất lợi nhuận, ấn định mức thuế.... Mặc dù vẫn tồn tại một số hạn chế, nhưng có thể nói, Thông tư 66 đã thừa kế khá đầy đủ những kinh nghiệm chống chuyển giá của các quốc gia phát triển.
3. Khả năng thực thi chống “chuyển giá” của cơ quan thuế
Theo Thông tư 66, cơ quan thuế phải xem xét bảng kê khai giao dịch liên kết của doanh nghiệp và các tài liệu chứng từ chứng minh (bao gồm hợp đồng, chứng từ, hóa đơn...). Nếu doanh nghiệp có giao dịch liên kết khai báo lỗ, đặc biệt là lỗ kéo dài nhưng vẫn mở rộng quy mô kinh doanh, doanh thu tăng nhưng vẫn lỗ thì là những đối tượng cần phải thanh tra các giao dịch liên kết. Doanh nghiệp có nghĩa vụ phải chứng minh các giao dịch liên kết có thực sự cần thiết, kế đến là giá giao dịch có theo các nguyên tắc xác định giá thị trường. Nếu cơ quan thuế không thống nhất thì có quyền: bác bỏ giao dịch đó (không chấp nhận khoản khấu trừ thu nhập chịu thuế), hoặc ấn định phương pháp xác định giá khác với phương pháp xác định giá của doanh nghiệp để kê khai tính thuế, ấn định thu nhập chịu thuế hoặc số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp. Để làm được điều này, cơ quan thuế phải dựa vào cơ sở dữ liệu của cơ quan thuế là các thông tin, dữ liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế của các doanh nghiệp do cơ quan thuế thu thập, phân tích, lưu giữ, cập nhật và quản lý từ các nguồn khác nhau.
Thực tế hiện nay, để thực hiện được các nội dung trên không đơn giản, cơ quan thuế vướng phải những khó khăn sau:
Cơ sở dữ liệu
Những nguồn cơ sở dữ liệu có sẵn mà cơ quan thuế có thể thu thập được như: thông tin, dữ liệu do các cơ quan, ban, ngành của Nhà nước, các viện nghiên cứu, các hiệp hội và các tổ chức chuyên ngành được Nhà nước công nhận và chịu trách nhiệm công bố công khai hoặc cung cấp theo yêu cầu; báo cáo tài chính, báo cáo đầu tư thường niên hoặc định kỳ của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán được công bố công khai theo các quy định và điều lệ hoạt động của thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, những nguồn này không thể bao gồm hết các thông tin của các doanh nghiệp có giao dịch có tính chất và bối cảnh giao dịch tương đồng. Một nguồn thông tin, dữ liệu khá đầy đủ và toàn diện là nguồn thông tin, dữ liệu do các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ hành nghề độc lập được cấp phép hoạt động xác nhận hoặc công bố công khai (ví dụ: cơ quan kiểm toán độc lập, cơ quan đăng ký, đăng kiểm chất lượng, tổ chức phân loại, đánh giá uy tín các doanh nghiệp). Hiện nay, nguồn dữ liệu loại này được các công ty cung cấp dịch vụ kiểm toán, thuế sử dụng và được chấp nhận bởi cơ quan thuế ở các nước. Tuy nhiên, đến nay, cơ quan thuế Việt Nam chưa mua một nguồn cơ sở dữ liệu nào. Lý do được đưa ra là giá một cơ sở dữ liệu khá đắt. Vấn đề đặt ra là cơ quan thuế khó mà có cơ sở để bác các kê khai thuế của doanh nghiệp nếu không có nguồn cơ sở dữ liệu này để phân tích so sánh giao dịch độc lập có tính chất và điều kiện tương đồng. Với những nguy cơ thất thu thuế do doanh nghiệp thực hiện chuyển giá như hiện nay thì việc phải mua nguồn cơ sở dữ liệu này là việc không thể không làm.
Năng lực cán bộ thuế
Một khó khăn mang tính chủ quan là năng lực của cán bộ thuế. Kể cả khi cơ quan thuế đã mua nguồn cơ sở dữ liệu nói trên thì việc sử dụng được nguồn dữ liệu đó cũng là một thách thức bởi vấn đề ngoại ngữ, khả năng phân tích tìm ra cơ sở để xác định giá giao dịch độc lập tương đồng hoặc tỷ suất lợi nhuận gộp, tỷ suất sinh lợi tương đồng (bench-marking). Hiện nay, ngoài Tổng cục Thuế có tổ chuyên trách quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá thì các Cục thuế địa phương không có một bộ phận chuyên trách về chuyển giá, mà chủ yếu là cán bộ thuế phụ trách thuế thu nhập doanh nghiệp kiêm nhiệm. Bản thân các cán bộ thuế này cũng không được đào tạo bài bản về chuyến giá. Do đó vấn đề cấp bách hiện nay, ngoài việc phải mua nguồn cơ sở dữ liệu, cần phải đào tạo chuyên sâu về chống chuyển giá cho cán bộ thuế từ trung ương đến địa phương và họ chỉ phụ trách chuyên về chuyển giá. Cũng cần nói thêm là tại các công ty cung cấp dịch vụ kiểm toán và thuế lớn đều có bộ phận phụ trách chuyên về chuyển giá.
Trở lại nghi án Coca-cola Việt Nam
Thông tin báo chí đăng tải trong thời gian qua về nghi án Coca-cola chuyển giá có hai luồng ý kiến: thứ nhất quy cho các giao dịch với bên liên kết của Coca-cola Việt Nam là giao dịch đặc thù, duy nhất, khó xác định giá giao dịch tương đồng (bao gồm cả ý kiến của cơ quan thuế Việt Nam); thứ hai (chủ yếu là lý giải của Coca-cola Việt Nam) đó là giá nguyên liệu mua của công ty mẹ cao, những chi phí lớn mà Coca-cola phải đầu tư...
Phân tích và áp dụng các quy định của Thông tư 66 thì các lý do trên không phải là vấn đề lớn. Một là, Thông tư 66 cho phép áp dụng 5 phương pháp xác định giá thị trường đối với giao dịch với bên liên kết. Tùy theo đặc thù của giao dịch mà lựa chọn phương pháp áp dụng phù hợp nhất. Nếu trong trường hợp Coca-cola thực hiện giao dịch đặc thù, duy nhất và khó xác định được giá giao dịch độc lập theo phương pháp 1, thì có thể áp dụng phương pháp xác định tỷ suất lợi nhuận và đây là thẩm quyền của cơ quan thuế có quyền điều chỉnh và ấn định phương pháp xác định giá thị trường phù phợp. Hai là, việc Coca-cola Việt Nam kê khai những chi phí khác thì cơ quan thuế cũng hoàn toàn có thể xác định tính cần thiết hay có hợp lý hay không để khấu trừ.
Vấn đề ở đây - như đã nêu trên - là cơ quan thuế Việt Nam thiếu cơ sở dữ liệu để bác bỏ kê khai của doanh nghiệp và năng lực của cán bộ thuế. Việc hiểu biết hạn chế và thiếu cơ sở dữ liệu dẫn đến việc cơ quan thuế không thể mạnh tay với doanh nghiệp, bởi nếu không khéo thì có thể bị doanh nghiệp kiện ngược ra tòa hành chính. Hiện nay, bản thân các thẩm phán cũng khó có thể nói là am tường về chuyển giá thì việc xét xử những vụ kiện như thế là một thách thức đối với họ.
Kế hoạch hành động của cơ quan thuế
Ngành thuế Việt Nam đang thực hiện chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020, trong đó tập trung vào nâng cao năng lực thực thi thuế quốc tế (trong đó có vấn đề quản lý thuế đối với chuyển giá). Cụ thể[1]:
Trong chương trình hành động kiểm soát hoạt động chuyển giá giai đoạn 2012-2015 của Bộ Tài chính, sẽ thành lập tổ chuyên trách quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá tại một số Cục thuế quản lý nhiều doanh nghiệp liên kết như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh v.v.. Bên cạnh đó, Tổng cục Thuế đã tiếp nhận nhiều sự hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế (JICA, ADB, EU, IFC, WB...) cho việc đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ thuế về giá chuyển nhượng.
Từ năm 2012, ngành thuế đã đặt thanh tra giá chuyển nhượng là nhiệm vụ trọng tâm của ngành. Thực tế đã thanh tra, kiểm tra 1.495 doanh nghiệp lỗ có dấu hiệu chuyển giá, đã điều chỉnh giá dẫn đến nhiều doanh nghiệp từ lỗ đã có lãi, truy thu và phạt 622,8 tỷ, giảm lỗ 3.306,6 tỷ. Sắp tới ngành thuế sẽ tăng cường rà soát, đánh giá rủi ro và thanh tra giá chuyển nhượng, đảm bảo tỷ lệ 20% cuộc thanh tra giá chuyển nhượng tính trên tổng số cuộc thanh tra được thực hiện.
Đối với hệ thống cơ sở dữ liệu, ngành thuế đang tiến hành tin học hóa các thông tin về đăng ký thuế, báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, bản cân đối kế toán, tình hình thực hiện kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp và có kế hoạch mua thêm nguồn cơ sở dữ liệu.
Hy vọng với những nỗ lực trên, ngành thuế Việt Nam có thể nâng cao được khả năng thực thi chống chuyển giá - hiện đang là vấn đề bức xúc không chỉ đối với Nhà nước mà cả đối với người dân Việt Nam./.


[1] Theo thông tin của Tổng cục Thuế về thực trạng công tác quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá tại Việt Nam tại hội thảo “Quản  lý hoạt động chuyển giá - kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam” tại Hà Nội, tháng 12/2012 .

Nguồn: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Thứ Năm, 14 tháng 3, 2013

Dự thảo Luật Đất đai năm 2013 với các quy định về thu hồi đất


Dự thảo Luật Đất đai 2013 ngày 31/8/2012(LĐĐ 2013) đã được Ban soạn thảo trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội[1]. LĐĐ 2013 có 14 Chương, 190 Điều, so với Luật Đất đai năm 2003 (LĐĐ 2003) tăng hơn 7 Chương, 44 Điều (LĐĐ 2003 có 7 Chương, 146 Điều); trong đó, các nội dung liên quan đến việc Nhà nước thu hồi đất đã có sự thay đổi đáng kể. Bài viết này tập trung phân tích, so sánh cácđiều luật có liên quan của hai đạo luật nói trên; trên cơ sở đó sẽ kiến nghị các vấn đề: thu hồi đất, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất và khiếu nại, giải quyết khiếu nại, nhằm góp phần vào việc hoàn thiện xây dựng Luật Đất đai.

1. Quy định Nhà nước thu hồi đất trong Dự thảo Luật Đất đai 2013
1.1. Về khái niệm thu hồi đất
Khoản 11 Điều 4 Dự thảo LĐĐ 2013 quy định: “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước ban hành quyết định để thu lại đất của người đang sử dụng, người được giao quản lý”. Chúng ta có thể thấy một số đặc trưng pháp lý qua việc giải thích khái niệm này như sau:
Thứ nhất, hình thức văn bản do Nhà nước ban hành để thể hiện ý chí thu hồi đất là quyết định. Tuy nhiên, pháp luật đã không làm rõ cụ thể là bằng quyết định nào.
Thứ hai, việc Nhà nước ban hành quyết định là nhằm mục đích thu hồi lại đất, không phải là thu hồi quyền sử dụng đất.
Thứ ba, đối tượng bị thu hồi là đất của người đang sử dụng và của người được giao quản lý.Điều này chỉ phù hợp khi thu lại đất của người được giao quản lý (theo pháp luật quy định thường là Uỷ ban nhân dân (UBND) cấp xã và Tổ chức Phát triển quỹ đất được giao đất để quản lý, thực hiện theo những yêu cầu của Nhà nước); còn đối với người sử dụng đất (NSDĐ)thì họ chỉ được trao quyền sử dụng đất, còn đất đai thì vẫn thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện.
Như vậy, theo cách phân tích này thì khái niệm thu hồi đất được quy định tại Khoản 5 Điều 4 LĐĐ 2003 tỏ ra phù hợp hơn: “Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, UBND xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này”, khi ghi rõ hình thức văn bản của Nhà nước ban hành là quyết định hành chính, việc thu hồi quyền sử dụng đất hay là thu hồi đất đã được phân định đối với từng đối tượng là người sử dụng đất hay được Nhà nước giao quản lý đất đai.
1.2. Thẩm quyền thu hồi đất
Cho dù cách diễn đạt có khác nhau, là “quyền định đoạt” trong LĐĐ 2003  hay là “quyền đại diện của chủ sở hữu” như cách gọi của LĐĐ 2013, thì việc “quyết định thu hồi đất” đều được xác định là quyền năng của Nhà nước với tư cách là người được nhân dân ủy quyền đại diện chủ sở hữu. Đồng thời, LĐĐ 2013 cũng khẳng định, cơ quan nhà nước thực hiện đại diện chủ sở hữu về đất đai bao gồm: Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân (HĐND), UBND các cấp với thẩm quyền theo địa giới hành chính (Điều 7 LĐĐ 2003, Điều 21 LĐĐ 2013); trong đó trách nhiệm quản lý nhà nước về đất đai thuộc về Chính phủ, UBND các cấp, hay nói cách khác đó làthẩm quyền tập thể.
Nhưng thẩm quyền thu hồi đất được quy định trong LĐĐ 2013 chưa được làm rõ là thẩm quyền tập thể hay thẩm quyền của cá nhân được trao quyền. Khoản 1 Điều 54 quy định, UBND cấp có thẩm quyền ra quyết định thu hồi đất trong trường hợp: tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng và những người có đất bị thu hồi đã thoả thuận bằng văn bản thống nhất về phương án bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất hoặc khu đất thu hồi không phải giải phóng mặt bằng. Tuy nhiên, tại Điều 58 lại quy định, Chủ tịch UBND cấp tỉnh, Chủ tịch UBND cấp huyện là hai chủ thể có quyền quyết định thu hồi đất tùy thuộc vào đối tượng NSDĐ là ai.
Tương tự như vậy, Khoản 1 Điều 57 quy định, người có đất bị thu hồi nếu không chấp hành quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải được hiểu là UBND cấp có thẩm quyền) thì bị Chủ tịch UBND cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất ra quyết định cưỡng chế. Cũng tại Khoản 2 của Điều luật này quy định một trong những điều kiện cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế là có quyết định cưỡng chế của UBND cấp có thẩm quyền theo quy định của pháp luật đã có hiệu lực thi hành.
Nếu theo các cách diễn đạt như trên thì khó mà biết được UBND hay Chủ tịch UBND có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế.
Sự bất cập còn được tìm thấy trong quy định về: thẩm định, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại Điều 42, Điều 43. Theo đó, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất an ninh. Chủ tịch UBND cấp tỉnh phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện. Trong khi đó Điều 46 lại quy định, Chính phủ tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, UBND cấp tỉnh tổ chức, thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương, hay nói cách khác,tập thể của cơ quan hành chính nhà nước lại chấp hành, triển khai, tổ chức thực hiện ý chí của cá nhân được trao quyền trong chính cơ quan đó. Nội dung này thực sự chưa phù hợp với nguyên tắc chấp hành và điều hành trong pháp luật hành chính. Tuy nhiên, trong phần thuyết minh, theo giải thích của Ban soạn thảo LĐĐ 2013 là: (i) Sửa đổi trên cơ sở Điều 44 Luật Đất đai năm 2003 và luật hóa quy định của Chính phủ (Nghị định 181, Nghị định 84, Nghị định 69); (ii) Bổ sung thẩm quyền của UBND cấp huyện quyết định thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn để sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp; (iii) UBND cấp tỉnh quyết định thu hồi đất đối với trường hợp khu đất thu hồi có cả người bị thu hồi đất thuộc cấp tỉnh, cấp huyện quản lý để cải cách thủ tục hành chính trong thu hồi đất[2].
Với cách đặt vấn đề như vậy, theo chúng tôi, là chưa xác định được chủ thể có thẩm quyền thu hồi đất là UBND hay Chủ tịch UBND, mặc dù cũng theo giải thích của Ban soạn thảo là việc thay đổi thẩm quyền sang Chủ tịch UBND là nhằm mục đích cải cách thủ tục hành chính[3].
Điều 17 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Đất đai,… thuộc sở hữu toàn dân”. Để cụ thể hóa nội dung trên, Khoản 1 LĐĐ 2003 quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu”. Như vậy, từ quyền của người chủ sở hữu đất đai là “toàn dân”, đã chuyển sang Nhà nước với tư cách là người đại diện chủ sở hữu. Vì QSDĐ cơ bản đã được Nhà nước trao cho NSDĐ bằng các hình thức: giao đất, cho thuê hoặc công nhận quyền sử dụng đất; do vậy, để thực hiện quyền năng của chủ sở hữu, Nhà nước biểu lộ ý chí định đoạt của mình bằng các hình thức đã được quy định tại Khoản 2 Điều 5 LĐĐ 2003, trong đó, thu hồi đất là một trong những quyền cơ bản đó. Tiếp tục cụ thể hóa vai trò của đại diện chủ sở hữu, Khoản 4 Điều 7 LĐĐ 2003 quy định: “UBND các cấp thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai và quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương theo thẩm quyền quy định tại Luật này.”. LĐĐ 2013 hầu như giữ lại các quy định trên, dù rằng có thay đổi vị trí trong từng Điều luật.
Như vậy, quyền sở hữu về đất đai đã lần lượt đi qua theo các chủ thể:
Toàn dân    -       Nhà nước      -    UBND các cấp.
Đất đai là tài sản, là tư liệu sản xuất đặc biệt không có gì thay thế được. Với tầm quan trọng như vậy, nên pháp luật đã quy định thẩm quyền định đoạt là tập thể UBND, chứ không phải thẩm quyền cá nhân Chủ tịch UBND. Chủ tịch UBND ký quyết định thu hồi đất với tư cách thay mặt UBND, khác với tư cách cá nhân của chính mình để định đoạt QSDĐ - quyền tài sản của hộ gia đình, cá nhân, tổ chức. Thiết nghĩ, nội dung này cần được xem xét, quy định lại.
1.3. Về các trường hợp thu hồi đất
Nếu như tại Điều 38 LĐĐ 2003 quy định có tất cả 12 trường hợp Nhà nước tiến hành thu hồi đất; còn đối với trường hợp thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế được quy định riêng trong Điều 40, thì trong Điều 50 LĐĐ 2013 đã chia ra 3 nhóm trường hợp Nhà nước thu hồi đất, sau đó quy định chi tiết theo từng nhóm trường hợp đó, bao gồm:
(i) Thu hồi đất để sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế - xã hội.
(ii) Thu hồi đất do vi phạm pháp luật đất đai.
(iii) Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật hoặc tự nguyện.
Sự phân chia theo 3 nhóm trường hợp như trên là phù hợp, rõ ràng và khoa học. Các trường hợp thu hồi đất được xây dựng trên cơ sở kế thừa, sửa đổi, bổ sung LĐĐ 2003, hoặc là luật hóa các quy định được Chính phủ ban hành, thể hiện trong các Nghị định 181, Nghị định 84của Chính phủ.  
1.3.1. Thu hồi đất để sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế - xã hội.
Thu hồi đất để sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh
Nội dung này được quy định tại Khoản 1 Điều 51 LĐĐ 2013, đó là sự kế thừa Khoản 1 Điều 38 và Điều 89 LĐĐ 2003, bằng cách liệt kê 10 trường hợp Nhà nước thu hồi đất. Tuy nhiên, về quyền của NSDĐ được tiếp tục sử dụng đến khi có quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và có nghĩa vụ không được làm biến dạng địa hình tự nhiên, nhằm đảm bảo thực hiện một trong những nguyên tắc của việc sử dụng đất là tiết kiệm, có hiệu quả thì chưa được quy định lại. Thiết nghĩ, nội dung này cần được tiếp thu, bổ sung trong quá trình sửa đổi.
Thu hồi đất để sử dụng đất vào mục đích lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng
Nếu như nội dung này trước đây chưa quy định chi tiết trong LĐĐ 2003, mà hầu như chỉ được quy định rải rác trong các Nghị định của Chính phủ, thì trong LĐĐ 2013 đã được thể hiện tại Khoản 2 Điều 51. Theo đó, có một số trường hợp thu hồi đất được bổ sung như sau:
Thứ nhất, xây dựng, mở rộng các công trình kết cấu hạ tầng: giao thông, điện lực, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, các công trình thu gom, xử lý chất thải, thông tin liên lạc, hệ thống dẫn, kho chứa xăng dầu, khí đốt và các công trình khác, bao gồm phần diện tích đất xây dựng công trình và vùng phụ cận;
Thứ hai, xây dựng các công trình sự nghiệp thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, y tế, giáo dục, đào tạo, thể dục thể thao, khoa học công nghệ, ngoại giao và các công trình sự nghiệp khác theo quy định của Chính phủ; chợ, công viên cây xanh được đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước;
Thứ ba, để mở rộng các công trình có giá trị văn hoá, lịch sử được Nhà nước công nhận nằm trong khu đô thị và khu dân cư nông thôn.
Thu hồi đất để sử dụng đất vào mục đích phát triển kinh tế - xã hội
Nội dung này được quy định tại Khoản 3 Điều 51 LĐĐ 2013 với những bổ sung, thay đổi về thu hồi đất nhằm các mục đích như sau:
Thứ nhất, để thực hiện các dự án đầu tư thăm dò, khai thác khoáng sản theo quy định của Chính phủ.
Thứ hai, để thực hiện các dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA),thay vì như quy định trước đây là sử dụng đất để thực hiện các dự án đầu tư  nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA). Điều đó có nghĩa là, về kết cấu vốn ODA trong dự án đã được tăng lên, từ chiếm tỷ lệ thấp đến cao, đã được thay đổi theo hướng phải chiếm tỷ lệ 100% vốn.
 Thứ ba, để thực hiện dự án đầu tư có 100% vốn đầu tư nước ngoài, tuy nhiên, pháp luật không quy định các điều kiện cần thiết; trong khi đó theo quy định hiện hành thì chỉ thực hiệndự án trên trong trường hợp không thể đầu tư tại khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế[4], hay nói cách khác, nội dung thu hồi đất được mở rộng hơn.
Thứ tư, để xây dựng khu đô thị mới, chỉnh trang đô thị hiện có; chỉnh trang và phát triển khu dân cư nông thôn; thực hiện dự án nhà ở xã hội, nhà ở tái định cư, nhà ở cho sinh viên, nhà ở cho người có thu nhập thấp mà không đề cập đến quy mô, thẩm quyền phê duyệt dự án; trong khi đó pháp luật hiện hành quy định, Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế quan trọng, hoặc để thực hiện các dự án khu dân cư (bao gồm dự án hạ tầng khu dân cư và dự án nhà ở), trung tâm thương mại, khách sạn cao cấp trong các trường hợp sau đây:Dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư; Dự án quan trọng do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư[5].
Thứ năm, trong trường hợp thu hồi đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng để chuyển sang mục đích khác thì còn cần phải có văn bản chấp thuận cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của Thủ tướng Chính phủ, không phân biệt quy mô diện tích phải thu hồi đất, nhằm thực hiện việc bảo đảm an toàn lương thực trong bối cảnh diện tích đất lúa nước ở nước ta ngày càng bị thu hẹp và hàng loạt biến đổi khí hậu, ảnh hưởng môi trường sống do việc chuyển diện tích rừng sang sử dụng vào mục đích khác tràn lan. Thiết nghĩ, quy định chặt chẽ nêu trên là phù hợp.
Thứ sáu, sau khi Nhà nước thu hồi đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt và giao cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng bao gồm: Tổ chức phát triển quỹ đất, các doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp có đủ điều kiện hoạt động theo quy định của Thủ tướng Chính phủ để thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để giao đất, cho thuê đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng hoặc đấu giá để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội.
Việc đa dạng hóa các loại hình tổ chức thực hiện nhiệm vụ trên là phù hợp.   

1.3.2. Thu hồi đất do vi phạm pháp luật đất đai

Thu hồi đất do vi phạm pháp luật đất đai được quy định tại Điều 52 LĐĐ 2013, là sự kế thừa, bổ sung, sửa đổi các Khoản: 3, 4, 5, 6, 9, 11, 12 Điều 38 LĐĐ 2003 và Điều 132 Nghị định 181/2004/NĐ-CP với một số nội dung sau:
Thứ nhất, quy định: sử dụng đất không có hiệu quả” đã không được đưa vào trường hợp Nhà nước thu hồi đất. Điều này là phù hợp, bởi lẽ việc sử dụng đất không hiệu quả phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan. Hơn nữa, mặc dù pháp luật hiện hành có quy định thu hồi đất trong trường hợp này, nhưng không đưa ra các tiêu chí định lượng nào để xác định hành vi vi phạm, dễ dẫn đến việc lạm quyền, hoặc áp dụng pháp luật không chính xác, xâm phạm đến quyền tài sản của NSDĐ.
Thứ hai, ngoài trường hợp đất được giao không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền, LĐĐ 2013 còn quy định: (i) Đất cho thuê không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền, nhưng chưa quy định rõ chủ thể cho thuê, cũng như người được thuê quyền sử dụng đất là ai; và (ii) Đất không được chuyển nhượng, tặng cho theo quy định pháp luật mà cố ý nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho.
Pháp luật hiện hành và trong LĐĐ 2013 đều quy định, việc cho thuê, chuyển nhượng, tặng cho đều phải được thể hiện ý chí của các bên bằng hợp đồng dân sự, được công chứng hoặc chứng thực. Nếu nội dung của hợp đồng vi phạm những điều cấm của pháp luật, thì lẽ đương nhiên người có trách nhiệm phải từ chối chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng. Bên cạnh đó, cho dù hợp đồng dân sự đó được công chứng, chứng thực trái pháp luật thì sau khi cơ quan quản lý tài nguyên và môi trường hoặc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất khi  kiểm tra hồ sơ do các bên cung cấp nhằm đăng ký biến động, sẽ phát hiện và đương nhiên không thể đáp ứng yêu cầu của các bên trong việc thực hiện quyền của mình. Đó là chưa tính đến trường hợp, một bên hoặc các bên trong hợp đồng chuyển quyền có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền tuyên hợp đồng họ đã ký kết là vô hiệu, và các bên phải hoàn trả quyền và nghĩa vụ. Thiết nghĩ, trường hợp này khó có thể xảy ra trong thực tế; do vậy, việc quy định nêu trên sẽ không có tính khả thi trong thực tiễn áp dụng pháp luật.
Thứ ba, ngoài điều kiện NSDĐ cố ý không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước như được quy định trong pháp luật hiện hành, LĐĐ 2013 còn quy định yếu tố: đã bị xử phạt mà cố ý không chấp hành. Vấn đề đặt ra là, nếu như NSDĐ không chấp hành nhưng do không cố ý thì sao; không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính hay không chấp hành quyết định buộc phải thực hiện nghĩa vụ hay là không chấp hành cả hai? Nội dung này cần được làm rõ trong những lần sửa đổi, bổ sung tiếp theo của LĐĐ 2013.
1.3.3. Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật hoặc tự nguyện
Nội dung này được quy định chi tiết tại Điều 53 LĐĐ 2013 trên cơ sở kế thừa, sửa đổi, bổ sung các Khoản 2, 7, 8, 10 của LĐĐ 2003 và luật hóa một số nội dung của Điều 132 Nghị định 181/2004/NĐ-CP với một số điểm sau:
Thứ nhất, bổ sung trường hợp thu hồi đất do người sử dụng đất thuê của Nhà nước mà trả tiền thuê đất hàng năm bán tài sản gắn liền với đất thuê.
Thứ hai, quy định cụ thể về các căn cứ pháp lý để Nhà nước thu hồi đất trong trường hợp chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật hoặc theo tự nguyện.
Ngoài các trường hợp trên, LĐĐ 2013 đã quy định thêm quyền của Nhà nước, đó là quyềnđược ưu tiên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và mua tài sản gắn liền với đất trong trường hợp người sử dụng đất chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản trên đất, bán tài sản gắn liền với đất. Đây chính là quyền “tiên mãi” theo quy định pháp luật đất đai của một số nước trên thế giới. Tuy nhiên, nếu không quy định cụ thể, trong trường hợp nào Nhà nước mới được phép thực hiện quyền này, thì dễ dẫn đến hệ quả đây cũng là dạng thức tương đương với thu hồi đất, có bồi thường theo giá thỏa thuận. Điều này dễ thấy trong trường hợp, người có nhu cầu chuyển cư, cần chuyển quyền sử dụng đất và tài sản trên đất để đi nơi khác, nếu Nhà nước can thiệp, sử dụng đến quyền này thì cho dù phải chuyển nhượng thấp hơn giá thỏa thuận, họ cũng không có sự lựa chọn khác vì cần vốn để  chuyển cư.
Nhìn chung, LĐĐ 2013, tuy có vài điểm tiến bộ, nhưng chúng ta có thể thấy rằng, hầu như Nhà nước vẫn có thể thu hồi đất bất luận trong trường hợp nào, sử dụng cho mục đích gì. Sự thiếu vắng quy định: “Đối với dự án sản xuất, kinh doanh phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt thì nhà đầu tư được nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân mà không phải thực hiện thủ tục thu hồi đất” như Khoản 2 Điều 40 của LĐĐ 2003, mà theo ý kiến của đa số Thường trực Ủy ban Kinh tế cho rằng, “Nhà nước chủ động thu hồi đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố, tổ chức việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để tạo quỹ đất sạch; sau đó, Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng hoặc tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất để thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội”[6] liệu có khả thi, và có tính đến những thiệt hại cho sản xuất, tạo sản phẩm cho xã hội bị giảm sút, rủi ro trong đầu tư, các khoản bồi thường thiệt hại cho người bị thu hồi đất, những đảm bảo về an sinh xã hội,… so với mục tiêu đạt được. Những vấn đề nêu trên cần lượng hóa cụ thể trước khi quyết định, đó là chưa tính đến sức chịu đựng trong việc “đầu tư công” nêu trên trong bối cảnh nền kinh tế  nước ta đang trải qua những khó khăn trong giai đoạn hiện nay.
2. Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trong Dự thảo Luật Đất đai 2013
2.1. Khái niệm bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Khoản 12 Điều 4 LĐĐ 2013 quy định: “Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả cho người có đất bị thu hồi những thiệt hại về quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất do việc thu hồi đất gây ra”. Chúng ta có thể thấy một số đặc trưng như sau:
Thứ nhất, khác với quy định tại Khoản 6 Điều 4 của LĐĐ 2003, khái niệm về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất đã được mở rộng hơn, không chỉ là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất, mà chính là việc Nhà nước trả lại những thiệt hại do việc thu hồi đất gây ra.
Thứ hai, khi nói đến thiệt hại, người ta thường xét đến các khía cạnh như: thiệt hại về vật chất, thiệt hại về tinh thần cũng được quy về dưới dạng vật chất để xác định bồi thường trong một số trường hợp cụ thể[7]. Khi Nhà nước thu hồi đất, thiệt hại được xác định đó là giá trị quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản gắn liền với đất và những thiệt hại khác gắn liền với cộng đồng dân cư mà họ đang sinh sống như: những giá trị văn hóa vật thể cũng như văn hóa phi vật thể được gìn giữ, bảo tồn qua nhiều thế hệ mà họ đang được hưởng thụ, các cơ sở hạ tầng về xã hội, y tế, giáo dục,… gắn kết với truyền thống, không gian, các quan hệ láng giềng, dòng tộc mà họ đang sống.
Thứ ba, theo truyền thống và văn hoá gia đình của nước ta, đại bộ phận nông dân hiện nay vẫn xem đất đai, trong đó có đất nông nghiệp là tài sản cơ bản của gia đình họ; đồng thời việc kế thừa tài sản về đất đai từ cha mẹ cho con cái là việc không th thiếu được của các gia đình nông dân[8]. Bên cạnh đó, kỳ vọng của NSDĐ nông nghiệp chủ yếu là khai thác hoa lợi từ cây trồng trên đất, chứ không phải đưa đất ra thị trường bất động sản; do vậy, nếu xét theo cách giải thích khái niệm bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất như LĐĐ 2013 thì việc bồi thường thiệt hại phải được tiếp cận từ khía cạnh nguồn thu nhập của họ bị mất trong nhiều năm, hay nói cách khác, cần lượng hóa thu nhập trong khoảng thời gian nhất định để làm cơ sở tính toán trong việc bồi thường.
Nhìn chung, khái niệm bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trong LĐĐ 2013 như trên đã thể hiện quan điểm tiến bộ trong việc xác định tổng thể những thiệt hại của người có đất bị thu hồi đất. Tuy nhiên, việc xây dựng các quy định chi tiết đã không đáp ứng đầy đủ những định hướng chung, hay nói cách khác, khái niệm tuy có thay đổi, tuy nhiên phần nội hàm của nó vẫn chưa có gì đổi mới so với pháp luật hiện hành.  
Thứ tư, khác với khái niệm hỗ trợ trong pháp luật hiện hành được giải thích là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới; Khoản 13 Điều 4 LĐĐ 2013 quy định chung hơn: hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc trợ giúp cho người có đất bị thu hồi, còn việc trợ giúp bao gồm những nội dung gì thì pháp luật chưa liệt kê đến. Trong thời gian qua, thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy rằng, việc Nhà nước giúp đỡ bằng cách đào tạo nghề mới, cấp kinh phí di dời đến địa điểm mới là điều có thể thực hiện được; tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường thì ý chí của Nhà nước trong việc bố trí việc làm mới chưa trở thành hiện thực hoàn toàn được, mà phụ thuộc vào ý chí của nhà đầu tư, theo yêu cầu về số lượng, chất lượng lao động phù hợp với quy mô và công nghệ sản xuất của họ. Ngay cả trong Điều 55 của Hiến pháp 1992 cũng chỉ quy định có tính nguyên tắc, Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động; do vậy việc quy định về hỗ trợ nêu trên là phù hợp.
2.2. Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
Các quy định về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp được quy định tại các Điều 68, Điều 69, Điều 70 LĐĐ 2013 trên cơ sở kế thừa, bổ sung và luật hóa một số quy định của Nghị định 197/2004/NĐ-CP, Nghị định 69/2009/NĐ-CP với một số nội dung ghi nhận như sau:
Thứ nhất, theo quy định nêu trên của LĐĐ 2013, khi Nhà nước thu hồi đất nếu NSDĐ có đủđiều kiện theo quy định pháp luật thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng với loại đất bị thu hồi; nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền; giá đất tính tiền bồi thường thực hiện tại thời điểm quyết định thu hồi đất theo giá đất do UBND cấp tỉnh ban hành. Đối với đất nông nghiệp, người có đất bị thu hồi sẽ được bồi thường phụ thuộc vào hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất; diện tích đất đang sử dụng phải có nguồn gốc do thừa kế, tự khai hoang theo quy hoạch được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; đối tượng sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân hay là tổ chức kinh tế nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp hợp pháp.
Như vậy, so với pháp luật hiện hành thì việc trả cho người có đất bị thu hồi những thiệt hạivề quyền sử dụng đấtthay cho trả lại giá trị quyền sử dụng đất bị thu hồi” chỉ khác nhau về mặt câu chữ trong cách giải thích thuật ngữ pháp lý, còn cách thể hiện trong chính sách bồi thường vẫn chưa có gì khác biệt.
Thứ hai, khắc phục việc ảnh hưởng do xây dựng công trình, đã được đề cập tại Điều 75 LĐĐ 2013, với quy định, người sử dụng đất hợp pháp bị hạn chế khả năng sử dụng đất, thiệt hại tài sản gắn liền với đất do Nhà nước đầu tư xây dựng các công trình công cộng thì được bồi thường thiệt hại theo quy định của Chính phủ. Đây là quy định mới, mang tính dự báo, phù hợp với thực tế đã diễn ra khi xây dựng, khai thác các công trình xây dựng dân dụng cao tầng, hoặc với quy mô ảnh hưởng tương đối lớn đối với các công trình thủy lợi, thủy điện[9]. Thiệt hại này bao gồm thiệt hại giá trị quyền sử dụng đất, thiệt hại về tài sản trên đất và các thiệt hại khác. Ngoài ra, nếu quy định hạn hẹp trong phạm vi các công trình công cộng do Nhà nước đầu tư xây dựng mới được bồi thường thiệt hại, thì sẽ chưa phù hợp, bởi lẽ các thành phần kinh tế khác đều tham gia đầu tư và không chỉ xây dựng công trình công cộng, mà còn bao gồm các loại hình công trình được sử dụng với các mục đích khác nhau. Thiết nghĩ, nội dung này nên quy định lại như sau cho phù hợp với những gì diễn ra trong thực tế: “Người sử dụng đất hợp pháp mà đất đang sử dụng bị hạn chế khả năng sử dụng đất, thiệt hại giá trị quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và những thiệt hại khác do Chủ đầu tư xây dựng các công trình thì được bồi thường thiệt hại theo quy định của Chính phủ”.
Thứ ba, những trường hợp Nhà nước thu hồi đất mà người bị thu hồi đất không được bồi thường về tài sản gắn liền với đất được đề cập tại Điều 77 LĐĐ 2013. Đây là quy định được xây dựng trên cơ sở Khoản 2 Điều 43 LĐĐ 2003 và luật hóa Khoản 2 Nghị định 197/2004/NĐ-CP trước đây, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 3 Điều 24 Nghị định 69/2009/NĐ-CP; trong đó có nội dung: Khi Nhà nước thu hồi đất, người bị thu hồi đất không được bồi thường về tài sản gắn liền với đất trong các trường hợp sau: Nhà, công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và công trình xây dựng khác không còn sử dụng… . Đây là quy định dẫn đến hai cách hiểu:
Tại thời điểm thu hồi đất, công trình xuống cấp, thực tế không còn sử dụng được nữa thì không bồi thường (cách hiểu thứ nhất); hoặc:
- Khu vực đất bị thu hồi dẫn đến công trình không còn sử dụng được nữa theo công năng thiết kế ban đầu; ví dụ như kênh mương nội đồng phục vụ sản xuất nông nghiệp, nay khu vực đó bị Nhà nước thu hồi đất, để xây dựng các hạng mục có liên quan của công trình thủy lợi, thủy điện nên công trình “kênh mương nội đồng” đó đương nhiên không sử dụng được nữa (cách hiểu thứ hai).
Trong thực tế, người có thẩm quyền thường áp dụng theo cách bất lợi cho người bị thu hồi đất (theo cách hiểu thứ hai)[10], làm thiệt hại đến quyền lợi của NSDĐ. Thiết nghĩ, nên bỏ nội dung này và quy định lại trên cơ sở kế thừa, luật hóa Khoản 2 Điều 7 của QĐ 34/2010/QĐ-TTg: “Công trình được xây dựng bằng vốn của tập thể hay do nhân dân đóng góp thì được bồi thường thiệt hại” là phù hợp, không phân biệt khả năng, công năng sử dụng.
Thứ tư, về khái niệm giá quyền sử dụng đất (giá đất), giá trị quyền sử dụng đất được quy định tại Khoản 19, Khoản 20 Điều 4 LĐĐ 2013 là sự kế thừa của Khoản 23, Khoản 24 LĐĐ 2003. Nếu như trong Điều 56 LĐĐ 2003 đưa ra ba nguyên tắc định giá đất, thì trong LĐĐ 2013 chỉ giữ lại nguyên tắc: Các thửa đất liền kề nhau, có điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, kết cấu hạ tầng như nhau, có cùng mục đích sử dụng hiện tại, cùng mục đích sử dụng theo quy hoạch thì mức giá như nhau; còn nguyên tắc xử lý giá đất giáp ranh giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã bị bãi bỏ, đưa vào Điều 98 là phù hợp, vì khó triển khai trong thực tế nếu giao nhiệm vụ này cho các địa phương.
Vấn đề đặt ra là, nguyên tắc định giá đất phải “sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường; khi có chênh lệch lớn so với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường thì phải điều chỉnh cho phù hợp” được thay bằng nguyên tắc: “Phù hợp với giá thị trường” được hiểu như thế nào. Về mặt ngữ nghĩa thì “sát” là gần, liền ngay cạnh như không còn cách nhau; còn “phù hợp” là trùng khớp, tương ứng với nhau[11]. Nếu theo cách diễn đạt trên thì “giá đất” phù hợp với giá thị trường có vẻ như chính xác hơn; còn theo cách diễn giải của Ban soạn thảo đưa ra thì lại theo hướng khác: việc sửa đổi nhằm bao hàm hết các trường hợp không có chuyển nhượng trên thị trường để định giá theo phương pháp so sánh trực tiếp mà định giá theo các phương pháp thị trường khác, đồng thời quy định như trên sẽ thuận lợi hơn trong thực tế triển khai công tác định giá đất[12]Tuy nhiên, thị trường luôn thay đổi theo quan hệ cung - cầu và các yếu tố khác; do vậy, để có cơ sở đánh giá, chúng ta phải chờ các phương pháp định giá đất, trong đó có phương pháp định giá đất nông nghiệp do Chính phủ quy định và thực tế xây dựng các bảng giá đất của các địa phương.
Thứ năm, trên cơ sở các nguyên tắc định giá đất và phương pháp định giá đất, UBND cấp tỉnh xây dựng bảng giá đất tại địa phương trình HĐND cùng cấp cho ý kiến trước khi ban hành. Tuy nhiên, việc công bố giá đất không theo hàng năm như LĐĐ 2003, mà chỉ trong trường hợp giá đất trên thị trường có sự thay đổi lớn thì UBND cấp tỉnh mới điều chỉnh bảng giá đất cho phù hợp; việc điều chỉnh bảng giá đất thực hiện theo quy định của Chính phủ.
Việc quy định nêu trên là phù hợp, vừa giảm chi phí hành chính trong việc xác định giá đất hàng năm, vừa khắc phục được tình trạng người có đất bị thu hồi, mặc dù giá bồi thường đã phù hợp, nhưng cố chần chừ kéo dài đến năm sau, do tâm lý bị ảnh hưởng hy vọng là giá năm sau sẽ cao hơn giá năm trước, làm chậm trễ việc thực hiện dự án.
3. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong Dự thảo Luật Đất đai 2013
Về quyền khiếu nại của NSDĐ và trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai được quy định tại Điều 182 LĐĐ 2013, với nội dung như Khoản 2 Điều 264 Luật Tố tụng hành chính năm 2010 là thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Tuy nhiên, theo Điều 79 LĐĐ 2013 Về xử lý các khiếu nại, tố cáo về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, pháp luật lại giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn nội dung này. Xét quy định này trong mối liên hệ với các quy định khác trong LĐĐ 2013, cần đặt ra một số vấn đề sau:
Thứ nhấtTheo Điều 79, liên quan đến khiếu nại về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, có ba cơ quan độc lập trong việc xác định giá đất: (1) Đơn vị tư vấn giá đất độc lập do người có đất bị thu hồi mời; (2) Hội đồng tư vấn về giá đất do cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thành lập; hoặc (3) Đơn vị được cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại yêu cầu trưng cầu thẩm định giá đất. Tất nhiên, kết quả xác định giá đất do các bên đưa ra sẽ chưa thống nhất được là điều dự báo cần đặt ra trong quá trình Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng quy trình giải quyết khiếu nại theo thẩm quyền được ủy quyền lập quy. Song, để giải quyết nội dung này đảm bảo tính khách quan là điều không phải dễ thực hiện khi xung đột lợi ích xảy ra trong việc xác định cơ chế đánh giá, lựa chọn một trong ba kết quả của các cơ quan nói trên.
Thứ hai, Điều 22 LĐĐ 2013 quy định bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là một trong những nội dung quản lý về đất đai. Nếu suy diễn theo logic này thì phải tiếp tục xây dựng một số Điều luật và ủy quyền cho Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp tục hướng dẫn giải quyết khiếu nại trong các lĩnh vực: giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất; đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở vàtài sản khác gắn liền với đấtthanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai;... Tuy nhiên, các nội dung này chưa thấy quy định trong LĐĐ 2013.
Thứ ba, xét dưới góc độ đảm bảo tính hệ thống các điều luật trong LĐĐ 2013 thì quy định của Điều 79 là chưa phù hợp với Điều 182, bởi lẽ nguyên tắc cơ bản của việc giải quyết khiếu nại trên lĩnh vực đất đai là: trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, không có cơ chế giải quyết riêng đối với từng lĩnh vực quản lý, trong đó có bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
Thứ tư, để đảm bảo sự phù hợp giữa các quy định pháp luật như đã nêu trên, theo chúng tôi, có các giải pháp để lựa chọn như sau:
(i) Bãi bỏ Điều 79 để khỏi xung đột với nội dung Điều 182. Nếu bãi bỏ điều luật này thì không ảnh hưởng gì đến kết cấu, nội dung của toàn bộ LĐĐ 2013. Tuy nhiên, theo thống kê qua nhiều năm thì khiếu nại về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư chiếm tỷ trọng lớn trong các đơn khiếu nại nói chung, cũng như trên lĩnh vực đất đai nói riêng. Do vậy vấn đề đặt ra là phải có quy định đặc thù, nhằm tạo điều kiện cho cả người khiếu nại và người giải quyết khiếu nại trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
(ii) Bãi bỏ Điều 182. Điều này không thể thực hiện được, vì theo thông lệ trong việc xây dựng pháp luật, những quy định về khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật hầu như được đưa vào phần cuối của văn bản. Suy cho cùng, các nội dung này được đưa ra nhằm đảm bảo quyền lực của Nhà nước trong việc buộc các đối tượng có liên quan khi tham gia quan hệ pháp luật phải tuân thủ, chấp hành; song điều này cũng thể hiện nghĩa vụ của Nhà nước trong việc giải quyết quyền khiếu nại của tổ chức, cá nhân khi họ cho là quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm.
(iii) Sửa đổi Điều 182 theo hướng: trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại và quy định của Luật này. Điều này sẽ đảm bảo cho cả Điều 79 và Điều 182 cùng tồn tại và không có gì là mâu thuẫn với nhau. Chúng tôi đồng tình với cách giải quyết này, bởi lẽ thực tế khách quan yêu cầu phải có quy định đặc thù giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, nhất là việc xây dựng công trình thủy lợi, thủy điện.
(iv) Điều 22 quy định có đến 15 nhóm lĩnh vực quản lý về đất đai; tuy nhiên, không phải nhóm lĩnh vực nào cũng cần thiết phải quy định chi tiết về quy trình giải quyết khiếu nại đặc thù; vì có một số nội dung ít có khả năng phát sinh việc khiếu nại của NSDĐ. Theo chúng tôi, chỉ nên quy định thêm ba nhóm lĩnh vực cần giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn cụ thể quy trình giải quyết khiếu nại; đó là: 
- Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất;
Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai./.



[1] Đề nghị xem tại địa chỉ: http://www.duthaoonline.quochoi.vn.
[2] Ban Soạn thảo Luật Đất đai 2013, Bảng Tổng hợp so sánh Luật Đất đai hiện hành, Dự thảo sửa đổi Luật Đất đai và lý do sửa đổi, truy cập tại địa chỉ: http://www.duthaoonline.quochoi.vn.
[3] Ban Soạn thảo Luật Đất đai 2013, Tài liệu đã dẫn, truy cập tại địa chỉ: http://www.duthaoonline.quochoi.vn.
 [4] Khoản 2 Điều 36 NĐ 181; Điều 90, Điều 91, Điều 92 Luật Đất đai năm 2003.
[5] Điều 34 Nghị định 84/2007/NĐ-CP.
[6] Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, Báo cáo Thẩm tra sơ bộ Luật Đất đai (sửa đổi), truy cập tại địa chỉ: http://www.duthaoonline.quochoi.vn.
[7] Điều 45, Điều 46, Điều 47 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009.
[8] Đỗ Kim Chung (2000), Thị trường đất đai trong nước ở Việt Nam: Thực trạng và các định hướng chính sách, Nghiên cứu kinh tế số 01(260), tr. 30.
[9] Lê Ngọc Thạnh (2011), Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư các dự án thủy lợi, thủy điện theo Quyết định 34 của Thủ tướng Chính phủ, Nghiên cứu Lập pháp số 14(199), tháng 7, tr. 56 - 57.
[10] TS. Lê Đức Thịnh (2008), Các giải pháp nhằm hạn chế tranh chấp phát sinh khi thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, Kỷ yếu Hội thảo: “Tình trạng tranh chấp và khiếu nại đất đai kéo dài: Thực trạng và các giải pháp” do Trung tâm Thông tin, Thư viện và nghiên cứu khoa học Văn phòng Quốc hội tổ chức tại Buôn Ma Thuột từ ngày 08 - 09/10/2008.
[11] Nguyễn Như Ý (Chủ biên) (1999), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Văn hóa Thông tin, tr. 1431, tr. 1345.
[12] Ban Soạn thảo Luật Đất đai 2013, Tài liệu đã dẫn, truy cập tại địa chỉ: http://www.duthaoonline.quochoi.vn.

Nguồn: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP