Hiển thị các bài đăng có nhãn luật sư MA. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn luật sư MA. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 29 tháng 10, 2013

Pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán & sáp nhập (M&A)

1. Bộ luật Dân sự
Vấn đề hợp nhất và sáp nhập pháp nhân được quy định tại Điều 94 và 95 của Bộ luật Dân sự năm 2005. Theo đó, các pháp nhân cùng loại có thể hợp nhất thành một pháp nhân mới, hoặc một pháp nhân có thể sáp nhập vào một pháp nhân khác cùng loại theo quy định của điều lệ, theo thỏa thuận giữa. các pháp nhân hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Sau khi hợp nhất, các pháp nhân cũ chấm dứt; các quyền và nghĩa vụ dân sự của các pháp nhân cũ được chuyển giao cho pháp nhân mới. Tương tự như vậy đối với trường hợp sáp nhập thì sau khi sáp nhập, các pháp nhân được sáp nhập chấm dứt, đồng thời các quyền và nghĩa vụ dân sự của họ được chuyển giao cho pháp nhân sáp nhập.
2. Luật Canh tranh:
a. Các quy định cơ bản về tập trung kinh tế.
Luật cạnh tranh được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam Khóa XI, kỳ họp thứ 6 thông qua vào ngày 03/12/2004 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2005. Cơ cấu pháp luật cạnh tranh gồm hai bộ phận là pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật về kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh. Các hành vi hạn chế cạnh tranh được điều chỉnh bao gồm hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế. Theo Điều 16 Luật Cạnh tranh thì: "Tập trung kinh tế là hành vi của doanh nghiệp bao gồm: (1) Sáp nhập doanh nghiệp; (2) Hợp nhất doanh nghiệp; (3) Mua lại doanh nghiệp; (4) Liên doanh giữa các doanh nghiệp; và (5) Các hành vi tập trung kinh tế khác theo quy định của pháp luật”. Cụ thể hơn, Điều 17 Luật Cạnh tranh đã nêu ra khái niệm về sáp nhập, hợp nhất và mua lại doanh nghiệp với tư cách là những hình thức tập trung kinh tế. Từ các quy định của Luật Cạnh tranh ta có thể thấy:
Thứ nhất về bản chất pháp lý, theo Luật Cạnh tranh 2004 thì mua lại doanh nghiệp là hình thức tập trung kinh tế bằng biện pháp thiết lập quan hệ sở hữu giữa doanh nghiệp mua lại và doanh nghiệp bị mua lại. Việc mua lại không phải là quá trình thống nhất về tổ chức giữa hai doanh nghiệp nói trên. Sau khi mua lại, doanh nghiệp nắm quyền sở hữu có thể thực hiện việc sáp nhập hoặc không. Nếu thực hiện việc sáp nhập thì sự thống nhất về tổ chức là kết quả của hoạt động sáp nhập và việc mua lại chỉ là tiền đề để có được quyết định sáp nhập. Khi các doanh nghiệp tham gia đang hoạt động trên cùng một thị trường liên quan thì việc mua lại đã làm cho quan hệ cạnh tranh giữa họ không còn tồn tại. Theo Điều 35 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/09/2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật cạnh tranh thì các hình thức mua lại không bị coi là tập trung kinh tế là khi: "Doanh nghiệp bảo hiểm, tổ chức tín dụng mua lại doanh nghiệp khác nhằm mục đích bán lại trong thời hạn dài nhất là 01 năm… nếu doanh nghiệp mua lại không thực hiện quyền kiểm soát hoặc chi phối doanh nghiệp bị mua lại, hoặc doanh nghiệp thực hiện quyền kiểm soát/chi phối nhưng chỉ trong khuôn khổ bắt buộc để đạt được mục đích bán lại ". Đồng thời, doanh nghiệp bảo hiểm, tổ chức tín dụng đó phải gửi cho cơ quan quản lý cạnh tranh hồ sơ thông báo việc mua lại này. Thời hạn bán lại doanh nghiệp quy định tại Điều 35 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP có thể được Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh gia hạn theo kiến nghị của doanh nghiệp mua lại nếu doanh nghiệp chứng minh rằng họ đã không thể bán lại doanh nghiệp bị mua lại đó trong thời hạn 01 năm.
Thứ hai, về quyền chi phối hoặc kiểm soát doanh nghiệp bị mua lại. Điều 34 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP quy định: quyền kiểm soát hoặc chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp khác “là trường hợp một doanh nghiệp (sau đây gọi là doanh nghiệp kiểm soát) giành được quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp khác (sau đây gọi là doanh nghiệp bị kiểm soát) đủ chiếm được trên 50% quyền bỏ phiếu tại Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị hoặc ở mức mà theo quy định của pháp luật hoặc điều lệ của doanh nghiệp bị kiểm soát đủ để doanh nghiệp kiểm soát chi phối các chính sách tài chính và hoạt động của doanh nghiệp bị kiểm soát nhằm thu được lợi ích kinh tế từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bị kiểm soát”. So sánh với Luật Doanh nghiệp 2005 thì ta có thể nhận thấy Luật Doanh nghiệp không trực tiếp sử dụng thuật ngữ quyền chi phối hoặc kiểm soát doanh nghiệp khác mà sử dụng quan hệ mẹ - con giữa các công ty để thể hiện mối quan hệ sở hữu được xác lập từ việc mua lại hay góp vốn. Theo Khoản 15 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005 thì một công ty được coi là công ty mẹ của công ty khác nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông đã phát hành của công ty đó;
- Có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp bổ nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của công ty đó;
- Có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ của công ty đó.
Về ý nghĩa pháp lý, quy định trong hai văn bản luật trên là tương đồng, nhưng xét về căn cứ xác định và giá trị ứng dụng lại có những điểm khác biệt đáng kể. Trong khi Luật Doanh nghiệp dựa trên mức vốn sở hữu hoặc giá trị quyền quyết định đến bộ máy quản lý, điều hành doanh nghiệp, thì Luật Cạnh tranh đã quy đổi mức sở hữu thành giá trị của quyền biểu quyết trong bộ máy quản lý để xác định. Mặt khác, Luật Doanh nghiệp còn sử đụng quyền quyết định đến việc sửa đổi, bổ sung điều lệ làm một trong những trường hợp xác lập quan hệ mẹ - con, còn Luật Cạnh tranh lại sử dụng quyền chi phối các chính sách tài chính, hoạt động của doanh nghiệp bị mua lại làm căn cứ.
b. Các ngưỡng gây hạn chế cạnh tranh:
Luật Cạnh tranh sử dụng thị phần làm cơ sở phân loại nhóm tập trung kinh tế và là tiêu chí duy nhất để xác định cách thức xử lý. Theo Khoản 5 Điều 3 Luật Cạnh tranh quy định: "Thị phần của doanh nghiệp đôi với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định là tỷ lệ phần trăm giữa doanh thu bán ra của doanh nghiệp này với tổng doanh thu của tất cả doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hoá dịch vụ đó trên thị trường liên quan hoặc tỷ lệ phần trăm giữa doanh số mua vào của doanh nghiệp này với tổng doanh số mua vào của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hóa, dịch vụ đó trên thị trường liên quan theo tháng, quý, năm ". Tiếp đó Luật Cạnh tranh cũng định nghĩa thị phần kết hợp là "tổng thị phân trên thị trường liên quan của các doanh nghiệp tham gia vào thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hoặc tập trung kinh tế".
Điều 18 Luật Cạnh tranh cấm tập trung kinh tế nếu thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên quan. Ở trường hợp này, việc sáp nhập, hợp nhất hoặc mua lại đã hình thành một doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp nắm giữ đa số thị phần trên thị trường liên quan và làm cho các doanh nghiệp còn lại chỉ là thiểu số trên thị trường, tạo nên sự thay đổi về cơ bản, đột ngột trong tương quan cạnh tranh và cấu trúc cạnh tranh trên thị trường. Do đó những trường hợp trên luôn bị xem là làm giảm, làm cản trở và sai lệch cạnh tranh một cách đáng kể. Tuy nhiên cũng có ngoại lệ, đó là khi sau khi tập trung kinh tế .vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật và có thể được xem xét miễn trừ:
(i) Một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang trong nguy cơ bị giải thế hoặc lâm vào tình trạng phá sản (thẩm quyền xem xét quyết định thuộc Bộ trưởng Bộ công thương).
(ii) Việc tập trung kinh tế có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ (do Thủ tướng Chính phủ quyết định)
Khi thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia chỉ chiếm dưới 30% trên thị trường liên quan thì sự tập trung kinh tế chưa có khả năng tạo ra vị trí thống lĩnh cho doanh nghiệp hình thành sau khi tập trung. Lúc này, việc sáp nhập hợp nhất hay mua lại chỉ là các biện pháp cơ cấu lại kinh doanh hoặc đầu tư vốn bình thường nên chưa chứa đựng những nguy cơ đe dọa đến trật tự cạnh tranh của thị trường.
3. Luật Doanh nghiệp:
Với vai trò tổ chức và thiết lập mô hình hoạt động cho các loại hình doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp có nhiều nội dung liên quan trực tiếp đến sáp nhập, hợp nhất và mua lại doanh nghiệp, cụ thể như sau:
Các quy định trong Luật Doanh nghiệp có thể được sử dụng làm căn cứ pháp lý để làm rõ khái niệm và phạm vi của các hoạt động tập trung kinh tế. Chẳng hạn để xác định khái niệm mua lại doanh nghiệp, khi thực thi cơ quan QLCT có thể dẫn chiếu tới Luật Doanh nghiệp. Vấn đề mấu chốt để xác định việc mua lại là quyền kiểm soát và chi phối doanh nghiệp bị mua lại, theo đó, nếu việc mua tài sản chưa đủ tạo nên quyền chi phối kiểm soát doanh nghiệp bị mua lại thì chưa cấu thành hiện tượng tập trung kinh tế. Pháp luật cạnh tranh xác định hai trường hợp tạo nên quyền kiểm soát, chi phối doanh nghiệp khác (Điều 34 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP như đã trình bày ở phần trước). Tuy nhiên, để xác định như thế nào là đủ chi phối các chính sách tài chính và hoạt động của doanh nghiệp bị kiểm soát thì lại cần dẫn chiếu đến những quy định tương ứng về việc quyết định những chính sách tài chính, kinh doanh trong pháp luật về doanh nghiệp. Tùy theo từng hình thức tổ chức doanh nghiệp mà mức vốn đủ để chi phối các vấn đề tài chính, kinh doanh của doanh nghiệp là khác nhau. Như vậy, pháp luật về doanh nghiệp có vai trò làm rõ hơn những vấn đề mà luật Cạnh tranh chưa quy định chi tiết về các hành vi sáp nhập, hợp nhất và mua lại.
Các quy định liên quan đến thủ tục đăng ký kinh doanh, tổ chức lại doanh nghiệp, chuyển nhượng vốn góp, mua bán cổ phần trong pháp luật về doanh nghiệp. Điều 44 quy định: trừ trường hợp thành viên sử dụng phần vốn góp để trả nợ, thành viên CT TNHH hai thành viên trở lên có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình cho người khác như sau: (i) Phải chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện; (ii) Chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là thành viên nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc không mua hết trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày chào bán. Với nhiệm vụ bảo đảm quyền tự do kinh doanh và thiết lập trật tự trong việc thực hiện quyền kinh doanh, các chế định nói trên bảo đảm quyền quản lý của nhà nước đối với hoạt động kinh doanh trên thị trường. Quan hệ giữa các thủ tục đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp được xác định như sau:
(i) Nếu việc sáp nhập, hợp nhất và mua lại thuộc nhóm không chịu sự kiểm soát của Luật cạnh tranh thì chỉ phải làm các thủ tục về đăng ký kinh doanh, chuyển nhượng vốn, mua bán cổ phần theo pháp luật doanh nghiệp mà không phải thực hiện bất cứ thủ tục gì tại cơ quan QLCT.
(ii) Nếu việc sáp nhập, hợp nhất và mua lại thuộc nhóm phải thông báo (công ty hợp nhất, công ty nhận sáp nhập có thị phần từ 300/0 đến 500/0 trên thị trường liên quan) thì đại diện hợp pháp của các doanh nghiệp phải thông báo cho cơ quan QLCT trước khi tiến hành sáp nhập, hợp nhất và mua lại. Sau khi được cơ quan QLCT trả lời bằng văn bản rằng hoạt động trên không thuộc trường hợp bị cấm thì doanh nghiệp mới được tiến hành các thủ tục sáp nhập, hợp nhất và mua lại .theo pháp luật doanh nghiệp (Khoản 3 Điều 152, Khoản 3 Điều 153 Luật Doanh nghiệp; Điều 20 và 24 Luật Cạnh tranh).
(iii) Nếu thuộc trường hợp bị cấm (công ty hợp nhất, công ty nhận sáp nhập có thị phần trên 50% trên thị trường liên quan), đương nhiên không được tiến hành bất cứ thủ tục gì, trừ khi được miễn trừ ( Điều 152 và 153 Luật Doanh nghiệp; Điều 18 Luật Cạnh tranh).
Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp cũng có các quy định hỗ trợ cho quá trình kiểm soát tập trung kinh tế đối với hành vi sáp nhập, hợp nhất và mua lại doanh nghiệp, như sau:
(i) Các quy định về nghĩa vụ thông báo bằng văn bản tiến độ góp vốn của công ty TNHH, thông báo tiến độ góp vốn cổ phần của công ty cổ phần (điều 39, 84 Luật doanh nghiệp).
(ii) Nghĩa vụ đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh về việc có cổ đông sở hữu từ 5% tổng số cố phần trở lên (điều 86 Luật doanh nghiệp). . .
(iii) Những quy định trên không chỉ tạo điều kiện cho việc quản lý doanh nghiệp mà còn có thể cung cấp nhiều thông tin cần thiết để xác minh hiện tượng tập trung kinh tế được thuận tiện, nhanh chóng.
4. Luật Đầu tư
Luật Đầu tư được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua vào ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006 có một số nội dung liên quan đến hoạt động sáp nhập, hợp nhất và mua lại doanh nghiệp như:
Các quy định về hình thức đầu tư, Điều 21 Luật Đầu tư có quy định các hình thức đầu tư trực tiếp, trong đó có việc mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư; đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp. Nhà đầu tư được góp vốn, mua cổ phần của các công ty, chi nhánh tại Việt Nam. Tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần cửa nhà đầu tư nước ngoài đối với một số lĩnh vực ngành nghề do Chính phủ quy định. Ngoài ra, nhà đầu tư nước ngoài khi góp vốn, mua cổ phần phải thực hiện đúng các quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên về tỷ lệ góp vốn, hình thức đầu tư và lộ trình mở cửa thị trường (Khoản 2 Điều 10 Nghị định số 108/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 22/09/2006 quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đầu tư). Điều 25 cũng khẳng định điều kiện sáp nhập, mua lại công ty, chi nhánh theo quy định của Luật Đầu tư, pháp luật về cạnh tranh và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Đối với những 'ngành nghề kinh doanh có điều kiện (như tài chính, ngân hàng, viễn thông, giáo dục …) thì nhà đầu tư nước ngoài được áp dụng điều kiện đầu tư như nhà đầu tư trong nước trong trường hợp các nhà đầu tư Việt Nam sở hữu từ 51% vốn điều lệ của doanh nghiệp trở lên (Khoản 4 Điều 29).
Các quy định về thủ tục đăng ký đầu tư hoặc thủ tục thẩm tra đầu tư được thiết kế để thực hiện vai trò quản lý nhà nước về đầu tư. Từ Điều 42 đến Điều 50 Nghị định số 108/2006/NĐ-CP quy định về việc đăng ký đầu tư và thẩm tra dự án đầu tư; Điều 56 quy định về Thủ tục đầu tư trực tiếp theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, sáp nhập, mua lại doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào Việt Nam phải có dự án đầu tư và thực hiện thủ tục đầu tư để được cấp Giấy chứng nhận đầu tư; Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho tổ chức kinh tế được thành lập để thực hiện dự án đầu tư.
Trong pháp luật đầu tư chỉ có một số quy định đề cập đến vấn đề kiểm soát tập trung kinh tế dưới góc độ Luật Cạnh tranh: " Nhà đầu tư khi góp vốn, mua cổ phần, sáp nhập, mua lại doanh nghiệp tại Việt Nam phải: . . . tuân thủ các quy định về điều kiện tập trung tinh tế của pháp luật về cạnh tranh và pháp luật về doanh nghiệp… " (Khoản 2 Điều 10 Nghị định 108/2006/NĐ-CP) .
5. Luật Chứng khoán:
Luật Chứng khoán được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/06/2006 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007. Luật Chứng khoán cũng có các điều khoản liên quan đến tập trung kinh tế thông qua các giao dịch trên thị trường chứng khoán. Điều 29 quy định việc báo cáo về sở hữu của cổ đông lớn: “1. Tổ chức, cá nhân trở thành cổ đông lớn của công ty đại chúng phải báo cáo công ty đại chúng, ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Sở giao dịch chứng khoán hoặc trung tâm giao dịch chứng khoán nới cổ phiếu của công ty đại chúng đó được niêm yết trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày trở thành cổ đông lớn … 4. Quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này cũng áp dựng đối với nhóm người có liên quan sở hữu từ năm phần trăm trở lên - số cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành."
Điều 32 quy định về chào mua công khai, theo đó các tổ chức, cá nhân chào mua công khai số cổ phiếu có quyền biểu quyết dẫn đến việc sở hữu từ 25% trở lên số cổ phiếu đang lưu hành của một công ty đại chúng phải gửi đăng ký chào mua đến ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Điều 69 quy định việc chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ phải được sự chấp thuận của ủy ban Chứng khoán Nhà nước.
6. Luật các Tổ chức tín dụng:
Luật các Tổ chức tín dụng đã được Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 12/12/1997 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/1998 và được sửa đổi vào năm 2004 với nội dung quy định tổ chức, hoạt động của các tổ chức tín dụng và hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác ở Việt Nam.
Theo Điều 34, chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, mua lại, giải thể tổ chức tín dụng phải được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản. Ngoài ra, một số quy định liên quan giúp hỗ trợ cho hoạt động kiểm soát tập trung kinh tế, như: tổ chức được cấp giấy phép có thể bị Ngân hàng nhà nước thu hồi giấy phép khi chia, sáp nhập, hợp nhất. phá sản (Điều 29); tổ chức tín dụng phải được Ngân hàng nhà nước chấp thuận bằng văn bản trước khi thực hiện chuyển nhượng cổ phần có ghi tên quá tỷ lệ quy định của Ngân hàng nhà nước, hoặc khi thay đổi tỷ lệ cổ phần của các cổ đông lớn (10) (Điều 31).
7. Các văn bản dưới luật:
a. Các quy định về mua cổ phần doanh nghiệp đối với nhà đầu tư nước ngoài:
Nghị định 139/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 05/09/2007 hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp quy định tất cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, không phân biệt nơi đăng ký trụ sở chính, quốc tịch, nơi cư trú đều có quyền góp vốn, mua cổ phần với mức không hạn chế tại doanh nghiệp theo quy định tương ứng của Luật Doanh nghiệp, trừ các
trường hợp:
- Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại các công ty niêm yết thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng khoán.
- Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong các trường hợp đặc thù áp dụng quy định của các luật chuyên ngành và các quy định pháp luật chuyên ngành khác có liên quan.
- Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước cổ phần hóa hoặc chuyển đổi sở hữu theo hình thức khác thực hiện theo pháp luật về cổ phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp 1 000/0 vốn nhà nước.
- Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ áp dụng theo Biểu cam kết cụ thể về thương mại dịch vụ (Phụ lục Nghị định thư gia nhập WTO của Việt Nam).
Theo Quyết định số 238/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 29/09/2005 về tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam, và thông tư số 90/2005/TT-BTC của Bộ tài chính ngày 17/10/2005 hướng dẫn thi hành Quyết định 238: Tổ chức, cá nhân nước ngoài mua, bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam được nắm giữ:
- Tối đa 49% tổng số cổ phiếu niêm yết, đăng ký giao dịch của một tổ chức niêm yết đăng ký giao dịch trên trung tâm giáo dịch chứng khoán.
- Tối đa 49% tổng số chứng chỉ quỹ đầu tư niêm yết, đăng ký giao dịch của một quỹ đầu tư chứng khoán. (đối với trái phiếu: không giới hạn tỷ lệ nắm giữ).
Tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài góp vốn, mua cổ phần, góp vốn liên doanh thành lập Công ty chứng khoán hoặc Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán tối đa là 49% vốn điều lệ.
Hiện nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang soạn thảo Nghị định về mua bán và sáp nhập doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài theo hướng tạo sự thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài mua lại cổ phần của nhau, như: quy định rõ ràng thủ tục pháp lý tiến hành sáp nhập, thống nhất quy định về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong các giao dịch mua bán hiện đang được quy định khác nhau trong Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư và Luật Chứng khoán.
b. Các quy định về chuyển đổi, giao, bán doanh nghiệp 100% vốn nhà nước
Theo Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/06/2007 về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần, đối tượng được tham gia mua cổ phần là các nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư chiến lược (nhà đầu tư có năng lực tài chính, quản trị doanh nghiệp; chuyển giao công nghệ mới, cung ứng nguyên vật liệu, phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm; gắn bó lợi ích lâu dài với doanh nghiệp). Nhà đầu tư chiến lược không được chuyển nhượng số cổ phần mua được trong thời hạn tối thiểu 03 năm, kể từ ngày công ty cổ phần được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Trường hợp đặc biệt cần chuyển nhượng số cổ phần này trước thời hạn trên thì phải được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận. Đối với nhà đầu tư nước ngoài, mọi hoạt động mua, bán cổ phần, nhận hay sử dụng cổ tức và các khoản thu chi khác từ đầu tư mua cổ phần đều phải thông qua tài khoản tiền gửi tại một tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán đang hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam và tuân thủ pháp luật Việt Nam.
Nghị định số 109/2008/NĐ-CP ngày 10/10/2008 về bán, giao doanh nghiệp 100% vốn nhà nước đưa ra định nghĩa bán doanh nghiệp, giao doanh nghiệp, các nguyên tắc bán, giao doanh nghiệp nhà nước, cũng như quyền, nghĩa vụ của các đối tượng được mua hay nhận giao doanh nghiệp và thủ tục tiến hành việc bán, giao doanh nghiệp nhà nước.
c. Quy định về việc sáp nhập, hợp nhất của tổ chức tín dụng:
Ngày 15/07/1998, Thống đốc Ngân hàng nhả nước đã ký Quyết định số 241/1998/QĐ-NHNN ban hành Quy chế sáp nhập, hợp nhất, qua lại Tổ chức tín dụng cổ phần Việt Nam. Quy chế 241 đã khẳng định việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại các tổ chức tín dụng cổ phần phải được Thống đốc Ngân hàng nhà nước chấp thuận, cũng như đưa ra các điều kiện và trình tự, thủ tục sáp nhập, hợp nhất và mua lại. Tuy nhiên, Quy chế 241 mới chỉ áp dụng cho tổ chức tín dụng cổ phần và đã có nhiều bất cập. Do vậy, để tạo hành lang pháp lý cho việc sáp nhập hợp nhất, mua lại của tất cả các loại hình tổ chức tín dụng, vào thời điểm hiện tại Ngân hàng nhà nước đang dự thảo Thông tư hướng dẫn việc sáp nhập, hợp nhất tổ chức tín dụng trên cơ sở kế thừa Quy chế 241 , phù hợp với Luật Doanh nghiệp, Luật Cạnh tranh cũng như kinh nghiệm đúc kết từ thực tiễn. Theo Bản dự thảo lần thứ ba của Thông tư này sẽ có 02 trường hợp sáp nhập, hợp nhất là tự nguyện và theo chỉ định của Thống đốc Ngân hàng nhà nước. Với quan điểm cho rằng các tổ chức tín dụng đều là công ty cùng loại" nên dự thảo đã đưa ra định nghĩa về sáp nhập, hợp nhất tổ chức tín dụng phù hợp với Luật Doanh nghiệp. Để hạn chế các giao dịch nội gián do những cá nhân có liên quan biết trước thông tin sáp nhập, hợp nhất; đồng thời gắn trách nhiệm của cán bộ quản trị điều hành chủ chốt. dự thảo đã quy định một số trường hợp tạm ngừng chuyển nhượng vốn góp như: thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Ban điều hành. Dự thảo cũng quy định cụ thể điều kiện, trình tự, thủ tục sáp nhập, hợp nhất tổ chức tín dụng. Theo đó, các tổ chức tín dụng tham gia sáp nhập, hợp nhất trước tiên phải thông báo cho cơ quan QLCT theo quy định của Luật cạnh tranh, sau đó mới lấy ý kiến của các cơ quan quản lý nhà nước liên quan.

Chủ Nhật, 8 tháng 9, 2013

Luật sư tư vấn Mua bán & Sát nhập doanh nghiệp (M&A)

Do đặc thù về sự sơ khai của các quy định pháp luật liên quan cùng với đặc điểm tính chất môi trường kinh doanh chú trọng yếu tố thâu tóm quyền lực quản trị tại Việt Nam, nên các giao dịch mua bán, sáp nhập doanh nghiệp (M&A) diễn ra rất đa dạng.
        Khi tư vấn cho các tập đoàn, doanh nghiệp, doanh nhân lớn trong các giao dịch mua bán, sáp nhập doanh nghiệp, NPKlaw luôn chú trọng đến yếu tố chiến lược của các giải pháp tư vấn nhằm bảo đảm cho Khách hàng của mình sẽ đạt được các mục tiêu tức thì và tiếp tục có những lợi thế, tiềm năng dài hạn về quản trị, điều hành doanh nghiệp.
       Trong lĩnh vực này, các dịch vụ tư vấn chủ yếu của NPKlaw dành cho Khách hàng bao gồm:
-    Tư vấn tìm kiếm đối tác M&A;
-    Tư vấn, soạn thảo, đàm phán Hợp đồng cho các giao dịch mua bán cổ phần giữa các ngân hàng, định chế tài chính, tập đoàn, doanh nghiệp lớn với các đối tác chiến lược trong và ngoài nước;
-    Tư vấn, soạn thảo, đàm phán Hợp đồng cho các giao dịch mua bán, đầu tư cổ phần để thâu tóm quyền quản trị, điều hành doanh nghiệp;
-    Tư vấn đánh giá tín nhiệm doanh nghiệp trên cơ sở đánh giá toàn diện hệ thống cơ cấu tổ chức được vận hành của doanh nghiệp, đánh giá sự hoàn thiện của hệ thống các quy định, quy trình, công cụ quản lý nội bộ của doanh nghiệp mục tiêu;
-    Tư vấn thâu tóm quyền quản trị, điều hành doanh nghiệp mục tiêu cho các doanh nhân.
     Nếu quý vị cần thêm thông tin để biết NPKlaw có thể hỗ trợ mình về những vấn đề liên quan đến M&A, xin vui lòng liên hệ các luật sư Thành viên của chúng tôi qua email:   info@npklaw.com hoặc liên hệ trực tiếp đến số: +84 988 505 572
.................................................................................................
NPKlaw & Associates firm - MINH LONG LAW OFFICE
Office: No 078 Doc Ngu Str, Ba Dinh Dist, Ha Noi, Viet Nam
Hotline: +84.988.505.572 - +84.913.579.801
Tel: 84-4-3 211 5053
Fax: 84-4-3 211 5054
          nghiempk@npklaw.com
-------------------------------------------------------------------------------------------------

Thứ Sáu, 25 tháng 1, 2013

M&A và cuộc rong chơi của bầy sói


Các chuyên gia khuyến nghị, DN trước khi có ý định liên doanh, nên mời một đơn vị tư vấn chiến lược để nâng cấp chiến lược. Đồng thời tận dụng trí tuệ của cộng đồng bằng cách tuyển dụng nhân sự giỏi, cùng với đóng góp của các chuyên gia tạo ra chiến lược đột phá. Đặc biệt, để tránh bị thâu tóm thì việc xây dựng một thương hiệu đủ tỏa sáng để không bị tắt sau các thương vụ thâu tóm cũng là một điều cần thiết.

Chiến thuật “sói gửi nhờ chân”

Nếu như bề nổi của thị trường chứng khoán (TTCK) năm 2012 được các nhà đầu tư nhắc đến như một năm buồn kể từ khi khai sinh, thì trong lòng nó lại dậy lên những “cơn sóng ngầm” với những cuộc thâu tóm sáp nhập (M&A) DN của khối ngoại mà hệ quả là nhiều thương hiệu Việt được vun đắp cả chục năm bỗng biến mất, nhiều thương hiệu khác tạm thoát nạn, nhưng nỗi lo thâu tóm vẫn canh cánh bên lòng.
Vẫn còn đó những bài học từ thương vụ của Dạ Lan. Một thương hiệu được xây dựng kỳ công từ những năm 90, nổi lên như một thương hiệu mạnh của người Việt Nam, chiếm tới 30% thị phần kem đánh răng toàn quốc, đánh bật kem đánh răng Trung Quốc ra khỏi thị trường. “Kết hôn” cùng Colgate, ông chủ Dạ Lan mơ ước sẽ bay cao, bay xa cùng tập đoàn hóa mỹ phẩm hàng đầu thế giới này.
Nhưng chính cái ước mơ vươn xa hơn của Dạ Lan đã tạo cơ hội cho Colgate thực hiện hóa kế hoạch “sói gửi nhờ chân” xâm nhập thị trường Việt Nam, khi mà quy định pháp luật ngày ấy chưa cho thành lập công ty 100% vốn nước ngoài. Hệ quả là, chỉ sau 3 năm, Dạ Lan đã phải bán lại hoàn toàn cho Colgate, thương hiệu Dạ Lan cũng biến mất…
Gần 20 năm sau, những thương vụ tương tự được lặp lại, phần là hệ quả của những cuộc liên doanh trước đây, phần là diễn trình thâu tóm trên một nấc thang cao hơn khi cánh cửa hội nhập mở ra cùng sự phát triển của TTCK. DN bị thâu tóm công khai, trong khi hàng rào pháp lý phòng vệ cạnh tranh và khả năng kháng cự của DN đều yếu.
Điển hình câu chuyện của Tribeco xóa sổ sau một thời gian kết duyên cùng Uni-President... Có tuổi đời hơn 20 năm và hơn 10 năm ngự trị trong danh sách Hàng Việt Nam chất lượng cao, Tribeco ấp ủ những kỳ vọng trong cuộc hợp hôn với Kinh Đô (sở hữu hơn 35% cổ phần),
Uni – President (sở hữu 15% cổ phần) năm 2006, 2007. Thế nhưng, chỉ một năm sau, Tribeco bỗng lỗ 145 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu âm 5,32 tỷ đồng. Đến 31/12/2011, Tribeco có lỗ lũy kế là 312 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu âm 26 tỷ đồng. Tại đại hội cổ đông hồi cuối tháng 6/2012, đối tác ngoại Uni-President đã chiếm toàn bộ ghế HĐQT tại Tribeco và sở hữu đến 43,56% cổ phần. Kế hoạch “sói gửi nhờ chân” của Uni-President kết thúc với Tribeco hủy niêm yết, sau đó là giải thể, giúp Tập đoàn Đài Loan thực hiện được tham vọng biến Tribeco thành công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài.
Viên đạn bọc đường mang tên “kỳ vọng”

Bản chất của M&A không xấu. Chỉ với một chữ ký, những kỳ vọng được nhen lên trong cả kẻ bán và người mua. Kẻ bán thì mơ một cơ hội mở rộng thị phần; tranh thủ nguồn vốn, năng lực quản trị, trình độ công nghệ, thương hiệu của đối tác để tăng cường năng lực cạnh tranh. Chưa kể giá trị của công ty trên TTCK sẽ tăng lên, công ty có thể huy động được nhiều nguồn vốn hơn. Song giấc mơ này có thành hiện thực hay không còn tùy thuộc vào giấc mơ của người mua.
Mọi giấc mơ sẽ tan biến ngay khi viên đạn bọc đường chạm đích. Những chiêu trò cũ mèm, nhưng DN khó kiểm soát như chuyển giá mà Lotte và Bibica (BBC) là một điển hình. Sau vụ nhà máy Bibica Miền Đông bị cháy, tháng 5/2011 đến tháng 2/2012, BBC phải nhập sản phẩm Lottepie từ công ty của đối tác Lotte tại Hàn Quốc (Lotte Confectionery) với giá nhập là 7,4 USD/thùng, nhưng, giá xuất khẩu sản phẩm sang các nước châu Á trong năm 2012 được Lotte đề xuất ở mức 6,9 USD/thùng. BBC ước tính mức giá này sẽ khiến Công ty thiệt hại khoảng 18% về giá bán.
Gia tăng chi phí là chiêu trò khá thông dụng trong các cuộc thao túng DN. Đang kinh doanh phát đạt, kể từ khi liên doanh, bỗng nhiên doanh thu giảm dần do 2 chi phí cấu thành gia tăng là chi phí quản lý và chi phí tiếp thị quảng cáo. Điều này luôn mang lại lợi ích kép cho phía liên doanh: vừa tạo được chỗ đứng cho thương hiệu của phía nước ngoài, vừa làm gia tăng khả năng thua lỗ trong ngắn hạn. Và kết quả tất yếu là DN trong nước sẽ bỏ cuộc vì ít vốn.

Níu phao pháp lý xác lập thương hiệu

Một chuyên gia thương hiệu ví von câu chuyện M&A với truyền thuyết Trọng Thủy & Mỵ Châu. Mọi mưu đồ thôn tính đều được che giấu bằng những vòng nguyệt quế, tình cảm hay sứ mệnh tốt đẹp. Tuy nhiên, không phải không có những lối thoát trong các cuộc chơi M&A. Ví như cuộc liên doanh giữa VNPT và Comvik trong mạng di động MobiFone được xem là một kết thúc rất có hậu. Nhiều DN cũng đã trải qua những cám dỗ của liên doanh hay đầu tư chiến lược nhưng đã thoát ra một cách khá chủ động như Vinamilk trong dự án liên doanh với Campina.
Đúng là có những khoảng trống trong luật mà các công ty nước ngoài có thể vận dụng để thâu tóm DN Việt. Ví như, với Tribeco, việc thâu tóm sẽ không thể diễn ra nếu Tribeco vẫn trên sàn chứng khoán (room sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài chỉ tối đa là 49%). Ngay cả cái khóa này cũng có thể bị bẻ khi nhà đầu tư ngoại mượn danh một công ty trong nước hoặc cấu kết với một DN trong nước cùng thâu tóm và hưởng lợi. Cũng bởi vậy để thoát khỏi những cạm bẫy của M&A, quan trọng nhất là tính chủ động của DN trong quá trình hợp tác và tự phòng vệ thâu tóm.
Lật lại các vụ việc đã qua, hầu như trong các hợp đồng hợp tác, các điều khoản về giá trị thương hiệu, thương quyền… bị xem xét một cách sơ sài. Chính vì vậy, DN đã bị các đối tác liên doanh tiêu phí trong các hoạt động quảng cáo, chi phí nhân sự, đầu tư và kết quả là một sự thất bại.
Các chuyên gia khuyến nghị, DN trước khi có ý định liên doanh, nên mời một đơn vị tư vấn chiến lược để nâng cấp chiến lược. Đồng thời tận dụng trí tuệ của cộng đồng bằng cách tuyển dụng nhân sự giỏi, cùng với đóng góp của các chuyên gia tạo ra chiến lược đột phá. Đặc biệt, để tránh bị thâu tóm thì việc xây dựng một thương hiệu đủ tỏa sáng để không bị tắt sau các thương vụ thâu tóm cũng là một điều cần thiết.
Ví như BBC, cho dù Lotte muốn thâu tóm, nhưng cũng không dám xóa bỏ thương hiệu mà chỉ đề xuất ghép tên. Đối với các DN có nhu cầu về tài chính để mở rộng quy mô, nhất là trong bối cảnh khó khăn hiện nay, liên doanh cũng chưa phải duy nhất để hóa giải áp lực về tài chính. Bởi nhiều DN đã tìm được các quỹ đầu tư để cùng chịu rủi ro và hoạt động theo một cơ chế chuyên nghiệp và minh bạch.
Ngay cả khi có nguy cơ bị thâu tóm cổ đông vẫn có lối thoát. Như áp dụng chiến lược Vương miện châu báu bằng việc bán đi mảng kinh doanh hiệu quả hoặc một mảng tài sản có giá trị của DN đang hấp dẫn các bên mua. Sử dụng Hiệp sĩ áo trắng (white knight)- bên thứ ba với sự hậu thuẫn của ban điều hành tiến hành chào mua DN với giá cao hơn đối thủ cạnh tranh hiện tại.
Một trong số đó là chiêu thức xác lập thương hiệu bằng pháp lý chặt chẽ ngay từ trước khi liên doanh hay cổ phần hoá. Đây là giải pháp an toàn nhất mà nhiều doanh nhân vẫn chưa nghĩ đến. A.G. Lafley CEO của Procter & Gamble (Mỹ) đã từng nói “một ngày nào đó khi tôi ra khỏi công ty, tôi có thể bỏ lại tất cả (tiền bạc, nhà máy…) nhưng chỉ cần mang theo thương hiệu”.
(Theo Thời báo ngân hàng)

Chủ Nhật, 30 tháng 9, 2012

163 công ty trong tầm ngắm


Nhóm “thợ săn” Bình Thiên An hẳn phải nở nụ cười mãn nguyện sau khi nắm quyền tại Công ty Cổ phần Xây dựng Công nghiệp Descon (DCC) kể từ cuối năm 2010. Chỉ riêng dự án Preche Thảo Điền (quận 2, TP. HCM) của DCC đã có giá khoảng 25-30 triệu USD, gấp đôi vốn hóa của Công ty lúc ấy.

Mua kem kèm đất

DCC là trường hợp điển hình cho thấy vì sao doanh nghiệp được đưa vào tầm ngắm của các thợ săn. Những doanh nghiệp có nhiều tài sản là bất động sản trong khi giá trị thị trường thấp hơn giá trị thực là đối tượng được nhắm đến đầu tiên. Nhiều doanh nghiệp nằm trong diện này đã bị thâu tóm trong thời gian qua, điển hình là trường hợp Công ty Tràng Tiền. Sức hút của công ty kinh doanh kem này nằm ở chỗ dù sở hữu khoảng 1.500 m2 ”đất vàng” gần khu vực trung tâm thành phố Hà Nội, nhưng khi cổ phần hóa năm 2000, Công ty chỉ được định giá hơn... 3 tỉ đồng. Với 3 tỉ đồng, người dân chỉ mua được khoảng chưa đầy 10 m2 đất ở trung tâm Hà Nội.
Nhận diện doanh nghiệp qua đất thì quá dễ nhưng không phải ai cũng có suất mua. Do vậy, cách nhận diện những công ty có nhiều tài sản thông qua chỉ số P/BV (thị giá/giá trị sổ sách) đang phổ biến hơn. “Những công ty có chỉ số P/BV <= 0,7 lần được phía đi mua xem xét trước tiên. Nó cho thấy thị trường đang định giá trị công ty thấp hơn giá trị thực”, Giám đốc Đầu tư của một công ty chứng khoán lớn tại TP.HCM (không muốn nêu tên) cho biết. Cách làm này tỏ ra phù hợp trong giai đoạn hiện nay, khi nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn và giá cổ phiếu lao dốc trong khi tài sản vẫn còn đó.
Theo cách tính đó, có 163 doanh nghiệp niêm yết đang trong tầm ngắm của những tay săn doanh nghiệp. 163 doanh nghiệp này có chỉ số P/BV < 0,7 lần, theo thống kê của Công ty Chứng khoán Maybank Kim Eng tính đến cuối tháng 8.2012.

Không giàu thì phải giỏi

Nói như vậy không có nghĩa những doanh nghiệp không có đất hay tài sản giá trị sẽ nằm ngoài tầm ngắm. Doanh nghiệp tốt cũng là một đích ngắm quan trọng. Doanh nghiệp tốt được hiểu là có nền quản trị hiệu quả, cơ cấu tài chính ổn định, tập trung vào hoạt động cốt lõi, thị phần trong ngành cao. Cùng với yêu cầu về thị phần cao, bên mua còn xét khả năng liệu họ có thể mua chi phối (trên 50%) hay không. Những đơn vị như Nhiên liệu Sài Gòn (SFC) hoặc Đường Biên Hòa (BHS) đều có thị phần đáng kể hoặc đứng đầu ngành nhưng các lãnh đạo chủ chốt lại nắm rất ít cổ phần, giúp bên mua có nhiều khả năng đạt được tỉ lệ chi phối.
Nếu xét về lĩnh vực thì thực phẩm tiêu dùng luôn đứng đầu vì là ngành có mức tăng trưởng trên 30% mỗi năm và ít chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế. Theo thống kê của các tổ chức nghiên cứu mua bán và sáp nhập (M&A) như Thomson Reuters, IMAA và AVM Vietnam, ngành thực phẩm tiêu dùng chiếm đến gần 25% trong tổng giá trị các thương vụ M&A năm 2011.
Bên cạnh đó, một số lĩnh vực Việt Nam có lợi thế cũng được chú ý nhiều. Việt Nam là nước nông nghiệp nên những ngành liên quan thường được ưu tiên xem xét, chẳng hạn như thủy sản. Ngành này nổi tiếng với các vụ thâu tóm của Công ty Thủy sản Hùng Vương đối với Thủy sản An Giang, Lâm Thủy sản Bến Tre, Thức ăn Chăn nuôi Việt Thắng.
Ngoài ra, doanh nghiệp được nhòm ngó cũng thường là những đơn vị có “tiền đồ” sáng lạng. Theo Tổng Giám đốc một công ty tài chính (không muốn nêu tên), đối với doanh nghiệp đi thâu tóm, điều quan trọng nhất là giá trị tạo ra sau thương vụ đó.
Thực vậy, trong nhiều thương vụ, doanh nghiệp đi thâu tóm sẵn sàng trả giá cao hơn giá thị trường. Đổi lại, bên bán phải đồng ý với các điều khoản như bên mua có thể gia tăng sở hữu hoặc nhận lại một điều khoản có lợi nào đấy. Ví dụ ở một thương vụ trong ngành bảo hiểm năm vừa rồi, bên mua chấp nhận trả mức giá cao hơn thị trường đến 2,5 lần để đổi lấy điều khoản đảm bảo nhận được các hợp đồng tái bảo hiểm.
Đáng chú ý, không phải doanh nghiệp quy mô lớn là hấp dẫn nhà đầu tư. Ví dụ, trong một thương vụ của ngành logistics, bên mua chỉ quan tâm đến mảng kinh doanh kho bãi và vận tải đường bộ trong khi bên bán còn có cả vận tải thủy đường biển và đường sông. Trong trường hợp này, bên mua có thể yêu cầu bên bán tách thành các công ty khác nhau để mua.
4 loại thợ săn ở Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, tiền mặt khan hiếm, dễ thấy các công ty có nguồn tài chính dồi dào sẽ là “thợ săn”. Một điển hình cho dạng này là Tập đoàn Masan (MSN), đơn vị đã bỏ ra hơn 1.000 tỉ đồng để thâu tóm Vinacafe cuối năm 2011.
Dạng thợ săn thứ 2 là những doanh nghiệp chọn thâu tóm qua hình thức đầu tư chiến lược. Trên thị trường, đã có không ít vụ đối tác chiến lược “nuốt” luôn đối tác. Ví dụ như trường hợp ở 2 công ty Bibica (BBC) và Công ty Vật tư Xăng dầu Comeco (COM). Đối tác Lotte (Hàn Quốc) của BBC và PV Oil của COM đã liên tục tăng tỉ lệ sở hữu cổ phần ở công ty đối tác với mục đích kiểm soát.
Ngoài 2 xu hướng trên, gần đây còn xuất hiện một xu hướng mới là các nhóm dự án chuyên đi săn doanh nghiệp có nhiều tài sản cho các tập đoàn tư nhân. Họ thường là những người rành về tài chính tập hợp lại để đi săn hộ cho nhà đầu tư lớn.
Để tìm ra doanh nghiệp tốt, các nhóm như vậy phân tích báo cáo tài chính của những doanh nghiệp trên thị trường niêm yết và doanh nghiệp OTC (thị trường phi tập trung). Ngoài tiêu chí chính là có nhiều tài sản, những doanh nghiệp trong tầm ngắm còn phải có tiền mặt dồi dào với quy mô vừa và nhỏ.
Ngân hàng trực thuộc các tập đoàn tư nhân cũng là một dạng săn hộ để giúp tập đoàn mẹ thâu tóm doanh nghiệp. Việc thây tóm này có lợi thế là từ danh sách khách hàng vay vốn và các hồ sơ thẩm định doanh nghiệp có sẵn trong tủ ngân hàng trực thuộc, tập đoàn mẹ sẽ biết làm gì với những doanh nghiệp nằm trong tầm ngắm.
Quỹ đầu tư cũng là một dạng thợ săn đáng chú ý. Nhưng họ có đặc điểm là không mua để kiểm soát doanh nghiệp mà chủ yếu để đầu tư tài chính.

Săn chưa chắc được ăn

Khi thâu tóm một doanh nghiệp, dù xem xét rất kỹ, nhưng bên đi mua nhiều khi cũng không lường hết những rủi ro tiềm ẩn.
Đối với việc mua lại doanh nghiệp có nhiều tài sản để đầu tư tài chính, rủi ro trước tiên là mức lợi nhuận kỳ vọng có thể không như tính toán. Mức lợi nhuận này được kỳ vọng từ giá cổ phiếu rẻ, công ty có nhiều tài sản, P/E (giá/lợi nhuận mỗi cổ phiếu) có thể tăng cao. Rủi ro nằm ở chỗ để đạt được hệ số P/E như mong muốn, thời gian có thể lâu hơn tính toán. Quan trọng hơn, làm sao có thể bán lại cổ phiếu và các tài sản với mức giá kỳ vọng trong tình trạng thanh khoản kém đi.
Các thương vụ mua để đầu tư chiến lược cũng gặp không ít rủi ro. Cuối tháng 10.2005, KDC đã thâu tóm Công ty Nước giải khát Sài Gòn (TRI). Từ quý IV/2008 đến cuối năm 2011 (trừ quý II/2010), TRI liên tục lâm vào cảnh thua lỗ. Công ty này đã bị Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM hủy niêm yết. Ông Trần Lệ Nguyên, Tổng Giám đốc KDC, cho biết: “Kinh Đô gặp khó khăn trong vấn đề góp ý điều hành chiến lược”. Giới trong ngành cho rằng không loại trừ khả năng, có thể do các cổ đông lớn sau khi thâu tóm không tìm được tiếng nói chung, dẫn đến các bên không quan tâm đến sự phát triển của TRI.
Chi phí tài chính để thực hiện thương vụ cũng là điều đáng ngại. Cho dù chỉ có một phần tiền đi vay chịu lãi suất cao nhưng cũng sẽ khiến chi phí tăng lên và lợi nhuận giảm xuống so với kỳ vọng.
Ngoài ra, những cái bẫy tài chính từ công ty bị thâu tóm cũng có thể khiến thợ săn bị hớ. Chẳng hạn, các nghĩa vụ tài chính chưa thực hiện hết như nợ thuế, lương thưởng và các điều khoản đặc biệt đối với nhân viên công ty đó. Điển hình là các hợp đồng trả tiền cho người lao động theo thâm niên hay thưởng đặc biệt khi xảy ra các trường hợp tương tự như bán công ty. Trong trường hợp này, nếu trả tiền cho hàng ngàn người lao động, có khi công ty đó chẳng còn đồng tiền mặt nào.

(Theo Nhịp Cầu Đầu Tư)

Chủ Nhật, 29 tháng 7, 2012

Lĩnh vực M&A tại Việt Nam hấp dẫn hàng đầu châu Á


Với mức doanh thu từ mảng mua bán, sáp nhập tăng trưởng tới 24% trong năm ngoái giữa lúc doanh thu toàn châu Á sụt giảm 10%, thị trường M&A Việt Nam đang được đánh giá là hứa hẹn hàng đầu châu lục.

Đây là nhận định của nhà báo Joyce Koh trong bài viết với tiêu đề: “Việt Nam dẫn đầu châu Á giữa lúc các ngân hàng đầu tư theo đuổi các thương vụ của Nhà nước” được đăng tải trên trang tài chính uy tín hàng đầu thế giới Bloomberg.
Dẫn nguồn tin từ tập đoàn ngân hàng Thụy Sỹ Credit Suisse, tác giả cho biết doanh thu mảng ngân hàng đầu tư tại Việt Nam trong năm nay có thể tăng ít nhất 25% trong bối cảnh chính phủ Việt Nam đẩy mạnh quá trình cổ phần hóa còn các công ty nước ngoài đẩy mạnh hoạt động mua bán sáp nhập.
“Mảng ngân hàng đầu tư tại Việt Nam đã vượt lên xu thế sụt giảm doanh thu ở khu vực châu Á khi giá trị các thương vụ sáp nhập trong quý 1 vừa qua tăng vọt lên mức cao nhất trong 6 năm trở lại đây.
Nhờ lạm phát giảm tốc và chính phủ điều chỉnh giảm các lãi suất điều hành để hỗ trợ tăng trưởng, chỉ số VN- Index đã tăng 29% tính theo USD, và là chỉ số có mức tăng ngoạn mục thứ ba trong số 96 chỉ số chứng khoán chính được Bloomberg theo dõi”, bài báo viết trước khi trích dẫn nhận định của ông Lê Hoài Anh - Giám đốc điều hành ngân hàng Credit Suisse tại Việt Nam: “Chúng tôi cho rằng Việt Nam là thị trường đầy tiềm năng”.
Chính phủ Việt Nam, những người đang đi theo mô hình của Trung Quốc trong việc giảm sự tham gia của nhà nước đến hoạt động kinh doanh, đã cam kết sẽ đẩy mạnh việc bán cổ phần tại các doanh nghiệp trong đó có ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Trong khi đó việc lạm phát đi xuống trong tháng thứ 8 liên tiếp đã thu hút các nhà đầu tư nước ngoài.
Trong năm ngoái, theo số liệu của công ty nghiên cứu Freeman & Co có trụ sở tại New York, doanh thu từ mảng ngân hàng đầu tư tại Việt Nam tăng tới 24% giữa lúc doanh thu toàn châu Á giảm gần 10%. Dù vậy thì với giá trị doanh thu khoảng 46 triệu USD, quy mô thị trường M&A Việt Nam chỉ bằng một phần mười Indonesia.
“Lí do các ngân hàng vẫn theo sát và dành nhiều thời gian tại Việt Nam không phải vì 46 triệu USD mà vì những khoản đầu tư cho tương lai”, ông Chang Tou Chen, người đứng đầu mảng ngân hàng đầu tư khu vực châu Á – Thái Bình Dương của ngân hàng HSBC khẳng định.
Hồi tháng 4/2011, KKR & Co. đã có thương vụ đầu tư vào công ty tư nhân lớn nhất trong lịch sử Việt Nam khi chấp thuận chi 159 triệu USD để mua cổ phần tại tập đoàn sản xuất nước mắm Masan Consumer Corp. Tháng 9 vừa qua, một ngân hàng quốc doanh với tên gọi Vietcombank cho biết sẽ bán 15% cổ phần cho ngân hàng Nhật Mizuho Financial Group Inc với giá 567 triệu USD, đánh dấu thương vụ mua bán cổ phiếu trong nước lớn nhất thập kỷ.
Ông Chang hy vọng mỗi năm sẽ có từ 1-2 thương vụ mua bán liên quan đến các công ty Việt Nam với giá trị hơn 500 triệu USD. Trong 10 năm qua, Việt Nam đã chứng kiến 2 thương vụ lớn cỡ vậy đó là trường hợp của Vietcombank và vụ chuyển nhượng mảng hoạt động tại Việt Nam của ConocoPhillips cho Perenco SA. với giá 1,3 tỷ USD.
“Việt Nam, theo cảm nhận của chúng tôi, đang mở ra những cơ hội lớn cho chúng tôi trở thành cầu nối giữa Việt Nam với thị trường vốn quốc tế, cung cấp kinh nghiệm chuyên môn và giúp đỡ chính phủ cũng như khu vực tư nhân”, Rehan Anwer, một giám đốc của mảng ngân hàng đầu tư tại Việt Nam của Credit Suisse cho biết. Ông dự tính doanh thu từ lĩnh vực mua bán, sáp nhập trong năm nay có thể tăng 25%.

(Lược dịch từ Bloomberg)

Lĩnh vực M&A tại Việt Nam hấp dẫn hàng đầu châu Á


Với mức doanh thu từ mảng mua bán, sáp nhập tăng trưởng tới 24% trong năm ngoái giữa lúc doanh thu toàn châu Á sụt giảm 10%, thị trường M&A Việt Nam đang được đánh giá là hứa hẹn hàng đầu châu lục.

Đây là nhận định của nhà báo Joyce Koh trong bài viết với tiêu đề: “Việt Nam dẫn đầu châu Á giữa lúc các ngân hàng đầu tư theo đuổi các thương vụ của Nhà nước” được đăng tải trên trang tài chính uy tín hàng đầu thế giới Bloomberg.
Dẫn nguồn tin từ tập đoàn ngân hàng Thụy Sỹ Credit Suisse, tác giả cho biết doanh thu mảng ngân hàng đầu tư tại Việt Nam trong năm nay có thể tăng ít nhất 25% trong bối cảnh chính phủ Việt Nam đẩy mạnh quá trình cổ phần hóa còn các công ty nước ngoài đẩy mạnh hoạt động mua bán sáp nhập.
“Mảng ngân hàng đầu tư tại Việt Nam đã vượt lên xu thế sụt giảm doanh thu ở khu vực châu Á khi giá trị các thương vụ sáp nhập trong quý 1 vừa qua tăng vọt lên mức cao nhất trong 6 năm trở lại đây.
Nhờ lạm phát giảm tốc và chính phủ điều chỉnh giảm các lãi suất điều hành để hỗ trợ tăng trưởng, chỉ số VN- Index đã tăng 29% tính theo USD, và là chỉ số có mức tăng ngoạn mục thứ ba trong số 96 chỉ số chứng khoán chính được Bloomberg theo dõi”, bài báo viết trước khi trích dẫn nhận định của ông Lê Hoài Anh - Giám đốc điều hành ngân hàng Credit Suisse tại Việt Nam: “Chúng tôi cho rằng Việt Nam là thị trường đầy tiềm năng”.
Chính phủ Việt Nam, những người đang đi theo mô hình của Trung Quốc trong việc giảm sự tham gia của nhà nước đến hoạt động kinh doanh, đã cam kết sẽ đẩy mạnh việc bán cổ phần tại các doanh nghiệp trong đó có ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Trong khi đó việc lạm phát đi xuống trong tháng thứ 8 liên tiếp đã thu hút các nhà đầu tư nước ngoài.
Trong năm ngoái, theo số liệu của công ty nghiên cứu Freeman & Co có trụ sở tại New York, doanh thu từ mảng ngân hàng đầu tư tại Việt Nam tăng tới 24% giữa lúc doanh thu toàn châu Á giảm gần 10%. Dù vậy thì với giá trị doanh thu khoảng 46 triệu USD, quy mô thị trường M&A Việt Nam chỉ bằng một phần mười Indonesia.
“Lí do các ngân hàng vẫn theo sát và dành nhiều thời gian tại Việt Nam không phải vì 46 triệu USD mà vì những khoản đầu tư cho tương lai”, ông Chang Tou Chen, người đứng đầu mảng ngân hàng đầu tư khu vực châu Á – Thái Bình Dương của ngân hàng HSBC khẳng định.
Hồi tháng 4/2011, KKR & Co. đã có thương vụ đầu tư vào công ty tư nhân lớn nhất trong lịch sử Việt Nam khi chấp thuận chi 159 triệu USD để mua cổ phần tại tập đoàn sản xuất nước mắm Masan Consumer Corp. Tháng 9 vừa qua, một ngân hàng quốc doanh với tên gọi Vietcombank cho biết sẽ bán 15% cổ phần cho ngân hàng Nhật Mizuho Financial Group Inc với giá 567 triệu USD, đánh dấu thương vụ mua bán cổ phiếu trong nước lớn nhất thập kỷ.
Ông Chang hy vọng mỗi năm sẽ có từ 1-2 thương vụ mua bán liên quan đến các công ty Việt Nam với giá trị hơn 500 triệu USD. Trong 10 năm qua, Việt Nam đã chứng kiến 2 thương vụ lớn cỡ vậy đó là trường hợp của Vietcombank và vụ chuyển nhượng mảng hoạt động tại Việt Nam của ConocoPhillips cho Perenco SA. với giá 1,3 tỷ USD.
“Việt Nam, theo cảm nhận của chúng tôi, đang mở ra những cơ hội lớn cho chúng tôi trở thành cầu nối giữa Việt Nam với thị trường vốn quốc tế, cung cấp kinh nghiệm chuyên môn và giúp đỡ chính phủ cũng như khu vực tư nhân”, Rehan Anwer, một giám đốc của mảng ngân hàng đầu tư tại Việt Nam của Credit Suisse cho biết. Ông dự tính doanh thu từ lĩnh vực mua bán, sáp nhập trong năm nay có thể tăng 25%.

(Lược dịch từ Bloomberg)

Thứ Sáu, 11 tháng 5, 2012

Thâu tóm qua ngân hàng: Tại sao không?

Con đường thâu tóm doanh nghiệp đôi khi không phải là đường thẳng.
Thay vì tiếp cận đối tượng mình muốn thâu tóm để đặt vấn đề, công ty đi thâu tóm có thể thông qua bên thứ ba. Hình thức thâu tóm này đang xuất hiện ngày càng nhiều trên thị trường. Cuối tháng 10.2011, Vinacafé Biên Hòa cho biết thay đổi cổ đông lớn, đánh dấu thời điểm Masan hoàn tất việc mua 50,11% cổ phần của công ty này. Tuy nhiên, việc Masan tham gia điều hành Vinacafé Biên Hòa đã được đặt nền móng từ 2 năm trước đó. Bên thứ ba giúp Masan thực hiện được ý định trên là Công ty Chứng khoán Bản Việt. Đơn vị này đã mua gom cổ phiếu của Vinacafé Biên Hòa, rồi bán lại cho Masan.
Cũng là chiến lược mua gom trong thời gian dài, nhưng quá trình thâu tóm Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín - Sacombank (STB) lại lại được tiến hành bởi một nhóm nhà đầu tư thông qua bên thứ ba là Ngân hàng Eximbank. Cuối tháng 2 vừa qua, mặc dù chỉ nắm khoảng 10% cổ phần STB, nhưng Eximbank tuyên bố đại diện cho 51% cổ phần và yêu cầu bầu lại Hội đồng Quản trị STB. Sau đó, kể từ ngày 12.4.2012, các cá nhân và tổ chức có liên quan đến Chủ tịch Hội đồng Quản trị đương nhiệm của STB đã đồng loạt bán ra cổ phiếu STB. Sự việc đã ngã ngũ.
Trong những vụ thâu tóm kể trên, bên thứ ba xuất hiện với vai trò xúc tác đẩy nhanh quá trình mua bán, hoặc cũng có thể là công cụ được người đi thâu tóm sử dụng để đánh vào đối tượng thâu tóm. Một điều đáng chú ý, bên thứ ba đó có thể là ngân hàng.
Khi nợ trở thành vốn
Do tình hình kinh tế khó khăn, doanh thu tại nhiều doanh nghiệp đã bị sụt giảm. Tuy nhiên, họ vẫn phải thanh toán chi phí hoạt động và các khoản phải trả đến hạn. Không ít doanh nghiệp đã mất cân đối nguồn tài chính, dẫn đến không thanh toán được nợ ngân hàng.
Là chủ nợ, tiếng nói của ngân hàng rất có trọng lượng. Tiếng nói này lớn đến đâu còn tùy thuộc vào mức độ ràng buộc của doanh nghiệp đối với khoản nợ. Thông thường, doanh nghiệp không chỉ có một chủ nợ mà là nhiều chủ nợ. Đối với mỗi khoản vay, doanh nghiệp sẽ có những cam kết đảm bảo khác nhau với thứ tự ưu tiên trả nợ khác nhau. Ngân hàng cho vay luôn muốn mình được ưu tiên trước hết. Hiện nay, việc ngân hàng cho vay với điều khoản rằng nợ sẽ được chuyển thành vốn góp trong một số trường hợp nhất định là khá phổ biến. Đây là một cách để ngân hàng tự bảo vệ mình.
Hành động này của ngân hàng lại tiềm ẩn rủi ro cho doanh nghiệp. Đó là doanh nghiệp đang có rắc rối tài chính rất dễ trở thành đối tượng bị thâu tóm. Bởi lẽ, không giống các trường hợp thâu tóm theo kiểu thuận mua vừa bán, những doanh nghiệp bị dồn vào đường cùng rất ít có khả năng mặc cả và thường bị mua với giá thấp hoặc kèm theo các điều khoản bất lợi cho chủ doanh nghiệp. Chẳng hạn, nhà đầu tư mới chỉ chiếm 20% vốn cổ phần nhưng có quyền đề cử, miễn nhiệm ban giám đốc, hạn chế việc thay đổi một số điều trong điều lệ của công ty.
Đó là điểm hấp dẫn đối với nhà đầu tư có tiền và có ý định thâu tóm. Nhìn lại, ngân hàng đưa ra điều khoản chuyển nợ thành vốn chỉ vì họ thấy có khả năng kinh doanh phần vốn này của công ty. Nếu một doanh nghiệp khác đưa ra mức giá hợp lý cho phần vốn này, ngân hàng có thể sẽ bán để thu tiền về. Như vậy, doanh nghiệp càng khó chống đỡ.
Những nghi vấn xung quanh vụ Công ty Thủy sản Bình An (Bianfishco) cũng xuất phát từ điểm này. Đầu năm 2012, khi Bianfishco vỡ nợ, nhiều người đã đặt câu hỏi về vai trò của những chủ nợ, mà ở đây là ngân hàng. Khi cho Bianfishco vay, không biết các ngân hàng có đặt vấn đề Công ty sẽ quản trị tài chính như thế nào khi có đến 10 chủ nợ và thực hiện các dự án khó khả thi như nước uống Collagen.
Thậm chí có người cho rằng, ngân hàng đứng đằng sau sự suy kiệt của Bianfishco. Trong cơ cấu cổ đông của Bianfishco, Habubank chiếm 10%. Ngân hàng này cũng đã cho Bianfishco vay khoảng 64 tỉ đồng. Khi Bianfishco bị vỡ nợ, có thông tin một đối tác Đan Mạch muốn mua lại Công ty. Cùng thời gian đó, có tin đồn đối tác nước ngoài này đã tiếp xúc với Habubank từ trước khi chuyện vỡ nợ được công bố.
Đích ngắm bất động sản
Tài sản ngân hàng chuộng nắm giữ vẫn là bất động sản hoặc cổ phần tại những công ty bất động sản có quỹ đất tốt. Đầu tháng 2 vừa qua, Ngân hàng HSBC tại Philippines đã đồng ý bán toàn bộ 34% cổ phần tại Tập đoàn Ortigas cho Tập đoàn SM. SM là nhà điều hành trung tâm thương mại lớn nhất tại quốc gia này, với 43 trung tâm mua sắm trên diện tích 4,5 triệu m2 tại các vị trí đắt đỏ ở Philippines. Trong khi đó, Ortigas lại có quỹ đất 50 ha tại trung tâm thủ đô Manila. Ông chủ của Tập đoàn SM, Henry Sy cho biết đang thương lượng mua lại khoảng 60% cổ phần Ortigas với giá 1 tỉ USD. Ông đã theo đuổi thương vụ này từ cách đây vài năm và một trong những việc ông phải làm là thuyết phục HSBC, cổ đông lớn nhất của Ortigas, đồng ý bán.
Rõ ràng, đối với các ngân hàng, việc nắm giữ bất động sản luôn có sức hấp dẫn của nó. Trên thực tế, nắm giữ bất động sản không khó, không đòi hỏi kiến thức chuyên môn cao. Bất động sản chỉ cần người quản lý và ngân hàng có thể thuê. Về lâu về dài, giá đất không bao giờ đi xuống. Nếu trường vốn, ngân hàng có thể đợi đến khi có người đưa ra mức giá vừa ý để bán. Hơn nữa, hầu hết các ngân hàng tại Việt Nam đều có công ty bất động sản riêng và các công ty này có thể đảm nhận phần việc trên.
Hiện nay, tình hình nợ xấu trong nước, nhất là nợ liên quan đến bất động sản, vẫn chưa bớt căng thẳng. Mặc dù dư nợ trực tiếp cho vay bất động sản chỉ dưới 10%, nhưng có đến 60% dư nợ được đảm bảo bằng bất động sản. Nợ xấu tăng đồng nghĩa có rất nhiều bất động sản sẽ bị ngân hàng xiết nợ. Doanh nghiệp vì khó khăn nên cũng sẵn sàng bán lỗ dự án.
Ông Nguyễn Văn Đực, Phó Giám đốc Công ty Địa ốc Đất Lành, cho biết nhiều ngân hàng lớn đang lên kế hoạch mua từ 70-80% cổ phần của các công ty bất động sản và họ sẽ có được lượng tài sản tích lũy phải đến 5-7 năm với giá bỏ ra chỉ bằng 50-70% giá trị thực tế.

Nguồn: Nhịp cầu đầu tư

Thứ Tư, 25 tháng 1, 2012

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ HỢP NHẤT CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN

Thời gian vừa qua, cùng với quá trình xây dựng đề án tái cơ cấu đầu tư công, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, Ngân hàng Nhà nước đang hoàn chỉnh Đề án tái cơ cấu lại  hệ thống các tổ chức tín dụng. Ngày 06 tháng 12 năm 2011, Ngân hàng Nhà nước chính thức công bố vụ hợp nhất tự nguyện đầu tiên giữa ba ngân hàng thương mại cổ phần (Sài Gòn, Việt Nam Tín nghĩa và Đệ Nhất) thành một ngân hàng thương mại cổ phần mới (NHTMCP).
Sự kiện hợp nhất 03 NHTMCP này là một trong những hành động cụ thể thực hiện đề án tái cơ cấu hệ thống các TCTD và chủ trương giảm nhanh số lượng các ngân hàng yếu kém, lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng, bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền. Việc hợp nhất các NHTMCP là quá trình phức tạp, liên quan đến lợi ích của nhiều bên và phát sinh nhiều vấn đề pháp lý cần xử lý. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin đề cập một số vấn đề pháp lý cần quan tâm, xử lý trong quá trình thực hiện hợp nhất các NHTMCP. 
1. Bản chất pháp lý của việc hợp nhất các NHTMCP
Theo quy định tại Thông tư 04/2010/TT-NHNN ngày 11/02/2010 của Ngân hàng Nhà nước (Thông tư 04), “hợp nhất tổ chức tín dụng” được hiểu là hình thức hai hoặc nhiều tổ chức tín dụng hợp nhất thành một tổ chức tín dụng mới bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang tổ chức tín dụng mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các tổ chức tín dụng bị hợp nhất. Như vậy, về bản chất pháp lý, hợp nhất các NHTMCP là việc hai hoặc nhiều NHTMCP hợp nhất với nhau thành một NHTMCP mới. Hệ quả pháp lý của hoạt động hợp nhất các NHTMCP là việc chấm dứt pháp nhân đối với các NHTMCP bị hợp nhất, đồng thời khai sinh một pháp nhân NHTMCP mới. Về mặt pháp lý, NHTMCP mới sẽ kế thừa toàn bộ quyền và
nghĩa vụ pháp lý của các NHTMCP bị hợp nhất, cụ thể bao gồm: (i) Quyền chủ nợ của các NHTMCP bị hợp nhất đối với các khoản cấp tín dụng, khoản đầu tư vào trái phiếu, chứng khoán nợ khác được chuyển sang cho NHTMCP mới; (ii) Quyền cổ đông, thành viên góp vốn, chủ sở hữu của các NHTMCP bị hợp nhất đối với các khoản góp vốn, mua cổ phần được chuyển sang NHTMCP mới; (iii) Quyền sở hữu đối với các tài sản của NHTMCP bị hợp nhất (như trụ sở, bất động sản, tài sản khác…) được chuyển sang NHTMCP mới; (iv) Các nghĩa vụ nợ đối với khoản vay, tiền gửi dưới mọi hình thức… của các NHTMCP bị hợp nhất cũng được chuyển sang NHTMCP mới. Hay nói cách khác, quyền của người gửi tiền tại các NHTMCP bị hợp nhất được bảo đảm. Việc bảo vệ quyền lợi của khách hàng, đặc biệt là người gửi tiền đã  được pháp luật quy
định thuộc trách nhiệm của các NHTMCP liên quan; (v) Các quyền và nghĩa vụ khác theo hợp đồng/thỏa thuận của các NHTM bị hợp nhất được chuyển giao sang NHTMCP mới.

2. Một số vấn đề pháp lý cần xử lý khi thực hiện hợp nhất các HTMCP
Quá trình thực hiện việc hợp nhất các NHTMCP có một số vấn đề pháp lý cần xử lý như sau:
Thứ nhất, về quyền và nghĩa vụ của cổ đông của các NHTMCP bị hợp nhất. Về mặt pháp lý, việc hợp nhất các NHTMCP chính là việc các cổ đông của NHTMCP bị hợp nhất góp vốn vào NHTMCP mới bằng tài sản là vốn cổ phần của cổ đông tại các NHTMCP bị hợp nhất. Theo quy định của Luật Doanh nghiệp, tài sản góp vốn không phải là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng phải được định giá.
Trong trường hợp hợp nhất  các NHTMCP, việc định giá tài sản góp vốn là căn cứ pháp lý để xác định tỷ lệ chuyển đổi cổ phần của cổ đông tại các NHTMCP bị hợp nhất sang cổ phần của NHTMCP mới và là căn cứ xác định mức vốn điều lệ của NHTMCP mới. Việc định giá tài sản góp vốn trong trường hợp hợp nhất các NHTMCP được thực hiện thông qua kiểm toán độc lập báo cáo tài chính của các NHTMCP bị hợp nhất. Ngoài ra, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông của NHTMCP mới, sự lành mạnh về tài chính của NHTMCP mới, việc định giá tài sản của các NHTMCP bị hợp nhất phải được thực hiện đồng thời với việc xử lý các khoản nợ xấu của các NHTMCP để xác định chính xác giá trị tài sản còn lại của cổ đông tại NHTMCP bị hợp nhất.
TẢI TOÀN VĂN BÀI VIẾT TẠI ĐÂY

Nguồn: TẠP CHÍ NGÂN HÀNG SỐ 24/2011