Hiển thị các bài đăng có nhãn IP. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn IP. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 2 tháng 6, 2013

THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ QUYỀN TÁC GIẢ TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006–2012 VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT TIẾP TỤC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ THỰC THI VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Luật sở hữu trí tuệ được ban hành năm 2005 và sửa đổi, bố sung năm 2009 đã tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho việc giải quyết các tranh chấp về sở hữu trí tuệ, trong đó có tranh chấp về tác quyền tại Việt Nam. Tuy nhiên, từ khi đạo Luật này có hiệu lực thi đến nay, tình hình giải quyết các tranh chấp về sở hữu trí tuệ tại Tòa án chưa thực sự đáp ứng được kỳ vọng và yêu cầu của xã hội.
Theo thống kê của Tòa án nhân dân tối cao từ tháng 7-2006 cho đến tháng 6-2012 các Tòa án chỉ thụ lý được 92 vụ án tranh chấp về quyền tác giả. Số vụ việc còn quá hạn chế này cho thấy, các chủ thể quyền sở hữu trí tuệ còn e ngại việc khởi kiện ra Tòa án mà thay vào đó, họ chọn việc xử lý hành vi xâm phạm bằng biện pháp hành chính. Xuất phát từ (i) tính mất cân xứng của luật nội dung về quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp, (ii) những bất cập của pháp luật về tố tụng đối với việc giải quyết các vụ tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, và (iii) sự non kém về năng lực chuyên môn của các cán bộ xét xử, hệ quả là tòa án chưa thực sự trở thành kênh giải quyết thuyết phục, ưa chuộng đối với các tranh chấp về tác quyền. Tác giả đã nêu một số đề xuất, bao gồm xây dựng luật riêng về quyền tác giả; thiết lập tòa án chuyên trách về sở hữu trí tuệ, thiết lập cơ quan đầu mối phối hợp trong phòng chống, xử lí có hiệu quả các hành vi xâm phạm tác quyền v.v. nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ và tăng hiệu lực thực thi trong thời gian tới ở Việt Nam.
1. Khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan và các tranh chấp phát sinh
1.1 Khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan
Pháp luật sở hữu trí tuệ quy định tác giả có các quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra. Khi tác giả sáng tạo tác phẩm theo nhiệm vụ được giao, theo hợp đồng hoặc chuyển giao quyền tác giả cho tổ chức, cá nhân khác thì tác giả chỉ còn giữ quyền nhân thân, bao gồm quyền đặt tên tác phẩm, quyền đứng tên tác giả của tác phẩm và quyền phản đối các hành vi cắt xén, bóp méo hoặc sửa đổi đối với tác phẩm có thể gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.
Chủ sở hữu tác phẩm có quyền cho phép hoặc phản đối việc khai thác sử dụng tác phẩm mà không được phép chủ sở hữu, dưới các hình thức sao chép, phân phối, nhập khẩu, cho thuê, biểu diễn công cộng, phát sóng và truyền đạt đến công chúng, làm tác phẩm phái sinh. Chủ sở hữu tác phẩm còn có quyền liên quan, bao gồm quyền của người biểu diễn đối với cuộc biểu diễn của mình; quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình đối với các bản ghi âm, ghi hình của mình; quyền của tổ chức phát sóng đối với các chương trình phát sóng của mình.
Quyền tác giả, bao gồm các quyền nhân thân và quyền tài sản, được xác lập ngay khi tác phẩm được sáng tạo và định hình dưới một hình hình thức vật chất nhất định. Quyền liên quan (quyền của người biểu diễn, quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, quyền của tổ chức phát sóng) được xác lập ngay khi đối tượng quyền liên quan được sáng tạo và định hình dưới một hình hình thức vật chất nhất định.
Thực tiễn hoạt động khai thác, chuyển giao quyền tác giả, quyền liên quan (QTG, QLQ) ở Việt Nam thể hiện qua các mặt như sau:
- Đăng ký, chuyển giao quyền tác giả, quyền liên quan của chủ sở hữu quyền
Sau khi Luật Sở hữu trí tuệ 2005 được ban hành, số lượng tác phẩm, đối tượng quyền liên quan được chuyển giao phổ biến đến công chúng được tăng lên theo từng năm Năm 2007, có 3230 tác phẩm và đối tượng quyền liên quan được đăng ký cấp Giấy chứng nhận. Năm 2008, có 4922 tác phẩm và đối tượng quyền liên quan được đăng ký cấp Giấy chứng nhận. Số lượng tác phẩm, đối tượng quyền liên quan được chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan cho chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan đến đăng ký ước tính chiếm khoảng 70%. Các tác phẩm đã và đang được khai thác, chuyển giao một cách có hiệu quả, thông qua đó mang lại lợi ích đáng kể cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan, tổ chức cá nhân khai thác sử dụng và công chúng hưởng thụ, góp phần thúc đẩy kinh tế, văn hoá phát triển.
- Việc uỷ thác của chủ sở hữu quyền cho các tổ chức đại diện quyền tác giả, quyền liên quan
Hiện nay, hệ thống tổ chức đại diện quyền tác giả, quyền liên quan ở Việt Nam đã được hình thành và đang đi vào hoạt động có hiệu quả. Hiện có các tổ chức đại diện quyền tác giả, quyền liên quan đáng chú ý là: Trung tâm bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam, Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Việt nam và Trung tâm quyền tác giả văn học. Đến năm 2009, Trung tâm bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam đã có 1300 thành viên uỷ thác cho Trung tâm quản lý, thu tiền bản quyền từ việc khai thác sử dụng các tác phẩm của thành viên. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Việt Nam đã có 35 thành viên uỷ thác cho Hiệp hội quản lý, thu tiền bản quyền từ việc khai thác sử dụng các bản ghi âm, ghi hình của thành viên. Trung tâm quyền tác giả văn học đã có 2040 thành viên uỷ thác cho Trung tâm quản lý, thu tiền từ việc khai thác sử dụng tác phẩm văn học của các thành viên [1].
- Chuyển giao quyền sử dụng tác phẩm cho các nhà xuất bản
Hiện nay, đã có một số lượng khá lớn đầu sách của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả chuyển giao cho nhà xuất bản khai thác sử dụng để xuất bản, công bố phổ biến đến công chúng. Năm 2007 có gần 27 ngàn đầu sách được xuất bản, công bố; năm 2008 có gần 19 ngàn đầu sách được xuất bản, công bố.
1.2 Các tranh chấp, vi phạm tác quyền phát sinh trong khai thác, sử dụng QTG, QLQ và một số nguyên nhân
Tuy nhiên, hoạt động khai thác, chuyển giao quyền tác giả, quyền liên quan cũng đang gặp những khó khăn, chủ yếu do việc nhiều tác phẩm bị sử dụng trái phép, hoặc chủ sở hữu tác phẩm khó xác định giá cả, thoả thuận mức tiền bản quyền khi khai thác, chuyển giao, thu tiền bản quyền của các đối tượng sử dụng. Thực tế đã có rất nhiều vụ vi phạm quyền tác giả như: tái bản sách, biểu diễn sân khấu, thu băng đĩa nhạc, băng hình… không xin phép tác giả, không trả nhuận bút cho tác giả.
Tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nói chung, quyền tác giả nói riêng vẫn còn phổ biến với thủ đoạn ngày càng tinh vi, mà các hành vi xâm phạm này lại chưa bị xử lý một cách đúng mức.
Một số vụ điển hình về khiếu nại, khởi kiện vi phạm bản quyền tác giả đáng chú ý như:
- Vụ khiếu nại đến Cục Bản quyền tác giả về tác giả của bài “Tiến Quân Ca”;
- Vụ phát hành bộ phim nhựa "Vị đắng tình yêu" Tập 2, người được uỷ nhiệm phát hành đã in trái phép một bản phim nhựa đem đi chiếu thu lơi.
- Vụ ông Nguyễn Quảng Tuân kiện ông Đào Thái Tôn vi phạm quyền tác giả [2].
- Vụ Nguyên đơn Phạm Thị Hà, nhà báo công tác tại “Thời báo kinh tế Việt Nam” khởi kiện Bị đơn – Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin vi phạm quyền tác giả [3].
- Vụ Nguyên đơn – Công ty cổ phần Phần Mềm Hà Nội (Hanoi Software JSC) khởi kiện Bị đơn -Công ty cổ phần Thương Mại Số (Digital Trade) vi phạm quyền tác giả phần mềm máy tính.
- Vụ Nguyên đơn – Công ty CP Làng mộc Văn Hà, Quảng Nam khởi kiện Bị đơn – Công ty CP tư vấn đầu tư & xây dựng Tường Phát, Đà Nẵng vi phạm quyền tác giả bản vẽ kiến trúc.
- Vụ Nguyên đơn – Công ty TNHH Văn hóa Sáng tạo Trí Việt (First News) khởi kiện bị đơn – Công ty TNHH Hội Việt Úc do vi phạm quyền tác giả đối với giáo trình, tài liệu giảng dạy Anh ngữ.
Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến tình trạng các tranh chấp, vi phạm quyền tác giả ngày một gia tăng. Một là, hành vi xâm phạm quyền tác giả luôn tạo ra “siêu lợi nhuận” nên hấp dẫn nhiều đối tượng tham gia trên nhiều địa bàn và nhiều lĩnh vực khác nhau. Hai là, trong quá trình hội nhập, nhiều người tiêu dùng ưa lựa chọn những tác phẩm giả “như thật” mà lại có giá bán thấp. Lợi dụng tình trạng này, việc có không ít chủ thể thiếu ý thức tôn trọng pháp luật, sao chụp, mô phỏng, giành giật thị truờng trở thành hiện tuợng phổ biến. Đó cũng là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các tranh chấp quyền tác giả. Ba là, phần lớn các chủ sở hữu trí tuệ chưa thực sự chú ý đến việc bảo vệ quyền lợi của mình, chưa chủ động đăng ký bảo hộ quyền tác giả để dễ dàng bảo vệ lợi ích của mình. Bốn là, các quy định về sở hữu trí tuệ và hành vi xâm phạm sở hữu trí tuệ còn chưa tập trung
2. Thực tiễn giải quyết tranh chấp, vi phạm về quyền tác giả, quyền liên quan giai đoạn từ 2004 đến nay:
2.1 Xử lý hành chính các vi phạm về QTG, QLQ
Các quy định xử phạt hành chính về quyền tác giả và quyền liên quan đã được ban hành trong Nghị định số Nghị định số 56/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 6 năm 2006 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa – thông tin (“NĐ 56”). Tuy nhiên, các quy định này chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu đối với việc quản lý nhà nước trong lĩnh vực liên quan. Ngày 13/05/2009 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 47/2009/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính về quyền tác giả và quyền liên quan. Đối tượng điều chỉnh của Nghị định 47 là các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan trên lãnh thổ Việt Nam. Nghị định 47 quy định về hình thức phạt tiền, tùy tính chất và mức độ của hành vi xâm phạm, mức phạt tiền có thể tới 500 triệu đồng.
Năm 2006, Thanh tra chuyên ngành Văn hóa – Thông tin kiểm tra 20.414 cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa đã phát hiện 5.647 cơ sở vi phạm. Các đoàn kiểm tra đã cảnh cáo 519 cơ sở, đình chỉ hoạt động 289 cơ sở, tạm giữ giấy phép kinh doanh của 160 cơ sở, chuyển xử lý hình sự 9 trường hợp. Năm 2010, lực lượng thanh tra liên ngành đã tổ chức thanh tra tại 60 doanh nghiệp, kiểm tra 2361 máy tính. Hầu hết các doanh nghiệp đều vi phạm sử dụng phần mềm máy tính không hợp pháp và đã bị xử phạt vi phạm hành chính và yêu cầu dừng sử dụng phần mềm bất hợp pháp [4].
Thực tiễn cho thấy, hầu hết các vi phạm về quyền tác giả, quyền liên quan chủ yếu đã và sẽ được xử lý bằng con đường hành chính. Theo quy định của pháp luật hiện hành, hầu hết các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đều có thể xử lý bằng biện pháp hành chính. Điều này đã dẫn đến tình trạng “hành chính hoá” các quan hệ dân sự. Một số trường hợp xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ tuy thuộc lĩnh vực dân sự, lẽ ra cần được giải quyết theo thủ tục dân sự tại toà án nhưng lại được xử lý bằng biện pháp hành chính cho đơn giản và đỡ tốn kém. Tuy nhiên, tố tụng tư pháp tại tòa án vẫn là một kênh riêng để giải quyết các tranh chấp về quyền tác giả, quyền liên quan ở Việt Nam.
2.2 Giải quyết các tranh chấp về QTG, QLQ tại Tòa án: tóm tắt một số vụ việc điển hình
- 2.2.1 Vụ Nguyên đơn Phạm Thị Hà, nhà báo công tác tại “Thời báo kinh tế Việt Nam” khởi kiện bị đơn – Nhà xuất bản Văn hoá thông tin.
NXB Văn hóa thông tin, vào quí IV năm 2004, đã xuất bản cuốn sách “Doanh nhân thành đạt và bài học kinh nghiệm thương trường” do Nhà xuất bản Văn hoá – thông tin liên kết với nhà sách Hương Thuỷ của công ty văn hoá Phương Bắc có sử dụng 8 bài viết của tác giả đã đăng tải trên chuyên mục Doanh nhân thế giới của Thời báo kinh tế Việt Nam từ đầu năm 2003 đến 2006 không được phép tác giả. Tám bài viết của tác giả Phạm Thị Hà trong xuất bản phẩm nêu trên còn bị thay đổi nhan đề, đảo các đoạn văn trong bài viết; cắt bớt một số câu trong bài viết v.v…. Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2005/DSST ngày 26/6/2006, và Bản án dân sự phúc thẩm số 237/2006/DSPT ngày 17/11/2006 đều đã quyết định chấp nhận một phần yêu cầu kiện vi phạm quyền tác giả của nguyên đơn, buộc bị đơn phải công khai xin lỗi tác giả Phạm Thị Hà trong 3 số báo liên tiếp của Báo Nhân dân; không được tái bản cuốn sách “Doanh nhân thành đạt và bài học kinh nghiệm thương trường” nếu không được sự đồng ý của tác giả.
- 2.2.2 Vụ ông Nguyễn Quảng Tuân kiện ông Đào Thái Tôn vi phạm quyền tác giả do đã trích dẫn không phép nguyên văn bốn bài viết của tác giả vào tác phẩm "Văn bản Truyện Kiều – Nghiên cứu và thảo luận”.
Tại Bản án số 68/2006/DSST ngày 25, 26-12-2006, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội chấp nhận yêu cầu kiện xâm phạm quyền tác giả của ông Nguyễn Quảng Tuân đối với ông Đào Thái Tôn, tuyên buộc ông Đào Thái Tôn phải tổ chức xin lỗi ông Nguyễn Quảng Tuân ở nơi ông Tuân đang cư trú; buộc ông Tôn phải thanh toán tiền nhuận bút cho ông Tuân số tiền là 1.040.400 đồng; buộc ông Tôn phải bồi thường về vật chất và tinh thần cho ông Tuân là 25.000.000 đồng. Tổng cộng các khoản ông Tôn phải thanh toán và bồi thường cho ông Tuân là: 26.040.400 đồng.
- 2.2.3 Vụ Công ty cổ phần Phần Mềm Hà Nội (Hanoi Software JSC). Khởi kiện Công ty cổ phần Thương Mại Số (Digital Trade).
Ngày 17/1/2007, tòa Kinh Tế, Tòa Án Nhân Dân TP.Hà Nội đã thụ lý vụ kiện vi phạm bản quyền phần mềm giữa Nguyên đơn – Công ty cổ phần Phần Mềm Hà Nội (Hanoi Software JSC) và Bị đơn – Công ty cổ phần Thương Mại Số (Digital Trade). Đây là vụ giải quyết bản quyền phần mềm thứ hai ở Việt Nam bằng con đường tòa án.
Công ty Hanoi Software JSC (HNS) từ năm 2003, được cho là đã nghiên cứu và phát triển ra một phần mềm quản trị website và đặt tên là WEB++. Từ tháng 9/2006, công ty biết được Digital Trade đã giới thiệu, kinh doanh sản phẩm I-Web có các tính năng giống hệt sản phẩm WEB++ mà Hanoi Software JSC kinh doanh từ 3 năm qua. Hanoi Software đã nhanh chóng xác minh và có được các bằng chứng chứng tỏ Digital Trade vi phạm quyền tác giả sản phẩm WEB++ thông qua một nhân viên cũ của Hanoi Software là Hoàng Tùng, nay đang công tác tại công ty Digital Trade. Hanoi Software đã thuê luật sư hỗ trợ xử lý vụ việc, bảo vệ quyền lợi chính đáng.
Ngày 24/10/2006, Digital Trade đã thừa nhận sản phẩm I-Web là WEB++ do chính nhân viên cũ của Hanoi Software đem về sử dụng và phát triển, thừa nhận bằng văn bản đó là hành vi sử dụng bất hợp pháp, hủy bỏ các mã nguồn WEB++ đang có, cam kết dừng việc kinh doanh sản phẩm này và đền bù thiệt hại vật chất. Như vậy, I-Web chỉ là tên của sản phẩm WEB++ bị đổi một cách trái phép. Công ty Hanoi Software cũng tạo điều kiện để Digital Trade thay thế hoặc dỡ bỏ sản phẩm trái phép đã bán trong vòng 03 tháng. Tuy nhiên, Digital Trade vẫn tiếp tục kinh doanh trái phép mặc dù đã được tạo điều kiện xử lý tranh chấp hợp lý. Ngày 25/12/2006, công ty Hanoi Software JSC đã chính thức gửi đơn kiện công ty Digital Trade ra Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
- 2.2.4 Vụ Nguyên đơn – Công ty CP Làng mộc Văn Hà, trụ sở tại thị trấn Vĩnh Điện, Huyện Điện Bàn, Quảng Nam khởi kiện Bị đơn là Công ty CP tư vấn đầu tư & xây dựng Tường Phát, trụ sở tại 92 Trần Xuân Lê, QuậnThanh Khê, Đà Nẵng.
Tháng 3/2011, Bộ Chỉ huy quân sự (BCHQS) TP Đà Nẵng liên hệ với Công ty CP Làng mộc Văn Hà để lập hồ sơ thiết kế – dự toán công trình "Nhà ăn bằng gỗ – Sân vườn khu nhà ăn – Hồ nước – Hòn non bộ". Công ty CP Làng mộc Văn Hà lập và hoàn thiện toàn bộ hồ sơ thi công (hồ sơ thiết kế – kiến trúc) và đã bàn giao toàn bộ hồ sơ cho Ban Doanh trại BCHQS TP Đà Nẵng để xét duyệt giao thầu.
Bị đơn – Công ty CP tư vấn đầu tư & xây dựng Tường Phát được yêu cầu phải chấm dứt hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc do đã sử dụng nguyên mẫu bản vẽ thiết kế – kiến trúc mà Công ty CP Làng mộc Văn Hà đã giao, là bản vẽ thiết kế khu nhà rường Việt Nam, Nhà ngũ gian tứ hạ đã được Cục Bản quyền tác giả cấp bản quyền, phải tháo dỡ các hạng mục công trình Nhà vọng nguyệt lục giác, Cổng tam quan cổ lầu, Nhà ngũ gian tứ hạ đã và đang thi công tại Doanh trại Ban Chỉ huy quân sự TP Đà Nẵng tại số 38 Trần Phú – Đà Nẵng.
Tháng 9/2011, Tòa án nhân dân TP Đà Nẵng đã tiến hành phiên hòa giải giữa các bên liên quan, nhưng không thành. Tòa án đã quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án để chờ kết quả giám định đối với các bản vẽ thiết kế liên quan [5]. Tuy nhiên, Bản giám định gửi kèm công văn số 22/CV-LHH ngày 29/03/2012 của Ban tư vấn, phản biện và giám định xã hội thuộc Liên hiệp các hội Khoa học kỹ thuật thành phố Đà Nẵng với kết quả chung chung, không có phần kết luận, chưa trở thành căn cứ vững chắc để Nguyên đơn có thể thắng Bị đơn trong vụ kiện hy hữu này.
- 2.2.5 Vụ Nguyên đơn – Công ty TNHH Văn hóa Sáng tạo Việt (First News) khởi kiện bị đơn – Công ty TNHH Hội Việt Úc do trung tâm Anh ngữ của bị đơn có hành vi sao chép sách, đĩa CD các giáo trình TOEIC, TOEFL iBT mà Nguyên đơn nắm giữ bản quyền tại Việt Nam để bán trái phép cho các học viên.
Tháng 10/2011, First News yêu cầu Bộ công an và sở Văn hóa thông tin và truyền thông tiến hành khám xét và xử phạt các đối tượng nêu trên. Tháng 12/2011, Bộ Công An kết hợp với Sở Văn hóa thông tin và truyền thông tiến hành khám xét các trung tâm ngoại ngữ thuộc Công ty TNHH Hội Việt Úc, và một số cơ sở khác, tịch thu hàng loạt sách vi phạm bản quyền.
Ngày 21/2/2012 tại Hội Nhà Báo Việt nam, Công ty First News – Trí Việt đã lên tiếng về việc các trường ngoại ngữ vi phạm bản quyền sách các tựa sách (600 Toeic essential For The TOEIC Test, TOEIC Analyst, Stater TOEIC, Target TOEIC, Very Easy TOEIC, Building Skills for the TOEFL Ibt, Developing Skills for the TOEFL Ibt, Mastering Skills for the TOEFL Ibt) và khởi kiện nếu các trường cố tình tái phạm. Tháng 3/2012, sau khi thu thập đầy đủ tang chứng, vật chứng vi phạm bản quyền của 10 trường ngoại ngữ, Công ty văn hóa sáng tạo Trí Việt – First News cùng Văn phòng Luật sư Người nghèo khởi kiện Công ty TNHH Hội Việt Úc (Trung tâm Anh ngữ Quốc Tế Úc Châu và trường Anh Văn Hội Việt Úc) ra Tòa án Nhân dân TP HCM [6].
Sau ba lần hòa giải trước tòa án kéo dài trong 3 tháng, tại buổi họp báo 14/6/2012 do First News tổ chức, Công ty TNHH Hội Việt Úc, trường Quốc Tế Úc Châu đã thừa nhận hành vi sai trái, chấp nhận bồi thường với mức phạt 380 triệu và ký kết hợp đồng sẽ mua sách của First News.
2.3 Truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi (tội phạm) xâm phạm quyền tác giả
Theo Điều 212 Luật SHTT năm 2005, cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự. Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi 2009, có một số điều quy định về các tội phạm có liên quan.
Theo quy định tại Điều 131 Bộ luật Hình sự về Tội xâm phạm quyền tác giả, các hành vi sau đây nếu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì bị phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến hai năm: (1) chiếm đoạt quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, báo chí, chương trình băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình; (2) mạo danh tác giả trên tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, báo chí, chương trình băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình; (3) sửa đổi bất hợp pháp nội dung của tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, báo chí, chương trình băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình và (4) công bố, phổ biến bất hợp pháp tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, báo chí, chương trình băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình.
Tuy nhiên, cho đến năm 2012, chưa có hành vi vi phạm quyền tác giả nào được truy tố và xét xử theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Ngày 12/11/2011, Phòng PC 46 kết hợp với Đội quản lý thị trường số 15 đã khám xét, kiểm tra khẩn cấp và thu giữ gần 10.000 cuốn sách lậu (thành phẩm và bán thành phẩm) tại cơ sở Huy Thi – Khu tập thể Nhà máy in Bộ Tổng tham mưu (Ngọc Hồi, Hà Nội). Hai tựa sách bị in lậu bao gồm: “Quẳng gánh lo âu & vui sống”: 1.040 cuốn + 120 kg ruột sách; “7 thói quen của bạn trẻ thành đạt”: 812 cuốn + 10.000 bìa sách + 325 kg ruột sách. Sách vi phạm được scan toàn bộ từ nội dung đến hình thức của sách thật, có đầy đủ trang bản quyền, logo First News và NXB, ruột sách được in ấn cẩu thả, chữ mờ, giấy mỏng, các trang có hình, trang bản quyền không rõ nét, bìa cán láng trên giấy mềm, dễ nhận biết. Giá sách vi phạm được in với giá bìa cao hơn sách thật từ 20% đến 72%. Sách vi phạm để giá cao hơn nhằm giảm giá ngược lại cho người mua 30 – 40%, thực chất sách vi phạm vẫn bán giá cao hơn sách thật nhưng chất lượng kém hơn so với sách thật.
Ngày 15/11/2011, Công ty First News tuyên bố sẽ yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố bị can đối với cơ sở Huy Thi về hành vi làm hàng giả và xâm phạm quyền tác giả [7]. Tuy nhiên, đến tháng 10/2012 cơ sở Huy Thi vẫn chưa bị cơ quan điều tra khởi tố bị can sau hơn một năm bị phát giác hành vi vi phạm quyền tác giả.
3. Vài nhận xét về việc giải quyết tranh chấp về QTG, QLQ tại Việt Nam và một số đề xuất bước đầu:
Luật Sở hữu trí tuệ có hiệu lực kể từ 01/7/2006, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ nói chung và xâm phạm quyền tác giả vẫn có chiều hướng gia tăng, một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này là pháp luật về SHTT vẫn còn nhiều điểm bất cập [8]. Bạn đọc có thể xem thêm về các bất cập này tại Tạp chí Luật học, số 7, (122) năm 2010.
Theo số liệu của Tòa án nhân dân tối cao, kể từ khi Luật Sở hữu trí tuệ có hiệu lực thi hành (từ ngày 01/7/2006) thì tình hình giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ tại Tòa án cũng không có sự tăng lên một cách đáng kể. Từ 01/7/2006 cho đến ngày 22/6/2009 toàn ngành Tòa án chỉ thụ lý được 108 vụ án tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ (trong đó chiếm đa số là tranh chấp về quyền tác giả với 90 vụ; tranh chấp về hợp đồng sử dụng tác phẩm chiếm 5 vụ. Nếu chỉ tính riêng đối với Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội thì từ ngày 01/7/2006 đến năm 2009, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội mới chỉ thụ lý giải quyết có 7 vụ án, nhưng thực chất chỉ là 5 vụ án, vì có 2 vụ án phải xét xử xử phúc
thẩm lần thứ 2 [9].
Vậy nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng bất cập giữa thực trạng tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ với số lượng thấp về vụ án tranh chấp về quyền tác giả được giải quyết như trên? Có thể nhận thấy một số nguyên nhân chủ yếu là:
- Bản thân hệ thống toà án chưa đủ năng lực xét xử và thực thi [10] về quyền tác giả. Kinh nghiệm xét xử và kiến thức chuyên môn về tác giả của các thẩm phán còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu, khiến cho một số bản án của toà án chưa đảm bảo chất lượng như kỳ vọng. Có trường hợp Tòa án còn phải ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự với lý do cần chờ kết quả trả lời của các cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ và các cơ quan chuyên môn (xem Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 08/2010/QĐST-DS ngày 18-3-2010 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đối với vụ án dân sự thụ lý số 59/2009/TLST-DS ngày 02-10-2009 về tranh chấp quyền tác giả giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Khoan, trú tại Số 2 ngõ 219/18 tổ 25 đường Nguyễn Ngọc Vũ, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội với bị đơn – Hãng phim Hội nhà văn Việt Nam).
- Thủ tục xét xử tại toà án còn rườm rà và kéo dài, gây tốn kém về thời gian, tiền bạc và công sức của người theo đuổi vụ kiện. Điều này cũng gây ra tâm lý của người dân e ngại không muốn khởi kiện các vụ tranh chấp, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ tại toà án.
- Một số quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ chưa cụ thể, rõ ràng khiến cho các thẩm phán gặp khó khăn, lúng túng khi xét xử, chẳng hạn như chưa có quy định cụ thể hướng dẫn về cách tính mức bồi thường thiệt hại trong các vụ xâm phạm, tranh chấp về sở hữu trí tuệ.
Để hướng tới việc tòa án thực sự trở thành kênh giải quyết thuyết phục, ưa chuộng đối với các tranh chấp về tác quyền tác giả, một số đề xuất bước đầu cần được các cấp có thẩm quyền lưu ý như sau:
- Sớm thiết lập cơ quan đầu mối phối hợp trong phòng chống, xử lí có hiệu quả các hành vi xâm phạm tác quyền, trong đó Cục bản quyền tác giả và ngành tòa án giữ vai trò phối hợp quan trọng. Tăng cường quyền hạn của cơ quan thanh tra chuyên ngành trong xử lý các hành vi vi phạm quyền tác giả,
- Lập kế hoạch rà soát và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, thẩm phán theo hướng chuyên sâu về sở hữu trí tuệ. Hiện nay, đa số cán bộ, Thẩm phán của các Tòa án còn thiếu kiến thức có hệ thống về sở hữu trí tuệ, số cán bộ, Thẩm phán được đào tạo về sở hữu trí tuệ còn hạn chế. Do vậy, cần chú trọng xây dựng các mục tiêu và chương trình đào tạo có hệ thống để đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ, Thẩm phán ở các Tòa án hiện nay.
- Trước mắt, tập trung thẩm quyền xét xử tại Toà án Nhân dân Thành phố Hà Nội và Toà án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; đồng thời nghiên cứu, chuẩn bị cho việc thành lập Toà chuyên trách về sở hữu trí tuệ tại ba thành phố lớn là Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh.
- Tài sản quyền tác giả và quyền liên quan là loại tài sản đặc thù, khác biệt với các tài sản sở hữu công nghiệp của sở hữu trí tuệ, trong đó đặc biệt khác về cơ chế xác lập, thực thi bảo hộ…. Do vậy, về lâu dài cần tổ chức nghiên cứu xây dựng và ban hành riêng biệt Luật quyền tác giả, quyền liên quan.
CHÚ THÍCH:
[1] Bùi Nguyên Hùng; Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động khai thác, chuyển giao quyền tác giả, quyền liên quan ở nước ta hiện nay (Chuyên đề số 6, Đề tài NCKH về tài sản ảo, Uỷ ban Kinh tế Quốc hội, 2009)
[2] Bùi Nguyên Hùng, tài liệu đã dẫn
[3] Bản án số 68/2006/DSST ngày 25, 26/12/2006 của Toà án Nhân dân Thành phố Hà Nội, về việc xâm phạm quyền tác giả và yêu cầu bồi thường thiệt hại do danh dự và uy tín bị xâm phạm
[4] Bản án số 237/2006/DSPT Ngày 17/11/2006, bản án dân sự sơ thẩm số 27/2005/DSST ngày 26/6/2006, của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội
[5] Cổng thông tin Hội doanh nghiệp trẻ Hà Nội, Việt Nam nghiêm khắc xử lý vi phạm bản quyền phần mềm trong nước, đăng ngày 17/10/2011
[6] Diễn đàn doanh nghiệp, ngày 23/10/2011, Hầu tòa vì nhà cổ
[7 ] Thông báo số 2483/KDTMST ngày 01/12/2011 của Tòa án ND TP Hồ Chí Minh gửi Công ty TNHH Văn hóa sáng tạo Trí Việt
[8] Bản Tóm tắt quá trình khởi kiện, do Công ty First News gửi cho tác giả tháng 11/2011
[9] Những bất cập trong quy định của pháp luật SHTT Việt Nam hiện hành về quyền tác giả, quyền liên quan, Tạp chí Luật học, số 7, (122) năm 2010
[10] Nguyễn Văn Tiến, Thực tiễn giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ tại Tòa án nhân dân, tại trang http://www.toaan.gov.vn
[11] Mạc Minh Quang, Nâng cao năng lực của các cơ quan có thẩm quyền trong lĩnh vực xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, Luận văn Thạc sĩ Quản lý Khoa học và Công nghệ, VNU 2007, trang 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Alan Latman, Robert A. Gorman, Jane C. Ginsburg; Copyright for the nineties: cases and materials; 3rd ed. Charlottesville, Michie Co., 1989, 857 p.
2. Glenn A. Woroch. The economics of intellectual property protection for software: the proper role for copyright. Published by Department of Economics University of California – Berkeley, 1994
3. Lei Sun ; Li Zhao ; Xin Tong và W. Clock Carey, The legal envỉonment for copyright Protection and Trust management in China [i]
4. Trần Văn Nam, Về khai thác khía cạnh thương mại của quyền tác giả thông qua các tổ chức quản lý tập thể tại Việt Nam; Tạp chí kinh tế và phát triển, Đại học Kinh tế quốc dân, số 147, tháng 9/2009
[*] Bài viết đăng kỷ yếu và trình bày tại Hội thảo Quốc tế về Việt Nam học lần thứ IV ngày 26-28/11/2012 tại Hà Nội; Tiểu ban số 7: Pháp luật Việt Nam trong thời đại pháp quyền vì mục tiêu phát triển bên vững.

Nguồn: Tham luận tại Hội thảo Quốc tế về Việt Nam học lần thứ IV ngày 26-28/11/2012 tại Hà Nội; Tiểu ban số 7: Pháp luật Việt Nam trong thời đại pháp quyền vì mục tiêu phát triển bên vững.

Thứ Năm, 17 tháng 5, 2012

BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ – HIỆP ĐỊNH TRIPS, TRIPS CỘNG VÀ ACTA

Trở thành Thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) sau 10 năm miệt mài đàm phán và thuyết phục cũng như liên tục chấn chỉnh hệ thống pháp luật quốc gia là một thành công của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới. Nhưng đó chỉ là điểm khởi đầu, để thực sự hưởng lợi từ các quan hệ kinh tế, thương mại quốc tế Việt Nam còn phải tiếp tục và luôn luôn thực hiện những cam kết của mình trong nhiều lĩnh vực. Trong đó, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) là một trong những cam kết quan trọng không thể xem nhẹ.
Trong quá trình chuẩn bị gia nhập chính thức vào WTO, Việt Nam đã có những điều chỉnh lập pháp quan trọng. Ngoài ra, để gia nhập WTO, Việt Nam còn phải tiến hành hàng loạt các thay đổi về chính sách và pháp luật để tuân thủ các nguyên tắc và quy định của tổ chức này. Năm năm sau khi trở thành thành viên chính thức của WTO, Việt Nam đã và vẫn đang tiếp tục củng cố hệ thống pháp luật để thực thi ngày càng tốt hơn.
Hiểu một cách đúng đắn về một hệ thống sở hữu trí tuệ mạnh trong khuôn khổ những cam kết với tư cách thành viên của Hiệp định TRIPS (1) và thấy được những thách thức khi thực hiện các cam kết quốc tế trong lĩnh vực này (2) giúp Việt Nam dễ dàng có những bước chuẩn bị tốt trước những đòi hỏi bảo hộ SHTT ngày càng cao hơn trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới (3).
1 – Hệ thống SHTT và ý nghĩa của việc trở thành thành viên Hiệp định TRIPS
1.1 Sự cần thiết phải có một hệ thống SHTT
Hệ thống SHTT được hiểu là tập hợp các quyền SHTT và các chính sách bảo hộ quyền SHTT. Hệ thống SHTT mang tính quốc gia vì nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội riêng biệt của từng quốc gia. Chính các điều kiện này bao gồm các chính sách, cơ sở hạ tầng và đặc biệt nguồn nhân lực đóng vai trò quyết định đối với một hệ thống SHTT mạnh. Bên cạnh đó, một chính sách tốt phải đưa ra được các tiêu chuẩn xác lập quyền của chủ sở hữu quyền. Nói cách khác, chính sách này phải xác định phạm vi được bảo hộ của các đối tượng của quyền SHTT. Sự giới hạn quyền SHTT hợp lý cho phép hoàn thành mục tiêu phát triển kinh tế quốc dân bảo đảm công bằng xã hội. Muốn đạt được điều đó trong các chính sách quốc gia về SHTT không thể thiếu những chế tài đối với các hành vi xâm phạm quyền SHTT.

Trên bình diện quốc gia, để phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế thành công một hệ thống quyền SHTT là yếu tố cần thiết vì nó có ảnh hưởng quan trọng đến các hoạt động thương mại của quốc gia đó. Ngoài ra với xu thế toàn cầu hoá hiện nay, hệ thống này cũng phải phù hợp với những quy tắc phổ biến của quốc tế như Hiệp định TRIPS.
1.2 Hiệp định TRIPS và những nguyên tắc bảo hộ tối thiểu
Quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng được thắt chặt giữa các quốc gia thì càng xuất hiện các vấn đề liên quan đến hàng giả và vi phạm bản quyền liên quan đến sở hữu trí tuệ. Đó trở thành một vấn đề rất quan trọng trong giao dịch thương mại xuất phát từ giá trị to lớn của “know-how” trên cơ sở các sản phẩm được thương mại hoá trên thị trường.
Việc kém hiệu quả trong bảo hộ sở hữu trí tuệ ở cấp độ quốc tế đã không chỉ làm tăng căng thẳng trong các quan hệ kinh tế mà còn gây trở ngại cho việc chuyển giao và đổi mới công nghệ. Cho đến trước năm 1994, các thỏa thuận hiện hành trong lãnh vực SHTT dù có quy định hay không các biện pháp thực thi bảo hộ cũng không quy định chế tài trong trường hợp không tuân thủ các thoả thuận. Mặc dù vậy việc đưa các quy định và các chế tài bảo hộ quyền SHTT sẽ tạo ra rào cản đối với thương mại hợp pháp vẫn còn là điều đáng lo ngại. Để giải quyết những vấn đề này, cộng đồng quốc tế tiến hành xây dựng một thỏa thuận đa phương về thương mại liên quan đến các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ.
TRIPS[1], Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ, có những quy định liên quan đến phạm vi các loại quyền SHTT rộng hơn, bao quát hơn so với các công ước đã tồn tại trước đó[2], chỉ tập trung vào một số hoặc một vài đối tượng SHTT ví dụ công ước Berne về quyền tác giả và quyền liên quan, công ước Paris về quyền sở hữu công nghiệp v.v… TRIPS đặt ra những yêu cầu bảo hộ ở mức tối thiểu. Tuy nhiên, đối với một số quốc gia đang phát triển hay kém phát triển thì những yêu cầu bảo hộ SHTT này vẫn còn cao, Việt Nam cũng không là ngoại lệ. Ngoài ra, các nước Thành viên hoàn toàn có quyền thiết lập những quy định ở mức cao hơn[3] miễn không trái với quy định của TRIPS. Đây cũng chính là điểm mà các nước phát triển đã lợi dụng để dùng sức ép đối với các nước đang phát triển để ký những Hiệp định song phương theo đó việc bảo hộ giành cho nhau luôn ở mức cao hơn quy định tối thiểu của TRIPS.
Trước xu thế toàn cầu hoá, SHTT ngày càng được chú trọng vì có vai trò quan trọng trong kinh doanh thương mại. Muốn hội nhập kinh tế thế giới thành công Việt Nam không thể đứng ngoài xu thế chung đó. Trở thành Thành viên của WTO, Việt Nam phải thực hiện các quy định do TRIPS đưa ra, nhưng cũng thực sự có cơ hội phát triển trong môi trường quốc tế với luật chơi chung, luật WTO.
2. Thách thức đối với Việt Nam trong việc thực thi nghĩa vụ bảo hộ quyền SHTT
2.1 Vấn đề thực hiện cam kết với tư cách Thành viên Hiệp định TRIPS
Về mặt nguyên tắc, Hiệp định TRIPS bảo hộ mọi hình thức sở hữu trí tuệ và tìm cách hài hòa và tăng cường các tiêu chuẩn bảo vệ, và bảo đảm thực hiện hiệu quả ở cấp quốc gia cũng như quốc tế.
Đối với việc thực hiện, sửa đổi pháp luật quốc gia, các Thành viên có thể áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ sức khỏe công cộng và dinh dưỡng, và thúc đẩy lợi ích công cộng trong các lĩnh vực có tầm quan trọng sống còn đối với sự phát triển kinh tế và xã hội, nhưng các biện pháp này vẫn phải phù hợp với Hiệp định TRIPS. Ngoài ra, các quốc gia Thành viên được quyền có những biện pháp cần thiết để ngăn chặn việc lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ của chủ sở hữu quyền hoặc các hành vi hạn chế thương mại bất hợp lý hoặc ảnh hưởng xấu đến việc chuyển giao công nghệ quốc tế, trong trong khuôn khổ của Hiệp định.
Chính thức trở thành Thành viên của WTO, Việt Nam cam kết thực hiện đầy đủ và ngay lập tức, không qua thời gian chuyển đổi, các quy định của TRIPS. Để làm được điều này Việt Nam phải nỗ lực không ngừng trong việc rà soát, điều chỉnh, ban hành các văn bản pháp luật ngày càng phù hợp hơn với Hiệp định TRIPS. Bộ luật Sở hữu trí tuệ được Quốc hội thông qua ngày 22/11/2005 sau 11 tháng chuẩn bị là một ví dụ. Hàng loạt các văn bản dưới luật[4] được ban hành khẳng định quyết tâm cải cách hệ thống luật pháp của Việt Nam đồng thời đảm bảo việc thực thi bảo hộ quyền SHTT ngày càng hiệu quả hơn.
2.2 Vấn đề thực hiện cam kết của Thành viên các Hiệp định TRIPS Cộng
Hiệp định TRIPS Cộng vẫn thường được hiểu là Hiệp định song phương hay còn gọi là “thoả thuận tự do thương mại”. Loại giao ước này là những thỏa thuận trực tiếp và đơn lẻ giữa hai hay nhiều nước về hợp tác thương mại hay đầu tư, nghiên cứu khoa học, hợp tác và hỗ trợ phát triển. Các hiệp định song phương có một số điểm chung ví dụ như nó thường chứa đựng những nghĩa vụ mà các bên phải tuân thủ đặc biệt là về quyền sở hữu trí tuệ. Các hiệp định trao đổi tự do song phương thường có ít ràng buộc hơn so với các GATT/WTO, đó chính là điểm hấp dẫn các nước tham gia ký kết loại Hiệp định này[5].
Tuy nhiên những Hiệp định thương mại song phương đôi khi không phải xuất phát từ nhu cầu phát triển kinh tế của các nước đang phát triển. Ngược lại, đó là điều kiện bị áp đặt đối với những quốc gia muốn gia nhập Tổ chức thương mại thế giới. Bởi vì để trở thành Thành viên của WTO các quốc gia ứng cử viên phải tiến hành thương lượng vừa trong khuôn khổ song phương vưà đa phương. Sau năm 1995, các quốc gia muốn tham gia tổ chức này phải thương lượng với các quốc gia hùng mạnh hơn về kinh tế thông qua các hiệp định song phương. Theo phương thức đó, các điều khoản cam kết đặc biệt được đưa ra và trong lĩnh vực SHTT, các quy định thông thường luôn cao hơn các quy định trong Hiệp định TRIPS.
Trong khuôn khổ các cuộc thương lượng để gia nhập WTO, Việt Nam đã ký kết Hiệp định thương mại Việt-Mỹ (BTA) năm 1999. Thực hiện cam kết của Hiệp định, Việt Nam trở thành thành viên của công ước Berne ngày 16 tháng 10 năm 2004, công ước Genève ngày 16 tháng 7 năm 2005, Công ước Bruxelles ngày 12 tháng 1 năm 2006 và Hệ thống Madrid ngày 11 tháng 7 năm 2006. Ngoài ra trong khuôn khổ hiệp định song phương về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ký với Thuỵ Sĩ, Việt Nam đã phải tham gia công ước Rome và Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng cuối năm 2006.
Một cách tổng quát, các thoả thuận thương mại ưu đãi mà Hoa Kỳ ký kết với các quốc gia khác đều chứa đựng cam kết buộc đối tác phải tham gia những công ước đa phương. Hiệp định ký kết với Việt Nam cũng không ngoại lệ. Theo Điều 18 (3), Việt Nam phải tuân thủ hoàn toàn Hiệp định TRIPS ngay khi gia nhập WTO, thậm chí cả trong trường hợp việc gia nhập được thực hiện trước khi hết thời hạn cho phép từng bước được quy định trong BTA. Hơn nữa, căn cứ vào lịch trình quy định tại BTA, Việt Nam phải thực thi hầu hết các quy định của TRIPS[6] vào tháng 6 năm 2004, trước thời điểm Việt Nam chính thức gia nhập WTO. Về mặt nội dung, một số quy định bảo hộ của BTA cao hơn TRIPS, ví dụ : thời hạn bảo hộ quyền tác giả dài hơn, áp dụng bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa đối với nhãn chứng nhận; Việt Nam có nghĩa vụ thiết lập một hệ thống đăng ký nhãn hiệu hàng hoá; thời hạn bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá dài hơn; nghĩa vụ bảo hộ các chương trình mang tín hiệu được mã hóa. Tuy nhiên, TRIPS[7] không điều chỉnh nghĩa vụ bảo hộ các chương trình mang tín hiệu vệ tinh được mã hoá được quy định tại BTA[8]. Vì, hình thức quyền sở hữu trí tuệ này không nằm trong phạm vi định nghĩa về quyền sở hữu trí tuệ của TRIPS[9].
Như vậy, mặc dù TRIPS là quy chuẩn bảo hộ SHTT chung của rất nhiều quốc gia nhưng việc một số quốc gia buộc phải có những cam kết bảo hộ cao hơn quy định của TRIPS là một hiện thực. Tuy nhiên, TRIPS vẫn chưa đáp ứng yêu cầu bảo hộ quyền SHTT của các quốc gia phát triển đang ngày càng cao.
3. Khuynh hướng bảo hộ quyền SHTT cao hơn TRIPS của các nước phát triển
3.1 Hiệp ước Thương mại chống hàng giả (Anti-Counterfeiting Trade Agreement - ACTA)
Năm 2006, một ý tưởng thiết lập một Hiệp ước đa phương chống hàng giả đầu tiên xuất phát từ Nhật Bản và Hoa Kỳ. Sau đó Canada và Cộng đồng châu Âu, Thụy Sĩ cũng tham gia thảo luận sơ bộ từ năm 2007. Những cuộc thương lượng chính thức bắt đầu vào tháng 6 năm 2008 với sự tham gia của Australie, Mexique, Maroc, New-Zeland và Hàn Quốc và Singapore.
Hiện tại có hai luồng ý kiến khác nhau về sự xuất hiện của Hiệp ước thương mại chống hành vi làm giả, sao chép lậu.
Luồng ý kiến thứ nhất nhìn nhận sự cần thiết của ACTA. Bởi Hiệp ước này thiết lập một khuôn khổ pháp lý mới với cơ chế điều hành riêng, Ủy ban ACTA độc lập với các cơ quan quốc tế đã tồn tại trước đó như WIPO hay Liên Hiệp Quốc… Hiệp ước này nhằm nâng cao các tiêu chuẩn quốc tế để có hành động chống lại các hành vi xâm phạm có quy mô lớn tới quyền SHTT.
Hiệp ước ACTA không chỉ điều chỉnh các hành vi xâm phạm quyền tác giả, mà còn mở rộng đến các hành vi làm hàng giả như sản phẩm tiêu dùng cao cấp, đồ chơi trẻ em và thuốc chữa bệnh, các tác phẩm văn hóa. Các hành vi sao chép lậu và làm hàng giả được xếp chung vào cùng một loại hành vi bởi vì hành vi sao chép lậu bị coi là “hàng giả của quyền tác giả” mặc dù các lợi ích bị xâm phạm không giống nhau. Hàng giả có thể gây thiệt hại cho người tiêu dùng trong khi đấu tranh chống sao chép lậu nhằm mục đích duy nhất là bảo vệ quyền lợi của các chủ sở hữu quyền.
ACTA buộc các quốc gia thành viên phải có những giới hạn rất nghiêm ngặt về quyền SHTT liên quan đến Internet và thương mại hàng hoá có liên quan đến quyền này. Cũng như TRIPS, văn bản này cho phép các quốc gia đưa thành viên đưa ra những quy định gắt gao hơn. Cần lưu ý là có hẳn 1 kế hoạch hành động để khích lệ các nước đang phát triển cùng tham gia hiệp ước.
Luồng ý kiến thứ hai cho rằng Anti-Counterfeiting Trade Agreement (ACTA), được thương lượng một cách kín đáo từ năm 2007 đến 2010 trong một nhóm 39 quốc gia trong đó có các quốc gia thành viên của Cộng đồng châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản. Nhiều cuộc thương lượng ở cấp quốc gia nhằm áp đặt một logic trấn áp do các nhà Công nghiệp giải trí đưa ra. ACTA chứa đựng những chế tài hình sự mới buộc các nhà cung cấp Internet phải kiểm soát và kiểm duyệt các thông tin trên mạng. Hiệp ước này được coi là một đạo luật đe dọa quyền tự do bày tỏ ý kiến trên mạng và nguồn bất ổn pháp lý đối với các doanh nghiệp kinh doanh Internet. Đối với quyền nhãn hiệu, quyền sáng chế, Hiệp ước này cũng gây trở ngại cho việc tiếp cận các thuốc phiên bản (generic)[10] ở các nước nghèo.
ACTA gây tranh cãi vì nó có ảnh hưởng tới các quyền tự do dân sự và trách nhiệm mà những nhà cung cấp dịch vụ Internet phải gánh vác, các hậu quả của việc sản xuất thuốc phiên bản hay việc bảo hộ không hiệu quả chỉ dẫn địa lý.
ACTA chứa đựng những chế tài hình sự mới buộc các nhà cung cấp Internet phải kiểm soát, kiểm duyệt các giao tiếp trên mạng. Hiệp ước này trở thành mối đe doạ lớn đối với quyền tự do bày tỏ ý kiến trên mạng và gây bất ổn pháp lý đối với các doanh nghiệp cung cấp Internet. Việc thực hiện mục đích bảo hộ quyền nhãn hiệu và sáng chế cũng gây trở ngại đối với việc tiếp cận thuốc phiên bản ở các nước nghèo.
Hiệp ước vấp phải sự phản đối gay gắt vì ACTA sẽ hạn chế quyền tự do bày tỏ ý kiến trên mạng. Bên cạnh đó, một số quyền riêng tư có nguy cơ bị xâm phạm vì các thông tin về người sử dụng Internet có thể bị tiết lộ vì nhà cung cấp Internet buộc phải “hợp tác”[11] khi có yêu cầu mà không cần có lệnh của Toà[12]. Mối đe dọa đến quyền tự do của những người sử dụng Internet được đặc biệt quan tâm nhưng khía cạnh pháp lý, nguyên tắc cơ bản về quyền suy đoán vô tội dường như cũng bị đe doạ nếu không nói đến trách nhiệm truy tìm chứng cứ của các cơ quan hữu quan.
3.2 Chuẩn bị của Việt Nam trước thách thức của ACTA?
Khi trang web Megaupload[13] bị đóng cửa dưới sức ép của nguyên tắc hợp tác quốc tế chống sao chép lậu thì người lạc quan có thể khẳng định rằng một đạo luật chống sao chép lậu thống nhất có thể dùng chung cho cả thế giới. Ta càng thấy rõ ảnh hưởng của Hiệp ước khi văn bản này được Cộng đồng châu Âu và Hoa Kỳ tiến hành ký kết với nhau vào cuối tháng 1 năm 2012.
Thực ra việc áp dụng và gây sức ép để phê chuẩn và áp dụng ACTA ở các nước đang phát triển không phải là không thể xảy ra. Điều này có thể đòi hỏi một thời gian tương đối dài, cũng có thể xảy ra trong ngắn hạn với tốc độ phát triển kinh tế và xu thế toàn cầu hoá. Việt Nam không thể phát triển kinh tế đất nước mà đứng ngoài dòng xoáy đó. Vậy
, ta cần có những chuẩn bị gì ?Với mục đích đấu tranh chống hàng lậu, hàng giả, Hiệp ước đưa ra những biện pháp để ngăn chặn việc lưu thông thuốc phiên bản, cụ thể là các thuốc có nguồn gốc từ Ấn Độ, được Tổ chức y tế thế giới thừa nhận trong một vài quốc gia. Tuy nhiên những thuốc này vẫn còn hiệu lực bảo hộ độc quyền ở một số quốc gia nơi các thuốc này chỉ “quá cảnh”[14]. Để tăng cường đấu tranh chống hàng giả, ACTA đưa ra một hệ thống các biện pháp ngăn chặn thuốc phiên bản vốn được xử lý như hàng giả[15]. Là một quốc gia đang phát triển, Việt Nam sẽ còn phải cần sử dụng công cụ bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế đối với một số ngành công nghệ mà Việt Nam chưa có được, đặc biệt là trong lĩnh vực dược phẩm để ổn định xã hội và vì mục đích săn sóc tốt hơn sức khoẻ cộng đồng. Trong khuôn khổ đó, ACTA sẽ có những ảnh hưởng nhất định nếu Việt Nam tham gia Hiệp ước.
KẾT LUẬN
Ở góc độ vĩ mô và dài hạn, quốc gia có một hệ thống SHTT mạnh và hiệu quả có thể thành công trong việc phát triển công nghệ, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh từ đó bảo đảm cho nền kinh tế phát triển vững chắc hơn. Mặc dù, trên thực tế nếu hệ thống SHTT yếu kém thì cơ hội phát triển công nghệ với chi phí thấp lại càng cao hơn. Tuy nhiên cách lựa chọn phát triển này chỉ mang tính tạm thời. Để phát triển bền vững kinh tế quốc gia, một hệ thống SHTT mạnh vẫn phải là mục tiêu cần đạt được, và điều này không có ngoại lệ. Do vậy, Việt Nam vẫn phải tiếp tục phấn đấu xây dựng một hệ thống SHTT ngày càng mạnh hơn.
Bị xem là một trong số các quốc gia thực thi bảo hộ quyền SHTT kém, Việt Nam sẽ còn vất vả để thực thi các cam kết sẵn có, trong đó có TRIPS và TRIPS Cộng như đã đề cập bên trên. Có thể trong tương lai rất gần Việt Nam không phải tham gia vào Hiệp ước ACTA, nhưng ta cần nắm vững khuynh hướng bảo hộ của thế giới vẫn phải được hiểu biết và có những chuẩn bị nhất định trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới. Bởi, để phát triển kinh tế dài lâu mỗi quốc gia đều phải có một chiến lược dài hạn và thống nhất, đó được coi là chìa khoá thành công nếu muốn hội nhập kinh tế thế giới. Hệ thống bảo hộ SHTT hiệu quả là một bộ phận của quá trình đó. Quá trình này diễn ra một cách cực kỳ tế nhị bởi vì những vấn đề trật tự xã hội hoặc nhân đạo, ví dụ các vấn đề liên quan đến sức khoẻ cộng đồng vẫn phải được ưu tiên hàng đầu. Ưu tiên này vẫn gây ra những xung đột quyền lợi về SHTT.

[1] TRIPS là kết quả của nhiều các cuộc thoả thuận thương mại đa phương kéo dài nhiều năm và chỉ thực sự kết thúc ngày 15 tháng 12 năm 1993. Văn kiện cuối cùng chứa đựng những thoả thuận thương mại song phương của Vòng đám phán Uruguay được ký kết ở Marrakech, Maroc ngày 15 ttháng 4 năm 1994. Bằng việc ký kết Văn kiện cuối cùng này, các nước đã nhất trí trình Hiệp định Marrakesh thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (gọi tắt là “Hiệp định về Tổ chức Thương mại Thế giới” hay “Hiệp định WTO”) để cơ quan có thẩm quyền của các quốc gia xem xét phê chuẩn. Hiệp định TRIPS, là một phần của thỏa thuận theo Hiệp định WTO[1], có hiệu lực ngày 1 tháng 1 năm 1995.
[2] Các công ước này chủ yếu được ký kết trước đó trong khuôn khổ Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới WIPO (Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới). Ngoài ra tính khái quát cao hơn của TRIPS chính là do TRIPS không nêu lại quy định ở các công ước trước đó mà quy định dẫn chiếu đến các công ước này.
[3] Ví dụ TRIPS quy định thời hạn bảo hộ nhãn hiệu tối thiểu là 7 năm nhưng theo luật SHTT Việt Nam thời hạn này là 10 năm.
[4] Nghị định số 103/2006/NĐ-CP  ngày 22/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp; Nghị định số 105/2006/NĐ-CP  ngày 22/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ; Nghị định số 106/2006/NĐ-CP  ngày 22/9/2006 quy định xử phạt vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp.
[5] Điều XXIV hiệp ước GATT cho phép các quốc gia thiết lập liên minh thuế quan và khu tự do thương mại. Ngoại lệ “Tối huệ quốc” của GATT và WTO không phải là công cụ pháp lý duy nhất cho phép tiến hành các cam kết ngoại lệ.
[6] Chương II – BTA
[7] Điều 4 – TRIPS
[8] Chương II, Điều 5 – BTA
[9] Điều 1(2)
[10] Thuốc phiên bản thông thường là thuốc được sản xuất sau khi bằng sáng chế hết hạn bảo hộ, hoặc trong những trường hợp tương đối đặc biệt khi áp dụng Lixăng-bắt buộc. Thuốc phiên bản có công thức giống với thuốc (đã) được bảo hộ sáng chế nhưng dưới tên khác, hình thức đóng gói đủ khác biệt với thuốc được bảo hộ sáng chế.
[11] Điều 27-1 ACTA “Each Party shall endeavour to promote cooperative efforts within the business community to effectively address trademark and copyright or related rights infringement while preserving legitimate competition and, consistent with that Party’s law, preserving fundamental principles such as freedom of expression, fair process, and privacy.”
[12] Điều 27-2 ACTA “A Party may provide, in accordance with its laws and regulations, its competent authorities with the authority to order an online service provider to disclose expeditiously to a right holder information sufficient to identify a subscriber whose account was allegedly used for infringement, where that right holder has filed a legally sufficient claim of trademark or copyright or related rights infringement, and where such information is being sought for the purpose of protecting or enforcing those rights. These procedures shall be implemented in a manner that avoids the creation of barriers to legitimate activity, including electronic commerce, and, consistent with that Party’s law, preserves fundamental principles such as freedom of expression, fair process, and privacy.”
[13] Megaupload (MU) là 1 trang web xuất hiện năm 2005 và đã bị đóng cửa ngày 19 tháng 1 năm 2012. Đây là một trang wed dịch vụ cho phép lưu trữ các tập tin bằng một cái click chuột đơn giản. Trang web có gốc ở Hong-Kong và có servers ở Hoa Kỳ, Hà Lan và Canada. MU cho phép đưa lên mạng mọi loại tập tin với giới hạn dung lượng là 1G miễn phí và không giới hạn dung lượng với người sử dụng có trả phí.
[14] Thuốc sản xuất theo sáng chế được bảo hộ có thể không được trực tiếp sản xuất tại quốc gia đó.
[15] Liên quan đến vấn đề này có thể kể ra việc Hải quan Amsterdam ngăn chặn thuốc phiên bản chữa trị bệnh Sida tháng 2 năm 2009. 

Nguồn: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ

Thứ Tư, 9 tháng 5, 2012

BÀN THÊM VỀ LỢI ÍCH DOANH NGHIỆP THU ĐƯỢC TỪ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI CÔNG NGHỆ

Tạp chí Hoạt động Khoa học số tháng 9.2009 đã đăng tải bài viết “Một số bàn luận về lợi ích của doanh nghiệp từ quyền sở hữu trí tuệ đối với công nghệ” với nội dung đề cập tới trường hợp một số cơ quan, ban/ngành tỉnh B tham mưu cho UBND tỉnh ra quyết định bổ sung 5,5 tỷ đồng với tên gọi “giá trị tài sản của sáng chế” vào mục “chi phí khác” của một dự án đầu tư, khi doanh nghiệp này áp dụng công nghệ của mình nghiên cứu, mang lại hiệu quả hơn so với công nghệ trước đó.
Sau khi bài viết được đăng tải, đầu năm 2010, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh này đã tổ chức lấy lại ý kiến tham khảo của các ban/ngành và đã đề xuất UBND tỉnh B rút lại quyết định bổ sung 5,5 tỷ đồng cho doanh nghiệp T. Ngay sau khi văn bản mới được UBND tỉnh ban hành, trong công văn kiến nghị với các cơ quan chức năng, doanh nghiệp T đã khẳng định việc sử dụng công nghệ mới trong quá trình thi công là “không có góp vốn, không có chuyển giao công nghệ nên không có nội dung chi phí này là đúng”, nhưng doanh nghiệp T còn đang thắc mắc: “Vậy doanh nghiệp lấy tiền từ đâu để trả cho tác giả sáng chế?”. Thiết nghĩ, do đây là vấn đề tương đối mới mẻ với nhiều doanh nghiệp nên cần phải đưa ra bàn luận cho thấu đáo, làm cơ sở rút kinh nghiệm cho các địa phương khác, các công nghệ khác để giải quyết các trường hợp tương tự. Bài viết sau đây, tác giả sẽ bổ sung đôi điều về vấn đề đó.
Trước hết phải khẳng định rằng, công nghệ F, F1 (sau đây gọi chung là công nghệ F) về giải pháp ngăn mùi của hệ thống thoát nước đô thị của doanh nghiệp T là một công nghệ mang lại hiệu quả cao về kinh tế và môi trường. Trong thời gian qua, doanh nghiệp T cũng giành nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế về sáng tạo KH&CN, nhiều địa phương khác trong cả nước đã triển khai áp dụng công nghệ F. Doanh nghiệp T đã được Sở KH&CN tỉnh B cấp giấy chứng nhận là “doanh nghiệp KH&CN”. Tác giả của sáng chế là người thuộc doanh nghiệp T. Chủ sở hữu sáng chế là doanh nghiệp T.
Với công nghệ F, doanh nghiệp T được UBND tỉnh B giao làm chủ đầu tư và trực tiếp thi công công trình có sử dụng công nghệ F mà không phải thông qua phương thức đấu thầu theo Luật Đấu thầu và công trình được sử dụng hoàn toàn nguồn vốn ngân sách nhà nước.

Tuy nhiên, sau khi đem ra phân tích, tính toán so với giải pháp thông thường, thấy rằng giải pháp đã làm lợi cho Nhà nước 55 tỷ đồng, doanh nghiệp T yêu cầu UBND tỉnh B bổ sung 10% giá trị làm lợi (5,5 tỷ đồng) gọi là “giá trị tài sản trí tuệ của sáng chế”, hay “chi phí để nghiên cứu, cải tiến công nghệ” bổ sung vào mục “chi phí khác” của dự án đầu tư. Đồng thời doanh nghiệp T đã mời một công ty định giá, xác nhận công nghệ này có giá trị là trên 6 tỷ đồng.
Đề nghị trên của doanh nghiệp T là chưa đúng với tinh thần của Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Đầu tư, Luật Xây dựng hiện hành. Kinh phí 5,5 tỷ đồng mà doanh nghiệp T đòi bổ sung trên đây không phải là những lợi ích doanh nghiệp thu được khi sử dụng sáng chế (ở đây là giải pháp hữu ích F) mà pháp luật quy định và cho phép. Những lợi ích của doanh nghiệp T thu được khi sử dụng giải pháp F khi thi công công trình thể hiện ở những điểm sau:
Theo Nghị định 81 (Nghị định hướng dẫn thực hiện Luật KH&CN):
- Doanh nghiệp T được miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho số thu nhập tăng thêm do các hoạt động này mang lại (Khoản 5, Điều 42) .
- Các chi phí đầu tư cho việc nghiên cứu sáng tạo giải pháp F được coi là chi phí hợp lý và được trừ khi xác định thuế thu nhập doanh nghiệp (Khoản 1, Điều 44).
Theo Luật Chuyển giao công nghệ (2005):
- Doanh nghiệp T được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho phần thu nhập tăng thêm trong 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 7 năm tiếp theo (Khoản 4 Điều 44).
- Doanh nghiệp được trích một phần lợi nhuận trước thuế hàng năm lập quỹ phát triển KH&CN để tiến hành hoạt động nghiên cứu phát triển và đổi mới công nghệ (Điều 45).
Khi thực hiện bán (chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng ) công nghệ – giải pháp F hoặc trường hợp doanh nghiệp T sử dụng giải pháp F để thi công các công trình, doanh nghiệp T thu được lợi ích như sau:
- Giá trị thu được từ việc bán (chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng) công nghệ – giải pháp F.
- Lợi nhuận doanh nghiệp thu được khi sử dụng giải pháp F thi công các công trình (theo Luật Xây dựng và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan).
- Doanh nghiệp T được hưởng những ưu đãi khác từ thuê đất (nếu có) để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho việc sáng tạo và phát triển các giải pháp thuộc hoạt động khoa học, công nghệ; được góp vốn bằng giá trị giải pháp F trong các dự án đầu tư hoặc vào vốn của doanh nghiệp (Luật KH&CN, Luật Chuyển giao công nghệ)…
Ngoài ra, do T là doanh nghiệp KH&CN, theo quy định của Nghị định số 80/2007/NĐ-CP ngày 19.5.2007 về doanh nghiệp KH&CN (Nghị định 80), cũng như Thông tư 06/2008/TTLT-BKHCN-BTC-BNV ngày 18.6.2008 hướng dẫn thi hành Nghị định 80, sau khi được công nhận là doanh nghiệp KH&CN và đáp ứng một số điều kiện về doanh thu, doanh nghiệp T sẽ được hưởng những ưu đãi sau:
- Được áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 10% kể từ khi được cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN;
- Được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo kể từ năm đầu tiên doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế.
- Được miễn lệ phí trước bạ khi đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà.
- Khi doanh nghiệp có dự án thuộc đối tượng vay vốn tín dụng đầu tư phát triển được hưởng chính sách về tín dụng đầu tư phát triển theo quy định tại Nghị định 151/2006/NĐ-CP ngày 20.12.2006 của Chính phủ về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu, bao gồm: Cho vay đầu tư, bảo lãnh tín dụng đầu tư, hỗ trợ sau đầu tư.
- Được hưởng các dịch vụ tư vấn, đào tạo từ các cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp của Nhà nước không phải trả phí dịch vụ; được ưu tiên sử dụng các trang thiết bị phục vụ nghiên cứu khoa học trong phòng thí nghiệm trọng điểm, cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu KH&CN của Nhà nước; hưởng các hỗ trợ ưu đãi từ Quỹ Phát triển KH&CN quốc gia, Quỹ Đối mới công nghệ quốc gia theo cơ chế tài chính của các Quỹ này.
- Được Ban quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao cho thuê đất, cơ sở hạ tầng với mức giá thấp nhất trong khung giá cho thuê tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao; được UBND các địa phương cho thuê đất, cơ sở hạ tầng với mức giá thấp nhất theo khung giá của Nhà nước tại địa phương nơi doanh nghiệp KH&CN thuê.
Các nội dung nêu trên mới chính là những lợi ích của doanh nghiệp T thu được khi sử dụng sáng chế, là cơ sở để doanh nghiệp T tính toán chi trả thù lao cho tác giả sáng chế theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ.
Như vậy, các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước quy định về lợi ích của doanh nghiệp khi thực hiện đầu tư đổi mới công nghệ đã quá rõ ràng. Vấn đề là doanh nghiệp T chưa nắm được các quy định này, nên không biết lấy kinh phí từ đâu để chi trả cho tác giả sáng chế nên đã đưa ra những đề nghị không hợp lý.
Giá trị 5,5 tỷ đồng trong trường hợp cụ thể, đối với ngân sách của một địa phương, một quốc gia có thể không lớn (hay thậm chí nó có thể rất nhỏ so với những lợi ích doanh nghiệp T thu được khi áp dụng đúng quy định về cơ chế, chính sách dành cho doanh nghiệp). Nhưng nó sẽ là một con số khổng lồ, mà ngân sách nhà nước sẽ phải chi trả một cách vô lý, khi đây được coi là tiền lệ trong việc giải quyết những trường hợp tương tự. Nhất là trong bối cảnh chúng ta đang phải nhập công nghệ từ nước ngoài và đang khuyến khích doanh nghiệp trong nước đầu tư, nghiên cứu đổi mới công nghệ. Hơn thế nữa, nó còn thể hiện tính nghiêm minh, công bằng, chính xác khi áp dụng pháp luật.
Cơ chế, chính sách của Việt Nam đối với hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ hiện nay tuy còn nhiều vấn đề phải bàn để chỉnh sửa cho phù hợp, nhưng những ưu đãi hiện có dành cho các tổ chức tham gia nghiên cứu, cải tiến công nghệ đã cơ bản phù hợp với thông lệ quốc tế.
Việc các doanh nghiệp tự đầu tư nghiên cứu, đổi mới công nghệ là một hướng đi tích cực để nâng cao năng lực cạnh tranh. Để tận dụng tối đa những ưu đãi của Nhà nước, mang lại thêm những lợi ích cho doanh nghiệp, các doanh nghiệp nên có bộ phận tư vấn pháp lý có năng lực để hỗ trợ doanh nghiệp đưa ra các đề nghị đúng và xác đáng, tránh những “đề xuất vô lý” làm mất thời giờ của các cơ quan quản lý nhà nước lẫn doanh nghiệp.
Về phía các cơ quan quản lý nhà nước ở tỉnh B, việc tham khảo thông tin trên các diễn đàn trao đổi của các tạp chí lớn, có uy tín để xem xét giải quyết công việc, đặc biệt đối với những vấn đề mới, từ đó dũng cảm sửa sai, “dù muộn còn hơn không” là việc làm đáng được công luận biểu dương. Thông qua trường hợp cụ thể này, các cơ quan quản lý nhà nước, nhất là các cơ quan quản lý nhà nước về KH&CN cũng cần có biện pháp tích cực hơn nữa trong công tác phổ biến thông tin KH&CN cho các doanh nghiệp. Đây cũng là hình thức hỗ trợ thiết thực cho các doanh nghiệp thực hiện đổi mới công nghệ trong giai đoạn hiện nay. 

Nguồn: TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC, BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ