Hiển thị các bài đăng có nhãn sở hữu trí tuệ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn sở hữu trí tuệ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 12 tháng 2, 2013

BẢO HỘ CHƯƠNG TRÌNH MÁY TÍNH NHƯ ĐỐI TƯỢNG ĐỘC LẬP CỦA QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

1. Dẫn nhập
Khoản 1 điều 22 Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) quy định: “Chương trình máy tính (CTMT) là tập hợp các chỉ dẫn được thể hiện dưới dạng các lệnh, các mã, lược đồ hoặc bất kỳ dạng nào khác, khi gắn vào một phương tiện mà máy tính đọc được, có khả năng làm cho máy tính thực hiện được một công việc hoặc đạt được một kết quả cụ thể. CTMT được bảo hộ như tác phẩm văn học, dù được thể hiện dưới dạng mã nguồn hay mã máy”, đồng thời khoản 2 điều 59 Luật SHTT quy định loại trừ cấp bằng độc quyền sáng chế (patent) cho CTMT, như vậy pháp luật Việt Nam quy định chỉ bảo hộ quyền tác giả đối với CTMT.
Nhưng có lẽ còn nhiều vấn đề phải bàn xung quanh quy định này. Bởi vậy, trên diễn đàn khoa học đã có nhiều quan điểm khác nhau về bảo hộ CTMT, có thể phân loại các quan điểm này theo các hướng:
1.1. Phân tích những bất cập của việc bảo hộ quyền tác giả đối với phần mềm máy tính (PMMT):
Vào năm 2002, ngay từ trước khi Luật SHTT được ban hành, đã có ý kiến phân tích những bất cập của việc bảo hộ quyền tác giả đối với PMMT[3], trong đó nhấn mạnh: nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng PMMT bị sao chép lậu tràn lan được bắt nguồn từ những tính chất đặc trưng của PMMT; đề xuất thời hạn bảo hộ PMMT là 25 năm kể từ ngày được công bố, phổ biến; cân bằng lợi ích giữa chủ sở hữu và người sử dụng PMMT… Nhưng bài viết này không đề xuất việc tìm một cơ chế khác với cơ chế bảo hộ quyền tác giả đối với PMMT.
1.2. Cấp patent cho CTMT
Tiếp theo là các đề xuất cấp patent cho CTMT, có thể điểm:
- Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Khoa học quản lý, chuyên ngành SHTT của Nguyễn Thị Phương Thảo với nhan đề Bảo hộ quyền tác giả đối với chương trình máy tính ở Việt Nam hiện nay[4], trong đó tác giả đã đề xuất việc nghiên cứu để có thể cấp patent cho CTMT.
- Nghiên cứu của Nguyễn Như Hà với bài viết Một hướng tiếp cận bảo hộ phần mềm máy tính trong thế giới hội nhập[5], theo quan điểm của tác giả: “… bảo hộ bằng luật sáng chế đối với PMMT sẽ đảm bảo hiệu quả và đúng với bản chất của việc bảo hộ PMMT. Chúng ta cũng có thể bảo hộ PMMT bằng một đạo luật riêng, việc làm này đã và đang tồn tại ở các nước có điều kiện phát triển giống với Việt Nam như Trung Quốc, Nga”…
- Nghiên cứu của Hoàng Minh Huệ: Một số vấn đề về bảo hộ phần mềm máy tính hiện nay[6] cũng đề xuất việc cấp patent cho PMMT.
1.3. Cần có quy định riêng để bảo hộ CTMT
Trong một nghiên cứu của Trần Văn Hải[7] với nhan đề Chương trình máy tính nên được bảo hộ là đối tượng nào của quyền sở hữu trí tuệ? Tác giả đã phân tích và đưa ra quan điểm không nên chỉ cấp patent cho CTMT, cũng không nên chỉ bảo hộ quyền tác giả đối với CTMT, mà nên có quy định riêng để bảo hộ CTMT.
Trong một nghiên cứu có liên quan đến PMMT, bài Ý tưởng cấp patent bảo hộ phần mềm của Aunya Singsangob[8], tác giả điểm các quy định của Hoa Kỳ, Châu Âu, TRIPS về bảo hộ PMMT, trong đó nói rõ mặc dù quy định bảo hộ quyền tác giả đối với PMMT, nhưng vẫn bỏ ngỏ khả năng cấp patent cho PMMT.
Như vậy, điểm qua một số nghiên cứu có liên quan đến CTMT có thể đã nhận rõ đang tồn tại các quan điểm khác nhau. Một câu hỏi được đặt ra là: Bảo hộ quyền tác giả đối với CTMT hoặc cấp patent cho CTMT? Hay nên coi CTMT là một đối tượng độc lập của quyền SHTT? Bài viết này sẽ trả lời câu hỏi vừa đặt ra.
2. Thống nhất thuật ngữ
Trong các tài liệu nghiên cứu về SHTT, thuật ngữ “phần mềm máy tính” (Software) và “chương trình máy tính” (Computer Program) được sử dụng không thống nhất, để thống nhất cách sử dụng thuật ngữ, chúng tôi xin trích dẫn các định nghĩa sau đây:
- “Chương trình máy tính là một dãy các lệnh mà máy tính điện tử cần thực hiện theo một thứ tự xác định để giải một bài toán nào đấy” [9].
- Khoản 1 điều 2 Quyết định 128/2000/QĐ-TTg Về một số chính sách và biện pháp khuyến khích đầu tư và phát triển công nghiệp phần mềm định nghĩa: “Phần mềm được hiểu là chương trình, tài liệu mô tả chương trình, tài liệu hỗ trợ, nội dung thông tin số hóa”.
- Luật 10.5.1994 của Pháp định nghĩa: "Phần mềm máy tính là toàn bộ các chương trình được tiến hành và các quy tắc, có thể cả tư liệu liên quan đến việc vận hành của một tổng thể dữ liệu”.
Qua các định nghĩa trên, có thể thấy rằng khái niệm “phần mềm máy tính” có nội hàm rộng hơn khái niệm “chương trình máy tính”, phải nêu lên mục này là cần thiết, bởi vì tài liệu mô tả chương trình, tài liệu hỗ trợ, nội dung thông tin số hóa như quy định tại Quyết định 128/2000/QĐ-TTg thuộc PMMT nhưng lại không thuộc CTMT. Mà tài liệu mô tả chương trình, tài liệu hỗ trợ… có thể coi là tác phẩm khoa học và đương nhiên được bảo hộ quyền tác giả.
Do đó trong bài viết này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ CTMT mà không dùng thuật ngữ PMMT cho phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 22 Luật SHTT. Cũng cần nhấn mạnh rằng, Hiệp định TRIPS sử dụng thuật ngữ Computer Programs mà không sử dụng thuật ngữ Computer Software.
Đồng thời, chúng tôi sử dụng thuật ngữ patent với hàm nghĩa là bằng độc quyền sáng chế (mặc dù còn có nhiều ý kiến khác nhau về thuật ngữ này).[10]
3. Các quy định quốc tế và nước ngoài về bảo hộ CTMT
3.1. Các quy định quốc tế về bảo hộ CTMT
Tháng 2 năm 1985, WIPO và UNESCO đã triệu tập tại Geneva một nhóm chuyên gia để bàn về các khía cạnh của quyền tác giả bảo hộ chương trình máy tính, trải qua các cuộc thảo luận và đánh dấu bằng quy định tại khoản 1 điều 10 Hiệp định TRIPS[11] và điều 4 Hiệp ước của WIPO về quyền tác giả (WCT)[12] nêu rõ CTMT được bảo hộ như một tác phẩm văn học theo điều 2 của Công ước Berne.
WCT không định nghĩa CTMT, mà CTMT tại văn bản này được hiểu như tại Quy định mẫu của WIPO về bảo hộ CTMT.
Điểm đáng chú ý là, mặc dù Hiệp định TRIPS quy định như đã nêu tại khoản 1 điều 10, nhưng tại điều 27, TRIPS cũng không loại trừ việc cấp patent cho CTMT nếu nó là một giải pháp kỹ thuật đáp ứng tính mới, trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp.
Hiệp ước hợp tác về sáng chế (Patent Coorporation Treaty – PCT) tại quy tắc 39/67 (vi) cho phép loại trừ CTMT được cấp patent.
Điều 52 Công ước châu Âu về sáng chế (European Patent Convention – EPC) loại trừ khả năng CTMT được cấp patent. Nhưng vào năm 1985, Văn phòng sáng chế châu Âu (European Patent Office – EPO) lại đề nghị loại bỏ hạn chế đã được nêu tại điều 52 EPC, nhiều tổ chức phần mềm miễn phí đã phản đối đề nghị này của EPO.
3.2. Các quy định nước ngoài về bảo hộ CTMT
Bộ luật quyền tác giả của Hoa Kỳ sửa đổi 2003 (United States Code Title 17 Copyrights As amended through December 13, 2003) quy định bảo hộ quyền tác giả đối với CTMT, nhưng ngay từ năm 1981, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ tại Diamond v. Diehr[13] đã thừa nhận rằng một số sáng chế phần mềm (Lưu ý: Tòa án Hoa Kỳ sử dụng thuật ngữ sáng chế phần mềm – Software Inventions) được cấp patent. Tòa án cho rằng phần mềm được liên kết với một cấu trúc vật lý có thể được cấp patent, ngay cả khi một thuật toán (algorithm) đã tham gia vào quá trình này.
Ấn Độ – một trong những quốc gia có nền công nghiệp phần mềm phát triển trên thế giới, đã ban hành đạo luật quyền tác giả 1957 (Copyrights Act, 1957), sửa đổi 1999 quy định về bảo hộ quyền tác giả đối với CTMT, nhưng đạo luật bằng sáng chế 1970 (Patents Act, 1970) quy định có thể cấp patent cho CTMT khi nó được liên kết với một cấu trúc vật lý.
Điều 3 Luật quyền tác giả của Trung Quốc (Copyright Law of the People’s Republic of China) quy định bảo hộ phần mềm máy tính (Luật quyền tác giả của Trung Quốc sử dụng thuật ngữ PMMT Computer Software). Năm 2001, Trung Quốc đã ban hành Quy định bảo hộ PMMT để thực hiện Nghị định số 339 của Hội đồng nhà nước, điều 6 của Quy định này nêu rõ không bảo hộ ý tưởng, quy trình, thuật toán… để tạo nên phần mềm.[14]
Như vậy, qua phân tích tại mục 3 cho thấy mặc dù pháp luật quốc tế và pháp luật một số quốc gia khác quy định bảo hộ quyền tác giả đối với CTMT nhưng vẫn không loại trừ khả năng cấp patent cho CTMT.
Phần tiếp theo của bài viết, bằng cách so sánh giữa việc bảo hộ quyền tác giả đối với CTMT và việc cấp patent cho CTMT, tác giả sẽ chỉ ra những bất cập và những lợi thế của hai cơ chế bảo hộ này, trên cơ sở đó đề xuất bảo hộ CTMT như đối tượng độc lập của quyền SHTT.
4. Bất cập của việc bảo hộ quyền tác giả đối với CTMT
4.1. Vi phạm nguyên tắc tính nguyên gốc của tác phẩm
Mục này sẽ phân tích để thấy việc bảo hộ quyền tác giả đối với CTMT đã vi phạm nguyên tắc tính nguyên gốc của tác phẩm.
Điều kiện tiên quyết để bảo hộ quyền tác giả đối với một tác phẩm là tính nguyên gốc của tác phẩm đó, có nghĩa là tác phẩm phải thể hiện là sự sáng tạo của tác giả, hay nói cách khác tác giả phải tự mình sáng tạo nên tác phẩm mà không sao chép từ tác phẩm/những tác phẩm khác.
Nhưng trong thực tế thì nhiều CTMT được phát triển trên cơ sở chương trình phần mềm nguồn mở. Mà chương trình phần mềm nguồn mở cho phép người khác quyền tự do sử dụng, quyền nghiên cứu và sửa đổi chương trình, quyền sao chép và tái phát hành phần mềm gốc hoặc phần mềm đã sửa đổi mà không phải trả phí bản quyền cho những người lập trình trước. Như vậy, CTMT được phát triển trên cơ sở chương trình phần mềm nguồn mở không đảm bảo tính nguyên gốc của tác phẩm.
Trong thực tiễn những phần mềm nguồn mở và ứng dụng thay thế hiện có tại Việt Nam, như: Hệ điều hành nguồn mở có Vietkey Linux, CMC Linux, Hacao Linux… (thay thế hệ điều hành Windows); Bộ ứng dụng văn phòng mở có Open Office (thay thế Microsoft Office); Ứng dụng thay thế khác có Unikey (thay Vietkey), 7-zip (thay Winzip), Mozilla FireFox và Mozilla FireFox ThunderBird (thay thế Internet Explorer và Outlook Express), Gimpshop (thay thế Photoshop), Gaim (thay thế Yahoo Massenger)… Các hệ điều hành nguồn mở, bộ ứng dụng văn phòng, ứng dụng thay thế vừa nêu được dựa trên hệ điều hành gốc, bởi vậy chúng không đảm bảo tính nguyên gốc, nhưng pháp luật quyền tác giả vẫn bảo hộ chúng như những tác phẩm văn học.
Nhưng nếu xem xét CTMT như một đối tượng của sáng chế thì không cần xét đến tính nguyên gốc của CTMT, mà trước hết CTMT phải là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định, bởi vậy câu hỏi quan trọng nhất là: CTMT có đáp ứng tiêu chí là giải pháp kỹ thuật không? Có ý kiến cho rằng CTMT là những thuật toán (algorithm – đối tượng loại trừ của sáng chế) nên nó không được bảo hộ như một sáng chế. Nhưng thuật toán chỉ đóng vai trò là ngôn ngữ lập trình để xây dựng nên CTMT, chứ CTMT không phải là tập hợp của những thuật toán thuần túy. Bởi vậy, có thể nói bất kỳ một CTMT nếu là giải pháp kỹ thuật, liên quan đến việc tạo ra một sản phẩm hoặc một quy trình mà đáp ứng đủ các tiêu chí tính mới, trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp thì đều có thể được cấp patent.
Nhận định này có thể gây hiểu lầm vì mâu thuẫn với quy định tại khoản 1 điều 22 Luật SHTT, nhưng tác giả muốn nhấn mạnh cụm từ “giải pháp kỹ thuật” và xin lưu ý nếu CTMT mà không phải là giải pháp thuật thì nó chỉ được bảo hộ quyền tác giả theo quy định tại khoản 1 điều 22 Luật SHTT.
Nhưng Quy chế thẩm định đơn đăng ký sáng chế do Cục SHTT Việt Nam ban hành lại quy định: “Mặc dù chương trình máy tính thuộc danh mục các đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế nhưng nếu đối tượng yêu cầu bảo hộ có đặc tính kỹ thuật và thực sự là một giải pháp kỹ thuật, nhằm giải quyết một vấn đề kỹ thuật bằng một phương tiện kỹ thuật để tạo ra một hiệu quả kỹ thuật thì nó có thể được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế.[15] Cụm từ “bằng một phương tiện kỹ thuật” vừa nêu được hiểu là CTMT phải gắn với một cấu trúc vật lý nhất định và phải tồn tại ở dạng vật thể, có nghĩa là phải “sờ” được (touchable). Hay nói cách khác, nó phải tồn tại ở dạng hữu hình.
Như vậy, mục này cho thấy việc cấp patent cho CTMT là hợp lý hơn so với việc bảo hộ quyền tác giả đối với CTMT, nó có tác dụng thúc đẩy nhanh quá trình phát triển của công nghiệp phần mềm.
4.2. Xâm phạm quyền nhân thân của tác giả CTMT
Khi bảo hộ CTMT như một tác phẩm văn học, đồng nghĩa với việc đã công nhận việc vi phạm pháp luật quyền tác giả là tất yếu, xin dẫn chứng: việc sửa đổi chương trình phần mềm nguồn mở (mà không cần sự cho phép của những người lập trình trước) đã vi phạm quyền nhân thân được quy định tại khoản 4 điều 19 Luật SHTT vì xâm phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm của người khác.
Trái ngược với khoản 4 điều 19 Luật SHTT, khoản 2 điều 122 Luật SHTT không coi người sử dụng CTMT (nếu được cấp patent) khi cải tiến CTMT là xâm phạm quyền nhân thân của những người lập trình trước (khoản 2 điều 122 Luật SHTT không quy định tác giả sáng chế có quyền bảo vệ sự toàn vẹn của sáng chế).
Bởi vậy, nếu xem CTMT như một đối tượng của sáng chế thì người phát triển phần mềm nguồn mở thành CTMT mới không vi phạm khoản 4 điều 19 Luật SHTT.
4.3. Khó thực thi việc bảo hộ quyền tài sản đối với CTMT
Đối với quyền tài sản của CTMT, quyền sao chép là quyền quan trọng nhất trong nhóm quyền tài sản đối với việc bảo hộ một CTMT, nhưng khoản 10 điều 4 Luật SHTT lại quy định: Sao chép là việc tạo ra một hoặc nhiều bản sao của tác phẩm hoặc bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc tạo bản sao dưới hình thức điện tử. Quy định này đã bộc lộ hạn chế nhất định, đó là nó ngăn cản người sử dụng máy tính làm một bản sao CTMT đề phòng sự cố kỹ thuật máy tính khi sử dụng bản gốc CTMT.
Do đặc tính số hóa, mà việc thực thi quyền tài sản đối với CTMT rất khó vì:
- CTMT dễ bị sao chép, hơn nữa khác biệt với bản sao tác phẩm mỹ thuật (có chất lượng thấp hơn so với bản gốc), bản sao CTMT có chất lượng ngang bằng với bản gốc CTMT, từ một bản sao CTMT người ta có thể tạo thành nhiều bản sao khác.
- CTMT dễ phổ biến: việc phổ biến CTMT có thể thực hiện từ cấu trúc hữu hình (như đĩa CD-ROM, USB…) hoặc cấu trúc vô hình (qua mạng interrnet) với tốc độ cao.
- CTMT dễ lưu trữ: do đặc tính vô hình của CTMT, việc lưu trữ nó là dễ dàng, trong nhiều trường hợp ngay cả chủ sở hữu của CTMT cũng khó có thể nhận ra chủ thể khác đang lưu trữ tài sản của mình.
Bởi vậy, có thể nói việc thực thi quyền tài sản đối với CTMT là rất khó khăn.
5. Lợi thế của việc bảo hộ quyền tác giả và bất cập của việc cấp patent cho CTMT thể hiện qua nguyên tắc bảo hộ
5.1. Lợi thế của việc bảo hộ quyền tác giả qua nguyên tắc bảo hộ hình thức thể hiện của ý tưởng
Pháp luật quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức thể hiện của tác phẩm chứ không bảo hộ ý tưởng của tác phẩm. CTMT sẽ vô nghĩa khi bị đánh cắp ý tưởng, nhưng chủ sở hữu CTMT sẽ bị thiệt hại về kinh tế khi nó bị sao chép bất hợp pháp. Trong khi đó quyền tài sản quan trọng nhất đối với một tác phẩm là quyền sao chép tác phẩm, do đó bảo hộ CTMT theo quyền tác giả là cơ chế mạnh nhất nhằm ngăn cản sự sao chép bất hợp pháp CTMT.
Pháp luật quyền tác giả không bảo hộ ý tưởng của CTMT, bởi vậy nó không ngăn cản người sử dụng CTMT tiến hành các phân tích ngược[16] để giải mã tìm ra nguyên lý hoạt động, cấu trúc của CTMT nhằm mục đích nghiên cứu, phát triển CTMT. Người tiến hành phân tích ngược thành công và tạo nên CTMT mới là chủ sở hữu của CTMT mới đó. Quy định này có ý nghĩa khoa học, kinh tế – xã hội rất cao, nó thúc đẩy nhanh quá trình phát triển của công nghiệp phần mềm.
Qua phân tích này, chúng ta thấy bảo hộ quyền tác giả đối với CTMT là hợp lý.
5.2. Bất cập của việc cấp patent cho CTMT qua nguyên tắc bảo hộ nội dung của ý tưởng
Trái ngược với nguyên tắc vừa phân tích ở trên, pháp luật về sáng chế lại bảo hộ nội dung của ý tưởng[17], khi CTMT được cấp patent thì việc phân tích ngược vì mục đích kinh tế được coi là hành vi bất hợp pháp.
Cũng cần phải nói thêm rằng phân tích ngược CTMT được cấp patent là một việc thừa, vô nghĩa. Bởi vì, điểm a, khoản 2 điều 102 Luật SHTT quy định khi một chủ thể nộp đơn yêu cầu cấp patent cho CTMT thì kèm theo đơn phải có bản mô tả sáng chế đáp ứng điều kiện: “Bộc lộ đầy đủ và rõ ràng bản chất của sáng chế đến mức căn cứ vào đó người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng có thể thực hiện được sáng chế đó”. Những thông tin này được lưu giữ tại sổ đăng ký quốc gia. Tại Việt Nam, theo quy định tại điểm e khoản 1 điều 19 Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN: “Các sổ đăng ký quốc gia do Cục SHTT lập và lưu giữ dưới dạng giấy, điện tử hoặc các phương tiện khác. Bất kỳ người nào cũng có thể tra cứu sổ đăng ký điện tử hoặc yêu cầu Cục SHTT cấp bản sao hoặc bản trích lục sổ đăng ký, với điều kiện phải nộp phí cấp bản sao”. Đối với các sáng chế không được bảo hộ tại Việt Nam, có thể tra cứu các thông tin về chúng trên các website của WIPO hoặc của chính cơ quan sáng chế quốc gia – nơi bảo hộ sáng chế đó.
Khi phân tích nguyên tắc này, chúng ta cũng thấy bảo hộ quyền tác giả đối với CTMT là hợp lý.
5.3. Bất cập của việc cấp patent cho CTMT qua nguyên tắc nộp đơn đầu tiên
Khi có đồng thời nhiều chủ thể cùng nghiên cứu và sáng tạo thành công một CTMT thì patent chỉ được cấp cho chủ thể nộp đơn yêu cầu bảo hộ đầu tiên, CTMT bị coi là mất tính mới nếu chủ thể sáng tạo nên nó nộp đơn sau.
Tính mới là tiêu chí quan trọng nhất để một CTMT được cấp patent, nhưng việc xác định tính mới của CTMT trong thời đại công nghệ thông tin là một điều khó khăn, mỗi ngày trên thế giới có thể cho ra đời nhiều CTMT, bởi vậy có thể kéo dài thời gian hơn so với luật định để xét cấp patent cho một CTMT.
Một người độc lập nghiên cứu mà sáng tạo nên CTMT (đã được cấp patent cho người khác) sẽ không được công nhận là chủ sở hữu của CTMT do mình sáng tạo nên, bởi vì CTMT đã mất tính mới. Cơ chế cấp patent cho CTMT đã không cho phép một người làm chủ sở hữu thành quả sáng tạo của mình nếu có một người khác “nhanh chân” hơn đăng ký yêu cầu cấp patent cho CTMT.
Như vậy, qua phân tích tại mục 5, chúng ta thấy bảo hộ quyền tác giả đối với CTMT là hợp lý. Nhưng việc bảo hộ quyền tác giả đối với CTMT cũng bộc lộ những bất cập dưới đây.
6. Bất cập của việc cấp patent và bảo hộ quyền tác giả đối với CTMT thể hiện qua thời hạn bảo hộ
6.1. Thời hạn bảo hộ quyền tác giả
Thời hạn bảo hộ quyền nhân thân của tác giả CTMT được quy định tại khoản 1, 2, 4 điều 19 Luật SHTT là vĩnh viễn. Như đã phân tích ở trên, quy định này là không cần thiết vì nó ngăn cản quyền của người sử dụng khi cải tiến, nâng cấp CTMT. Thực tế thì quy định này không được thực hiện đối với CTMT.
Quyền tài sản đối với CTMT được bảo hộ suốt cuộc đời tác giả cộng với 50 năm kể từ thời điểm tác giả chết là quá dài đối với vòng đời của CTMT.
6.2. Thời hạn bảo hộ sáng chế
Hiệu lực của sáng chế bắt đầu kể từ thời điểm patent được cấp cho CTMT và kéo dài 20 năm kể từ thời điểm nộp đơn hợp lệ. Thời hạn bảo hộ này cũng được coi là quá dài đối với vòng đời của CTMT.
Qua phân tích về thời hạn bảo hộ quá dài đối với vòng đời của CTMT khi nó được bảo hộ quyền tác giả hoặc được cấp patent đều là không hợp lý.
Như vậy, việc bảo hộ quyền tác giả hay cấp patent cho CTMT đều thể hiện sự bất cập nhất định như đã phân tích. Khác với ý kiến của một số nhà nghiên cứu là nên cấp patent cho CTMT (như đã nêu tại mục 1.2.), chúng tôi cho rằng CTMT là khác biệt với tác phẩm văn học và cũng khác biệt với sáng chế, bởi vậy cần phân loại CTMT để có thể tìm cơ chế bảo hộ đối với mỗi loại CTMT khác nhau.
7. Giải pháp cho việc bảo hộ CTMT
7.1. Giải pháp trước mắt: phân loại CTMT để bảo hộ
Có nhiều cách phân loại CTMT, tuy nhiên căn cứ vào sự giao tiếp giữa người và máy tính có thể phân loại CTMT thành: hệ điều hành, chương trình hệ thống nhúng, chương trình ứng dụng, chương trình hệ thống [18].
7.1.1. Cấp patent cho CTMT
Tham khảo kinh nghiệm của hai quốc gia có nền công nghiệp phần mềm phát triển, có thể lấy ví dụ trường hợp của Ấn Độ và Hoa Kỳ. Đạo luật bằng sáng chế 1970 (Patents Act, 1970) của Ấn Độ quy định có thể cấp patent cho CTMT khi nó được kết hợp với một cấu trúc vật lý. Án lệ số 450 U.S. 175 (1981) của Hoa Kỳ công nhận phần mềm được liên kết với một cấu trúc vật lý thì có thể được cấp patent.
Nhưng trong thực tế, cơ quan Sáng chế Hoa Kỳ đã cấp patent cho CTMT khi nó không liên kết với một cấu trúc vật lý. Có thể dẫn chứng, ngày 05.06.2012 cơ quan Sáng chế Hoa Kỳ đã cấp:
- Patent số US8195953 (B1) cho sáng chế “Chương trình máy tính được xây dựng trong phần mềm bảo vệ độc hại”[19]
- Patent số US8196206 (B1) cho sáng chế “Trình duyệt hệ thống mạng, phương pháp, sản phẩm chương trình máy tính để quét dữ liệu cho nội dung không mong muốn và các trang web liên quan không mong muốn”[20].
Tại Việt Nam, mặc dù khoản 1 điều 22 Luật SHTT quy định như đã nêu, nhưng Quy chế thẩm định đơn đăng ký sáng chế do Cục SHTT ban hành cũng vận dụng việc cấp patent cho CTMT được gắn với một cấu trúc vật lý, có thể dẫn chứng:
- Patent số 4341 cấp ngày 26.07.2004 (số đơn 1-2000-01144 nộp ngày 14/04/1999, số đơn quốc tế là PCT/JP00/02229) có tên: “Thiết bị quản lý dữ liệu, phương pháp quản lý dữ liệu và vật ghi chương trình quản lý dữ liệu”.
- Patent số 9570 cấp ngày 27.09.2011 (số đơn 1-2008-1027 nộp ngày 28/09/2006, số đơn quốc tế là PCT/IB06/002693) có tên: “Thiết bị, phương pháp và vật ghi chương trình máy tính để yêu cầu tăng tốc độ dữ liệu dựa vào khả năng truyền thêm ít nhất một khối dữ liệu được chọn”.
Có thể coi thực tiễn này là một gợi ý cho việc sửa đổi, bổ sung Luật SHTT. Cũng cần nói thêm là cho đến thời điểm này, tại Việt Nam nếu CTMT không "gắn" với "sản phẩm" thì không thể được cấp patent, như quy định của Cục SHTT đã chỉ rõ: “Trong trường hợp chương trình máy tính có khả năng được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế như nêu trên, thì trong yêu cầu bảo hộ, các đối tượng có tên được thể hiện bằng cụm từ như “chương trình máy tính”, “phần mềm máy tính”, “sản phẩm chương trình/phần mềm máy tính”, hoặc “tín hiệu mang chương trình”, và các cụm từ tương đương khác là không được chấp nhận”.[21]
Như đã biết, để có thể được cấp patent thì trước hết CTMT phải là một giải pháp kỹ thuật. Lý thuyết về sáng chế coi giải pháp kỹ thuật tồn tại ở 3 dạng: vật thể, chất thể, quy trình. Như vậy, giải pháp kỹ thuật có thể tồn tại ở dạng hữu hình hoặc dạng vô hình.[22]
Qua kinh nghiệm của Hoa Kỳ, Ấn Độ và thực tế ở Việt Nam đã xem CTMT là giải pháp kỹ thuật ở dạng vật thể, khi nó liên kết với một cấu trúc vật lý. Đặc biệt, Hoa Kỳ đã cấp patent cho CTMT khi nó không liên kết với bất kỳ một cấu trúc vật lý nào, hay nói cách khác patent có thể cấp cho CTMT ngay cả khi nó tồn tại ở dạng vô hình.
Bởi vậy, tác giả đề xuất có thể ban hành quy định bảo hộ sáng chế đối với ba loại CTMT sau:
1. Hệ điều hành (Operating System), bởi vì nó là một phần mềm cần thiết để người dùng quản lý hệ thống và chạy các phần mềm ứng dụng khác trên hệ thống. Nó không chỉ có nghĩa là "phần lõi" tương tác trực tiếp với phần cứng mà còn cả các thư viện cần thiết để các chương trình quản lý và điều chỉnh hệ thống.
2. Hệ thống nhúng (Embedded System), bởi vì nó là một hệ thống có khả năng tự trị được nhúng vào trong một môi trường hay một hệ thống mẹ. Đó là các hệ thống tích hợp cả phần cứng và phần mềm phục vụ các bài toán chuyên dụng trong nhiều lĩnh vực như công nghiệp, tự động hóa điều khiển, quan trắc và truyền tin.
3. Phần mềm hệ thống (System Software), bởi vì đây là phần mềm giúp hệ thống máy tính hoạt động, nhiệm vụ của nó là tích hợp, điều khiển và quản lý các phần cứng riêng biệt của hệ thống máy tính. Phần mềm hệ thống thực hiện các chức năng như chuyển dữ liệu từ bộ nhớ vào đĩa, xuất văn bản ra màn hình.
7.1.2. Bảo hộ quyền tác giả đối với CTMT
Ban hành quy định bảo hộ quyền tác giả đối với Phần mềm ứng dụng (Application Software), bởi vì đây là một loại chương trình có khả năng làm cho máy tính thực hiện trực tiếp một công việc nào đó theo yêu cầu của người dùng. Phần mềm ứng dụng không liên kết với phần cứng của máy tính.
7.2. Giải pháp lâu dài
Nên coi CTMT là đối tượng độc lập của quyền SHTT, bởi vì bảo hộ quyền tác giả cho CTMT hay cấp patent cho nó đều bộc lộ những bất cập như đã phân tích. Khi coi CTMT là đối tượng độc lập của quyền SHTT thì phải có quy định riêng để bảo hộ nó, quy định này không phải là bản sao các quy định của pháp luật quyền tác giả và pháp luật về sáng chế, nhưng nó phải loại bỏ được những bất hợp lý trong các mục như đã phân tích ở trên, trong đó nên có những quy định đáp ứng các điểm sau:
- Tách CTMT như một đối tượng độc lập được bảo hộ quyền SHTT. Thực tế cho thấy, do sự phát triển của khoa học và công nghệ, nên những năm gần đây mới xuất hiện thêm các đối tượng mới của quyền SHTT như chỉ dẫn địa lý, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn… Bởi vậy, CTMT được xuất hiện như một đối tượng mới của quyền SHTT cũng là điều bình thường.
- Không kéo dài thời hạn bảo hộ quyền tài sản đối với CTMT là suốt cuộc đời tác giả và được chấm dứt vào năm thứ 50 khi tác giả (hoặc đồng tác giả cuối cùng qua đời) như quy định hiện hành. Quy định này có thể kéo lùi sự phát triển của công nghiệp phần mềm, thực tiễn cho thấy hiện nay ít thấy người còn dùng hệ điều hành Window 95. Bởi vậy rất cần sự phân loại CTMT để quy định thời hạn bảo hộ quyền tài sản đối với mỗi loại CTMT cho thích hợp. Tác giả đề xuất, thời hạn bảo hộ đối với CTMT lớn, các hệ điều hành là 10 năm (có thể gia hạn bảo hộ 1 lần), thời hạn bảo hộ đối với các CTMT còn lại là 5 năm (có thể gia hạn bảo hộ 1 lần). Việc quy định gia hạn bảo hộ là cần thiết, vì trong thực tế vòng đời công nghệ của các CTMT có thể khác nhau, tác giả/chủ sở hữu CTMT chỉ yêu cầu gia hạn bảo hộ nếu CTMT đó còn có ý nghĩa. Sau thời hạn trên, CTMT thuộc tài sản chung của nhân loại, mọi người có thể sử dụng và nâng cấp CTMT đó. Rất có thể vòng đời của một CTMT nào đó kết thúc sớm hơn thời hạn được bảo hộ, nhưng pháp luật cũng khó có thể điều chỉnh chi tiết đến từng đối tượng cụ thể được, cũng như thời hạn bảo hộ cho sáng chế là 20 năm, nhưng có nhiều công nghệ được bảo hộ là sáng chế đã bị tiêu vong sớm hơn 20 năm.
- Tham khảo điều 117 Luật quyền tác giả của Hoa Kỳ để sửa đổi khoản 10 điều 4 Luật SHTT quy định về sao chép, pháp luật phải cho phép người sử dụng CTMT được quyền lưu giữ bản sao CTMT đề phòng sự cố kỹ thuật của máy tính. Đề xuất này nên được coi là hiển nhiên, vì trên thế giới có nhiều nước đã ban hành quy định này, ví dụ điều 26g Luật quyền tác giả của Thụy Điển quy định: “Bất kỳ người nào có quyền sử dụng CTMT thì được quyền làm bản sao dự phòng của chương trình đó, nếu điều này là cần thiết cho mục đích sử dụng chương trình”.
- Cho phép chủ sở hữu hoặc người sử dụng CTMT được quyền cải tiến, nâng cấp CTMT (mà không bị coi là xâm phạm quyền nhân thân của những người lập trình trước) và được công nhận là chủ sở hữu của phần nâng cấp đó. Nếu trong trường hợp, phần nâng cấp chỉ có thể hoạt động được khi phải sử dụng CTMT gốc thì cần quy định thêm chủ sở hữu CTMT gốc phải cho phép người nâng cấp sử dụng CTMT gốc (có thu phí). Khi tham khảo Luật Quyền tác giả của Thụy Điển, ta thấy quy định tại điều 26g: “Bất kỳ người nào có được quyền sử dụng CTMT thì được quyền làm bản sao chương trình và tiến hành các cải biên chuyển thể cần thiết phục vụ cho mục đích sử dụng của bản thân người đó. Điều này cũng áp dụng đối với các chỉnh sửa lỗi”[23] đã chuyển tải ý tưởng này.
Trên diễn đàn pháp luật quốc tế, Việt Nam nên đóng góp tiếng nói của mình vào việc yêu cầu phê chuẩn một văn bản pháp luật đa phương quy định các quốc gia phải tôn trọng quyền tài sản đối với CTMT do tổ chức hoặc cá nhân của một quốc gia khác làm chủ sở hữu.
* * *
Trên đây là các phân tích và đề xuất bước đầu, tác giả biết rằng đây là vấn đề pháp lý phức tạp ngay cả đối với các quốc gia có nền công nghiệp phần mềm tiên tiến. Bởi vậy, vấn đề này nên tiếp tục được các nhà chuyên môn nghiên cứu sâu thêm.
Tác giả trân trọng và tiếp thu tất cả các ý kiến khác với quan điểm của bài viết này.,.

[1] Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, ISSN 0866-7446, số 11 (295)/2012, tr. 33-42
[2] Tiến sĩ Luật, Chủ nhiệm Khoa Khoa học quản lý, Chủ nhiệm Bộ môn Sở hữu trí tuệ, Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội. Điện thoại cơ quan: 043.558.6013, di động: 0903.211.972, email: tranhailinhvn@yahoo.com
[3] Nguyễn Đình Huy, Một vài suy nghĩ về bảo hộ phần mềm máy tính ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 8/2002
[4] Nguyễn Thị Phương Thảo, Bảo hộ quyền tác giả đối với chương trình máy tính ở Việt Nam hiện nay, Khóa luận tốt nghiệp đại học, Bộ môn SHTT, Khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006.
[5] Nguyễn Như Hà (Thạc sĩ, giảng viên Khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội), Một hướng tiếp cận bảo hộ phần mềm máy tính trong thế giới hội nhập, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12 (236) năm 2007
[6] Hoàng Minh Huệ, (Thạc sĩ, cựu học viên cao học Khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội), Một số vấn đề về bảo hộ phần mềm máy tính hiện nay, Tạp chí Hoạt động khoa học số 596, 2009
[7] Trần Văn Hải, Chương trình máy tính nên được bảo hộ là đối tượng nào của quyền sở hữu trí tuệ? Tạp chí Hoạt động khoa học số 597, 2009
[8] Aunya Singsangob, The Idea of Software Patent Protections, The Harmonisation of ASEAN Competition Laws and Efficiency of the Judiciary in Thailand, 2007
[9] Đặng Quế Vinh, Kỹ thuật lập trình, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật, Hà Nội, 2003, trang 10
[10] Xin tham khảo thêm: Phạm Phi Anh, Trần Văn Hải, Sáng chế và mẫu hữu ích, Bài giảng dành cho chuyên ngành SHTT, Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011, tr.36
[11] Khoản 1 điều 10 Hiệp định TRIPS quy định: Computer programs, whether in source or object code, shall be protected as literary works under the Berne Convention (1971).
[12] Điều 4 WCT quy định: Computer Programs are protected as literary works within the meaning of Article 2 of the Berne Convention. Such protection applies to computer programs, whatever may be the mode or form of their expression
[13] Án lệ số 450 U.S. 175 (1981),… acknowledged that some software inventions were patentable subject matter under 35 U.S.C. 101
[14] Regulation for Computer Software Protection (Promulgated on December 20, 2001 by Decree No.339 of the State Council). Article 6: Protection for software copyright offered by this Regulation may not be extended to the ideas, processing operations, operating methods or algorithm concepts for creating the software.
[15] Trích điều 5.8.2.5 Quy chế thẩm định đơn đăng ký sáng chế (Ban hành kèm theo Quyết định số 487/QĐ-SHTT ngày 31/3/2010 của Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ).
[16] http://www.evolutionnews.org/2007/04/ định nghĩa: “Reverse engineering is the process of discovering the technological principles of a device or object or system through analysis of its structure, function and operation”.
[17] Phạm Phi Anh, Trần Văn Hải (2011), sđd, tr.27
[18] Nguyễn Vân Anh, Định hướng ứng dụng và sáng tạo chương trình máy tính trên cơ sở giải mã công nghệ, Tạp chí Hoạt động khoa học, số 632, 2012
[19] United States Patent US8195953 (B1): “Computer program with built-in malware protection”.
[20] United States Patent US8196206 (B1): “Network browser system, method, and computer program product for scanning data for unwanted content and associated unwanted sites”.
[21] Trích điều 5.8.2.5 Quy chế thẩm định đơn đăng ký sáng chế, đd
[22] Phạm Phi Anh, Trần Văn Hải (2011), sđd, tr.19-21
[23] Act on Copyright in literary and artistic Works (Act 1960: 729, of December 30, 1960, as amended up to April 1, 2009). Article 26g. “Anyone who has acquired the right to use a computer program is entitled to make such copies of the program and to make such adaptations of the program which are necessary in order for him to use the program for its intended purpose. This also applies to corrections of errors”. 

Nguồn: TẠP CHÍ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

Chủ Nhật, 10 tháng 2, 2013

Việt Nam với việc đàm phán về quyền sở hữu trí tuệ trong khuôn khổ hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương

Việt Nam đang tích cực tham gia đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Một trong những vấn đề Việt Nam sẽ còn gặp nhiều khó khăn trong đàm phán chính là vấn đề sở hữu trí tuệ (SHTT). Các nội dung liên quan đến SHTT mà các quốc gia đàm phán đưa ra trong TPP đã vượt xa các quy định ban đầu của TPP và các chuẩn mực quốc tế hiện nay (Hiệp định TRIPs). Bài viết phân tích đề xuất của một số quốc gia đàm phán, đặc biệt là bản đề xuất của Hoa Kỳ trong mối tương quan với các hiệp định thương mại tự do song phương và với hệ thống pháp luật của một số nước, đưa ra một số kiến nghị cho Việt Nam khi tham gia đàm phán TPP về các vấn đề liên quan đến SHTT.

1. Quyền sở hữu trí tuệ trong Hiệp định TPP
Là một nội dung quan trọng trong Hiệp định ban đầu được ký kết giữa bốn quốc gia, bao gồm Brunei, Chile, New Zealand và Singapore (sau đây gọi tắt là Hiệp định P4), ngoài một số quy định nằm rải rác ở phần đầu, các quy định về quyền SHTT được đưa vào trong Chương 10[1] với cấu trúc tương đối đơn giản[2], chỉ có 7 điều khoản bao gồm các nguyên tắc về SHTT, các quy định chung, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên quốc gia và về hợp tác.
Về các nguyên tắc, Hiệp định P4 đưa ra ba nguyên tắc: nguyên tắc về thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội; nguyên tắc về đạt được sự cân bằng về quyền và nghĩa vụ của người chủ sở hữu quyền với lợi ích hợp pháp của người sử dụng và cộng đồng đối với các tài sản trí tuệ được bảo hộ; nguyên tắc về tăng cường các quyền SHTT bằng việc loại bỏ các hoạt động thương mại đối với hàng hóa xâm phạm quyền SHTT.
Về đối tượng của quyền SHTT, Hiệp định P4 đưa ra quy định cụ thể điều chỉnh về nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý và tên gọi quốc gia.
Đối với nhãn hiệu, quy định của Điều 10.4 chỉ bổ sung thêm hai nghĩa vụ đối với các bên là mỗi quốc gia phải tạo cơ hội cho các bên có liên quan để phản đối một đơn đăng ký nhãn hiệu và yêu cầu hủy một nhãn hiệu đã được đăng ký. Ngoài nghĩa vụ mang tính chất nội dung này, Điều 10.4 cũng khuyến khích các bên sử dụng Thỏa ước Nice về phân loại quốc tế hàng hóa và dịch vụ cho mục đích đăng ký nhãn hiệu năm 1979.
Đối với chỉ dẫn địa lý, Điều 10.5 dẫn chiếu đến phụ lục 10.A về các chỉ dẫn địa lý cho rượu và đồ uống của mỗi quốc gia được thừa nhận chung và danh mục này có thể được bổ sung trên cơ sở yêu cầu của mỗi bên.
Đối với tên quốc gia, Điều 10.6 quy định các bên phải có nghĩa vụ cung cấp các công cụ pháp lý cho các bên có liên quan để ngăn cản việc sử dụng thương mại tên quốc gia đối với hàng hóa nhằm đảm bảo không gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa đó.
Chính vì các quy định rất đơn giản trong Hiệp định P4 mà các bên tham gia đàm phán TPP đã quyết định cần phải đàm phán để tạo nên một khung pháp lý với nhiều quy định có thể vượt ra khỏi khuôn khổ đang được điều chỉnh bởi TRIPs và các điều ước quốc tế khác có liên quan đến quyền SHTT.
Tính đến tháng 03/2012, 11 vòng đàm phán TPP đã diễn ra. Mỗi vòng đàm phán, nhiều vấn đề, trong đó có SHTT, được mang ra trao đổi, đàm phán. Vòng đàm phán thứ 12 của TPP diễn ra tại Dallas, Texas Hoa Kỳ từ ngày 8-18/5/2012. Ở vòng đàm phán này, các quốc gia đàm phán tiếp tục những vấn đề còn tranh cãi ở vòng đàm phán trước và chú trọng nhiều đến vấn đề thực thi quyền SHTT và bằng sáng chế.
Sau chín vòng đàm phán, ngày 12/11/2011, các nhà lãnh đạo của chín quốc gia tham gia đàm phán TPP, trong khuôn khổ của Hội nghị Thượng đỉnh APEC tại Honolulu đã ký kết Bản mô tả các lĩnh vực đàm phán chính của Hiệp định TTP[3].
Về cơ sở đàm phán, các thành viên TPP đã đàm phán nội dung của TPP dựa trên quy định của TRIPs cũng như dựa trên Tuyên bố Doha liên quan đến TRIPs và Y tế công cộng[4] vào lời văn của chương này. Điều này đồng nghĩa với việc những linh hoạt được đưa ra trong Tuyên bố này liên quan đến việc cấp bằng sáng chế đối với dược phẩm[5] cũng sẽ được xem xét và đưa vào trong nội dung của TPP. Về nguyên tắc, có thể thấy được hai nguyên tắc quan trọng nhất được nhắc đến trong Bản mô tả, đó là nguyên tắc hiệu quả và nguyên tắc cân bằng, nghĩa là hướng đến việc thực thi có hiệu quả các quy định về quyền SHTT nhưng vẫn phải đạt được sự cân bằng giữa quyền lợi của người sở hữu quyền và người tiêu dùng, cộng đồng; giữa các thành viên của TPP. Về nội dung, các tiếp cận của các thành viên TPP khá đầy đủ, khi đề cập đến tất cả các đối tượng của quyền SHTT như nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, quyền tác giả và các quyền có liên quan, bằng sáng chế, bí mật kinh doanh và các dữ liệu cần thiết để xin phê duyệt đối với một số sản phẩm thuộc diện quản lý; đề cập đến việc thực thi quyền SHTT, đến nguồn gien và tri thức truyền thống. Với trình tự nội dung được thể hiện ở đây, có thể thấy, cách tiếp cận của Hoa Kỳ về quyền SHTT được nêu trong Bản đề xuất của quốc gia này đã được các quốc gia khác chấp nhận. Tuy nhiên, những nội dung được tiết lộ ra bên ngoài đã gây nên những phản ứng mạnh mẽ từ cộng đồng, khi cho rằng nó sẽ ảnh hưởng lớn đến lợi ích của người tiêu dùng, trong đó có người bệnh.
2. Đề xuất của một số quốc gia
Trong các vòng đàm phán của TPP, đã có một số quốc gia (Hoa Kỳ, New Zealand, Chi-lê, Peru…) đưa ra những đề xuất đối với Chương về SHTT. Vì nội dung của các vòng đàm phán được giữ bí mật, nên chỉ một số ít các đề xuất đã được tiết lộ, trong đó có Bản đề xuất của Hoa Kỳ, New Zealand và Chi-lê.
Đề xuất của Hoa Kỳ
Bản đề xuất đầu tiên của Hoa Kỳ được đưa ra tháng 02/2011 và sau đó được sửa đổi lần thứ nhất vào tháng 09/2011[6]. Đây được coi là một bản đề xuất chi tiết nhất để các bên bàn luận trong tại các vòng đàm phán. Nó cũng là một bản đề xuất chứa đựng nhiều bước tiến so với khung pháp luật quốc tế hiện tại về quyền SHTT. Một cách vắt tắt, đề xuất của Hoa Kỳ đã:
- Mở rộng phạm vi bảo hộ của nhãn hiệu cho cả âm thanh, mùi thơm và nhãn hiệu “nổi tiếng” mà nó không “nổi tiếng” ở nội địa[7], trong khi lại làm giảm sự bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý[8], được coi là trái ngược với tính linh hoạt về lựa chọn chính sách trong lĩnh vực này mà TRIPs cho phép.
- Mở rộng các nghĩa vụ quốc tế về nội dung và thời gian bảo hộ quyền tác giả, bao gồm việc mở rộng bảo hộ đối với những lưu trữ “tạm thời” trên Internet[9] và tăng gấp đôi thời gian bảo hộ tối thiểu bắt buộc đối với nhiều đối tượng thuộc quyền tác giả[10].
- Yêu cầu chấp nhận hình thức gây tranh cãi cao về trách nhiệm chống lừa đảo, theo đó, sẽ trừng phạt những hành vi lừa đảo bằng khóa điện tử với bất kỳ mục đích nào[11].
- Gia tăng nội dung bảo hộ quốc tế bắt buộc đối với bằng sáng chế, bao gồm cả việc bảo hộ độc quyền cho các dạng và cách thức sử dụng mới đối với sản phẩm đã được biết đến[12], đối với cây trồng, vật nuôi và quy trình chế tạo dược phẩm[13]. Nhóm các tiêu chuẩn này không tương thích với tính linh hoạt được quy định tại Điều 27.3 của TRIPs[14] cũng như quy định hiện hành của một số quốc gia tham gia đàm phán TPP (như Việt Nam[15], Australia[16], Malaysia[17]…). Tuy nhiên, theo các tác giả Sean Flynn, Margot Kaminski, Brook Baker and Jimmy Koo, việc Hoa Kỳ đề xuất như vậy dường như không nhắm vào các nước tham gia đàm phán TPP mà là nhắm vào Ấn Độ. Các tác giả này phân tích rằng Điều 8.1 được soạn thảo nhằm chống lại một chính sách đã được thực thi tại Ấn Độ theo quy định của điều 3.d Luật Patent sửa đổi năm 2005. Điều 3.d cấm việc cấp bằng sáng chế cho “chỉ việc phát hiện một hình thức mới của một chất đã được biết đến mà nó không dẫn đến việc tăng cường hiệu quả đã được biết đến của chất đó hoặc chỉ việc phát hiện ra bất kỳ thành phần mới, cách sử dụng mới nào của một chất đã được biết đến, hoặc chỉ là cách sử dụng của một quy trình, thiết bị đã được biết đến, trừ khi quy trình đó dẫn đến việc tạo ra một sản phẩm mới hoặc sử dụng ít nhất một chất phản ứng mới”. Điều 3.d này được đưa ra nhằm làm giảm số lượng bằng sáng chế được cấp cho lĩnh vực dược phẩm, từ đó, làm tăng cơ hội tiếp cận đối với các sáng chế về thuốc đã hết thời hạn bảo hộ, tức là làm tăng cơ hội tiếp cận thuốc giá rẻ đối với công chúng. Điều mà Hoa Kỳ lo ngại ở đây chính là qui định của điều 3.d đã trở thành khuôn mẫu để nhiều nước đang phát triển học tập và nội luật hóa nhằm tăng cơ hội tiếp cận thuốc giá rẻ cho người bệnh nước mình[18]. Nói một cách khác, quy định tại Điều 8.1 này làm cho việc cấp bằng sáng chế trở nên dễ dàng hơn, từ đó, bảo vệ quyền lợi cho người sở hữu bằng sáng chế, trong đó có các công ty dược phẩm lớn của Hoa Kỳ[19].
- Sửa đổi khung pháp lý quốc tế về các tiêu chuẩn đối với đơn đăng ký, phản đối, hủy bỏ, công bố thông tin bắt buộc và lợi ích của bằng sáng chế để làm cho việc đạt được các bằng sáng chế trở nên dễ dàng hơn, việc phản đối hoặc hủy bỏ bằng sáng chế khó khăn hơn và làm cho việc chuyển giao công nghệ mang lại ít lợi ích hơn.
- Loại bỏ việc tiếp cận với các linh hoạt trong lĩnh vực dược phẩm[20] được quy định trong Luật Mới về Thương mại năm 2007 (2007 New Trade Deal Law) và Hiệp định Thương mại Tự do giữa Hoa Kỳ và Peru và thay vào đó là các quy định về mở rộng bảo hộ đối với sáng chế và đăng ký bảo hộ độc quyền đối với thuốc mà không quan tâm đến khả năng chi trả của người bệnh. Các quy định này sẽ dẫn đến giá thuốc tăng cao và khả năng tiếp cận đối với các dược phẩm sẽ giảm xuống, nhất là đối với người dân của các nước đang phát triển.
- Đưa ra nhiều chế tài khác nhau, bao gồm cả các chế tài hình sự và tư pháp[21].
- Bổ sung các quy định hạn chế mới về tính hiệu quả của đám phán giá trong chương trình bồi hoàn giá thuốc, một chương trình mà trước đó chưa bao giờ được đề nghị cho các nước đang phát triển và cũng chưa bao giờ được thực thi ngay tại chính Hoa Kỳ[22].
Như vậy, có thể thấy, những đề nghị của Hoa Kỳ đưa ra trong bản đề xuất tháng 02/2011, dù có được sửa đổi chút ít trong tháng 09/2011, vẫn hàm chứa những đòi hỏi rất cao, nhiều khi vượt quá khả năng thực thi của một bộ phận các bên tham gia đàm phán là các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Đề xuất của New Zealand
Hiện tại, các đề xuất bị tiết lộ của New Zealand được chứa đựng trong hai tài liệu, một tài liệu có tiêu đề: “TPP: Intellectual Property Chapter: Horizontal Issues/Overall Structure, General Provisions and Cooperation”[23] và tài liệu còn lại đề xuất nội dung cụ thể liên quan đến Chương X về SHTT trong TPP[24]. Cụ thể:
Vấn đề tiếp cận ngang/cấu trúc tổng thể, các quy định chung về hợp tác. Trong văn bản đệ trình từ sau phiên đàm phán thứ hai này, xuất phát từ tầm quan trọng của TRIPs trong việc thúc đẩy sự phát triển của thương mại gắn liền với quyền SHTT, cũng như từ những khó khăn mà các Thành viên WTO đã gặp phải trong quá trình thực thi TRIPs, New Zealand nhấn mạnh đến các vấn đề cần đạt được khi xây dựng nội dung về SHTT trong TPP bằng việc đưa ra các nguyên tắc đàm phán và các vấn đề trọng tâm.
Về các nguyên tắc đàm phán, New Zealand nêu lên ba nguyên tắc, bao gồm:
- Hợp tác được đàm phán trong các hiệp định thương mại phải củng cố trực tiếp cho việc thực thi hiệp định và trợ giúp các bên có được nhiều lợi ích kinh tế;
- Các lĩnh vực trọng tâm đàm phán phải hướng tới tạo ra nhiều lợi ích cho các bên nhất có thể và bổ sung cho các quan hệ đối tác kinh tế đang tồn tại cũng như các trợ giúp phát triển đang được thực thi;
- Các thỏa thuận tạo lập thể chế phải mang tính linh động, phù hợp với mục đích, không đòi hỏi quá nhiều nguồn lực và gánh nặng.
Từ ba nguyên tắc này, New Zealand đề xuất ba lĩnh vực chính cần tập trung đàm phán trong khuôn khổ nội dung về quyền SHTT của TPP. Đó là:
- Thúc đẩy hiệu quả hoạt động trong lĩnh vực SHTT. Để làm được điều này, New Zealand đề nghị cần phải đàm phán nội dung về SHTT trong TPP từ xuất phát điểm là các quy định hiện hành của các điều ước quốc tế cũng như từ hệ thống pháp luật của các nước tham gia TPP về SHTT[25].
- Hợp tác trong lĩnh vực thực thi quyền SHTT. Sự hợp tác này hướng đến giải quyết các vấn đề phát sinh và liên quan đến việc xâm phạm các quyền SHTT diễn ra trong mỗi nền kinh tế của các nước tham gia TPP.
- Hợp tác trong lĩnh vực xây dựng thể chế/khả năng trong khu vực: vì các bên tham gia TPP, nhất là các quốc gia đang phát triển, đều phải đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình thiết lập và duy trì hoạt động của các cơ quan nhà nước về SHTT, do đó TPP cần phải củng cố và thúc đẩy hơn nữa sự hợp tác giữa các bên để nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan này.
Từ những đề xuất này, New Zealand cho rằng, nếu được tập trung giải quyết, thì chúng sẽ góp phần rất lớn vào giải quyết các vấn đề tiếp cận ngang như hoạt động điều phối trong quá trình thực thi các quy định về SHTT, khả năng cạnh tranh, phát triển, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, và làm cho thỏa thuận TPP “sống được” trong thực tế[26].
Có thể nhận thấy, mục tiêu của đoàn đàm phán New Zealand không tham vọng như đề xuất của Hoa Kỳ[27]. Điều này có thể dễ dàng giải thích là do vị thế của Hoa Kỳ và New Zealand rất khác biệt, bởi lợi ích mà Hoa Kỳ nhắm đến thông qua nội dung về quyền SHTT trong TPP lớn hơn rất nhiều so với New Zealand hay so với bất kỳ bên tham gia TPP nào khác. Tuy nhiên, bản đề xuất của New Zealand cũng có một số điểm lưu ý: Dù với số lượng điều khoản nhiều hơn, 22 điều so với 16 điều trong bản đề xuất của Hoa Kỳ, các quy định hàm chứa trong đó khá đơn giản, không đi sâu, chi tiết vào quy định chế độ pháp lý bảo hộ cho các đối tượng của quyền SHTT. Ngoài việc đề cập trực tiếp đến nhãn hiệu, kiến thức truyền thống, biểu diễn văn hóa truyền thống và nguồn gen, các quy định còn lại của bản đề xuất đều tập trung đi vào vấn đề thực thi. Về cơ bản, một số mục tiêu này tương tự với những mục tiêu mà TRIPs đề ra[28]. Tuy nhiên, điểm khác biệt và khá quan trọng, đó là mục tiêu đạt sự cân bằng giữa quyền lợi của người sở hữu quyền và người sử dụng cũng như cộng đồng, bởi việc điều phối mối quan hệ này không hề dễ dàng trong khi một số nước chỉ hướng tới bảo vệ quyền lợi của người sở hữu quyền, một số nước khác thì việc này lại không như vậy. Rộng hơn, mục tiêu này đặt ra cũng sẽ giúp đạt được sự cân bằng lớn hơn giữa quyền lợi của các nước đang phát triển và của các nước phát triển tham gia TPP.
Đề xuất của Chi-lê
Đề xuất ban đầu của Chi-lê[29] đưa ra các quy định về bốn vấn đề: định nghĩa; các nguyên tắc chung về SHTT; các quy định chung; và hợp tác. Nhìn tổng thể, bản đề xuất của Chi-lê rất đơn giản, chủ yếu được xây dựng trên nghĩa vụ là các bên tiếp tục tuân thủ khuôn khổ pháp luật về SHTT được tạo ra trên cơ sở TRIPs và Tuyên bố Doha về Sức khỏe cộng đồng năm 2011. Điểm đáng chú ý nhất trong Bản đề xuất này đó là Chi-lê, trong phần về hợp tác, đã vạch ra những nội dung mà các bên cần phải lưu ý trong khuôn khổ hợp tác giữa họ. Đây cũng là nội dung khá quan trọng mà Việt Nam cần lưu ý.
4. Triển vọng đàm phán và những vấn đề đặt ra với Việt Nam
Đối với việc đàm phán TPP nói chung và đàm phán về SHTT trong khuôn khổ TPP nói riêng, về cơ bản, các nguyên thủ quốc gia thành viên TPP đã cho thấy quyết tâm chính trị rất cao để kết thúc đàm phán. Tuyên bố của các Nhà Lãnh đạo các nước tham gia Hiệp định TPP được đưa ra ngày 12/11/2011 trong khuôn khổ của Hội nghị Cấp cao APEC lần thứ 19 tại Honolulu (Hoa Kỳ)[30], đã khẳng định: “chúng tôi hài lòng với những tiến bộ mà giờ đây chúng tôi có thể công bố để hướng tới mục tiêu cuối cùng là hướng tới tự do thương mại tại khu vực Thái Bình Dương”[31] và “chúng tôi cam kết dành những nguồn lực cần thiết để kết thúc hiệp định mang tính biểu tượng này trong thời gian sớm nhất có thể”[32]. Quyết tâm chính trị cao sẽ là một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy các quốc gia đạt được kết quả cuối cùng về nội dung của TPP trong thời gian tới.
Trong Tuyên bố này, các nhà lãnh đạo cũng nhấn mạnh: “Chúng tôi đều rất quan tâm đến việc mở rộng quan hệ đối tác hiện tại của chín nước đa dạng về địa lý và trình độ phát triển với các nước khác trong khu vực. Trong quá trình đàm phán để kết thúc hiệp định, chúng tôi đã và đang chỉ đạo các đoàn đàm phán tiếp tục thảo luận với các đối tác trên toàn khu vực xuyên Thái Bình Dương đã bày tỏ quan tâm tham gia Hiệp định TPP nhằm tạo thuận lợi cho sự gia nhập của những nước này trong tương lai”[33]. Điều này có nghĩa là, trong thời gian tới, có thể sẽ có thêm các quốc gia trong khu vực Thái Bình Dương tham gia và trở thành một bên của TPP. Ngày 11/11/2011, Nhật Bản[34], Canada[35] và Mexico đều tuyên bố ý định tham gia TPP. Tuy tại vòng đàm phán thứ 10 và thứ 11, ba quốc gia này chưa tham gia đàm phán, nhưng có thể thấy, trong thời gian tới, việc tham gia của ba quốc gia mới này vào các phiên đàm phán sắp tới chắc chắn sẽ diễn ra. Xuất phát từ việc cả ba nước này đều có hệ thống pháp luật về SHTT khá phát triển, nhất là Nhật Bản và Canada, có thể thấy rõ là họ sẽ có những đề xuất mới đối với nội dung về sở hữu trí tuệ trong TPP. Ngoài ra, một số quốc gia khác, như Hàn Quốc[36], Trung Quốc cũng có thể tham gia và đưa ra những đề xuất mới cho vấn đề này. Do đó, trong tương lai, đàm phán về SHTT trong TPP có thể đạt được kết quả nhưng có thể sẽ có những thay đổi so với thời điểm hiện tại.
Ngoài ra, trong nghiên cứu của mình, tác giả Peter A. Petri, Micheal G. Plummer và Fan Zhai phân tích cho thấy nội dung về quyền SHTT đạt được khoảng 77% mức độ ưu tiên mà các bên tham gia đàm phán TPP dành cho các nội dung của hiệp định này[37], đứng thứ sáu trong số các ưu tiên hàng đầu[38]. Điều này cho thấy, các quốc gia tham gia đàm phán TPP cố gắng nhằm đạt được các thỏa thuận về nội dung của quyền SHTT vừa đảm bảo lợi ích của mình vừa hài hòa lợi ích chung của các quốc gia khác.
Đối với Việt Nam, chúng ta đã tham gia tích cực vào các vòng đàm phán gần đây của TPP nói chung và về quyền SHTT nói riêng. Tuy nhiên, để đi đến kết quả cuối cùng cũng như bảo vệ được lợi ích của Nhà nước, của doanh nghiệp, của người tiêu dùng và của cộng đồng nói chung, Việt Nam vẫn cần tiếp tục đàm phán, đặc biệt là với đối tác Hoa Kỳ. Những vấn đề cần phải được sửa đổi bao gồm:
- Chuyển các quy phạm được nêu trong Điều 1.3 và Điều 1.5 Bản đề xuất của Hoa Kỳ từ các quy phạm mang tính mệnh lệnh sang các quy phạm mang tính tùy nghi. Việc chuyển đổi này sẽ khiến cho nghĩa vụ gia nhập các điều ước quốc tế mà Bản đề xuất này nêu lên không còn là bắt buộc mà được chuyển sang một quy định mang tính lựa chọn, nói cách khác, không chỉ Việt Nam mà một số nước khác như Malaysia, Brunei… có thể lựa chọn trong danh mục các điều ước đó những điều ước phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội trong nước để gia nhập, từ đó bảo vệ được lợi ích của mình.
- Sửa đổi quy định của Điều 2.1 bằng cách bổ sung thêm một câu: “Trong trường hợp pháp luật của một Bên đã quy định điều kiện để đăng ký nhãn hiệu là dấu hiệu đó phải nhìn thấy được trước khi Hiệp định này có hiệu lực, thì Bên đó được áp dụng quy định của pháp luật trong nước trong khoảng thời gian 10 năm kể từ khi Hiệp định này có hiệu lực”.
- Chỉ chấp nhận khái niệm về chỉ dẫn địa lý như quy định tại điều 22.1 của TRIPs.
-  Loại bỏ quy định về tiêu chuẩn “sử dụng trong thương mại” đối với nhãn hiệu nổi tiếng như được quy định tại Điều 2.6 của Bản đề xuất.
- Sửa đổi quy định về tên miền trên Internet theo hướng bổ sung một lộ trình thực hiện dài để cơ quan quản lý nhà nước của Việt Nam về internet có thời gian chuẩn bị và thích nghi.
- Sửa đổi quy định về quyền độc quyền sao chép đối với tác phẩm, cuộc biểu diễn hay bản ghi như định nghĩa tại khoản 10 Điều 4 của Luật SHTT năm 2005, sửa đổi năm 2009 của Việt Nam.
- Sửa đổi thời hạn bảo hộ đối với tác phẩm, cuộc biểu diễn hay bản ghi được bảo hộ bằng bản quyền hoặc quyền có liên quan giống với thời hạn bảo hộ được quy định tại Điều 27.2 của Luật SHTT Việt Nam năm 2005, sửa đổi năm 2009.
- Chuyển quy định về các ngoại lệ được nêu tại Điều 4.9.d Bản đề xuất của Hoa Kỳ từ quy phạm đóng sang quy phạm mở, từ đó cho phép các bên tham gia TPP có thể bổ sung các ngoại lệ phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của mình.
- Chuyển quy định tại Điều 8.2 từ một quy phạm mệnh lệnh sang quy phạm tùy nghi, theo đó, sửa đổi từ “phải” thành “có thể”.
Ngoài ra, Việt Nam cũng cần bổ sung một số nội dung đàm phán là:
Thứ nhất, cần có những quy định ưu đãi cho các nước đang và kém phát triển
So với chín đối tác khác cùng đàm phán trong TPP, có thể thấy Việt Nam ở vào địa vị quốc gia đang phát triển ở trình độ thấp, có thu nhập bình quân đầu người thấp nhất trong các quốc gia. Vì thế, để đảm bảo sự cân bằng về lợi ích giữa các quốc gia tham gia TPP có trình độ phát triển khác nhau, Việt Nam cần phải được hưởng những ưu đãi trong việc thực thi các quy định về SHTT nói riêng và các quy định khác của TPP nói chung. Ưu đãi này bao gồm:
- Có một khoảng thời gian chuẩn bị thích hợp: khoảng thời gian này ít nhất cũng phải từ năm năm trở lên để Việt Nam có những sự chuẩn bị kỹ lưỡng về nhiều mặt đảm bảo cho việc thực thi có hiệu quả các quy định của Luật mới.
- Có sự hỗ trợ về mặt kỹ thuật và tài chính từ các quốc gia có trình độ phát triển cao như Hoa Kỳ, Australia thông qua cơ chế hợp tác được xây dựng trong khuôn khổ nội dung của chương.
 - Bổ sung một số ngoại lệ, nhất là trong vấn đề về tiếp cận thuốc và dược phẩm đối với người bệnh được bảo hộ bằng patent.
Thứ hai, bổ sung các quy định về hợp tác
Về cơ bản, các nội dung về hợp tác đã được Chi-lê nêu rất cụ thể trong Bản đề xuất của mình. Do đó, nội dung này cần phải được bổ sung vào trong bản tổng hợp các đề xuất. New Zealand cũng có đề xuất về hợp tác khi hoạch định các cơ chế hợp tác.
Thứ ba, bổ sung các quy định về tri thức truyền thống và biểu diễn văn hóa truyền thống
Việt Nam là một quốc gia giàu truyền thống văn hóa, với nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đã được UNESCO công nhận. Do đó, việc bổ sung các quy định về tri thức truyền thống và biểu diễn văn hóa truyền thống sẽ là yếu tố quan trọng giúp Việt Nam có thể bảo vệ được chúng trước làn sóng thương mại hóa làm ảnh hưởng đến những giá trị cốt lõi mà tri thức truyền thống và biểu diễn văn hóa truyền thống mang lại. Việt Nam có thể kết hợp với New Zealand bàn thảo và cụ thể hóa hơn nữa đề xuất của New Zealand về vấn đề này.
Các đề xuất được đưa ra nói trên dựa trên cơ sở nghiên cứu các đề xuất của Hoa Kỳ, so sánh với TRIPs, với hệ thống pháp luật trong nước của Việt Nam. Do đó, có thể khẳng định nó sẽ góp phần tích cực trong việc bảo vệ lợi ích của Việt Nam nói chung, của các doanh nghiệp và cộng đồng nói riêng. Đồng thời, nhờ đó, việc thực thi các quy định của chương này tại Việt Nam cũng sẽ gặp nhiều thuận lợi hơn trong tương lai./.


[1] Xem Chapter 10, Trans-Paficic Strategic Economic Partnership Agreement, tại: http://www.mfat.govt.nz/downloads/trade-agreement/transpacific/main-agreement.pdf (truy cập 28/02/2012).
[2] Chương 10 gồm 7 điều: Các định nghĩa (10.1), Các nguyên tắc về SHTT (10.2), Các quy định chung (10.3), Nhãn hiệu (10.4), Chỉ dẫn địa lý (10.5), Tên quốc gia (10.6) và Hợp tác (10.7)
[3]Bộ Công thương, Bản mô tả các lĩnh vực đàm phán chính của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương, tại: http://trungtamwto.vn/tpp/ket-qua-dat-duoc-ve-hiep-dinh-doi-tac-xuyen-thai-binh-duong-tpp-tai-hoi-nghi-cap-cao-apec-19 (truy cập ngày 01/03/2012); Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) - Báo cáo của các Bộ trưởng Thương mại trình các Nhà Lãnh đạo, 12/11/2011, tại: http://trungtamwto.vn/tpp/ket-qua-dat-duoc-ve-hiep-dinh-doi-tac-xuyen-thai-binh-duong-tpp-tai-hoi-nghi-cap-cao-apec-19 (truy cập ngày 01/03/2012)
[4] WTO, Declaration on the TRIPs Agreement and Public Health, WT/MIN(01)/DEC/2, 20/11/2001, tại: http://www.wto.org/english/thewto_e/minist_e/min01_e/mindecl_trips_e.htm (truy cập ngày 01/03/2012).
[5] Xem đoạn 5(a),(b),(c) của Tuyên bố này.
[6] Xem: Trans-Pacific Partnership, Intellectual Property Rights Chapter February Draft, tại: http://keionline.org/sites/default/files/tpp-10feb2011-us-text-ipr-chapter.pdf (truy cập ngày 20/02/2012); Trans-Pacific Partnership, Intellectual Property Rights Chapter September 2011 Draft (Selected Provisions), xem tại: http://www.citizenstrade.org/ctc/wp-content/uploads/2011/10/TransPacificIP1.pdf (truy cập ngày 20/02/2012).
[7] Điều 2 của Bản đề xuất: “Không một Bên nào có thể yêu cầu, như là một điều kiện để đăng ký, rằng một dấu hiệu phải nhìn thấy được, không một Bên nào có thể từ chối đăng ký nhãn hiệu chỉ vì dấu hiệu tạo nên nhãn hiệu là âm thanh hoặc mùi vị”. Quy định này mở rộng các dấu hiệu có thể được bảo hộ là nhãn hiệu từ những dấu hiệu nhìn thấy được sang cả các dấu hiệu không nhìn thấy được. So với TRIPs, điều 2.1 nêu trên đã hoàn toàn loại bỏ tính linh hoạt được tạo ra bởi điều 15.1 của TRIPs khi cho phép các Thành viên WTO có thể quy định trong hệ thống pháp luật quốc gia của mình rằng “điều kiện để được đăng ký là các dấu hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được”. Việt Nam cũng chỉ chấp nhận những dấu hiệu nhìn thấy được để đăng ký làm nhãn hiệu (Điều 72, Luật SHTT 2005)
[8] Điều 2.2 của Bản đề xuất yêu cầu các Bên tham gia TPP phải quy định là các chỉ dẫn địa lý sẽ được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu. Đồng thời, ghi chú số 4 đi kèm điều khoản này đưa ra khái niệm về chỉ dẫn địa lý, theo đó, “Chỉ dẫn địa lý được hiểu là các chỉ dẫn xác định hàng hóa có nguồn gốc từ lãnh thổ của một Bên, hoặc một khu vực, một vùng trên lãnh thổ đó, mà chất lượng, danh tiếng hoặc một đặc tính khác của hàng hóa được coi là có được từ nguồn gốc địa lý của hàng hóa đó. Bất kỳ dấu hiệu hoặc nhóm dấu hiệu nào (như chữ, bao gồm tên người và tên địa lý, cũng như các chữ cái, chữ số, các yếu tố tượng hình và màu sắc, bao gồm cả màu đơn), ở bất kỳ hình thức nào, đều có thể được coi là chỉ dẫn địa lý”. Khái niệm này rộng hơn định nghĩa về chỉ dẫn địa lý được nêu tại điều 22.1 của TRIPs cũng như tại điều 79 của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005, sửa đổi năm 2009
[9] Điều 4.1 quy định: “Mỗi bên phải quy định rằng các tác giả, người biểu diễn và nhà sản xuất bản ghi có quyền cho phép hoặc cấm mọi sự sao chép tác phẩm, biển diễn hoặc bản ghi của mình dưới bất kỳ cách thức và hình thức nào, thường xuyên hay tạm thời (bao gồm cả việc tạm thời lưu trữ dưới hình thức điện tử”. Theo các ghi chú đi kèm, “tác giả, người biểu diễn và nhà sản xuất bản ghi” được hiểu là bao gồm cả những người thừa kế của những người này; “quyền cho phép hay cấm”, “quyền cho phép” được hiểu là quyền độc quyền; và “biểu diễn” được hiểu là việc biểu diễn gắn với một bản ghi, trừ trường hợp có quy định đặc biệt khác.
[10] Điều 4.5 của đề xuất đưa ra quy định về thời hạn bảo hộ đối với quyền tác giả và các quyền có liên quan. Trên cơ sở tuổi thọ của thể nhân, Hoa Kỳ đề xuất thời hạn bảo hộ này không ít hơn so với tuổi thọ của tác giả và 70 năm sau khi tác giả chết.
[11] Điều 4.9 cung cấp một khuôn khổ các biện pháp bảo hộ phù hợp và các biện pháp khắc phục hiệu quả về mặt pháp lý để chống lại việc qua mặt các biện pháp công nghệ mà tác giả, người biểu diễn hoặc nhà sản xuất bản ghi sử dụng liên quan đến việc thực hiện các quyền của họ để hạn chế các hành vi không được phép đối với tác phẩm, buổi biểu diễn và bản ghi, Hoa Kỳ đề xuất các bên tham gia đàm phán TPP phải đưa ra các quy định để quy trách nhiệm cho một loạt những người có liên quan[11]. Trách nhiệm này đòi hỏi phải là trách nhiệm hình sự, đi kèm với các biện pháp khắc phục khác để đảm bảo quyền lợi của người sở hữu quyền.
[12] Điều 8.1 của Bản đề xuất quy định: “Mỗi Bên phải cấp patent cho mọi sáng chế, dù đó là một sản phẩm hay một quy trình, trong mọi lĩnh vực công nghệ, với điều kiện là sáng chế mới, có trình độ sáng tạo, và có khả năng ứng dụng công nghiệp. Ngoài ra, các Bên xác nhận rằng bằng sáng chế sẽ sẵn có đối với bất kỳ hình thức, sử dụng hoặc phương pháp sử dụng mới đối với một sản phẩm đã được biết đến; và một hình thức, sử dụng, hoặc phương pháp sử dụng mới một sản phẩm đã được biết đến có thể đáp ứng các tiêu chí về cấp bằng sáng chế, thậm chí nếu như sáng tạo đó không nhằm mục đích tăng cường hiệu quả đã được biết đến của sản phẩm đó”.
[13] Điều 8.2 quy định: “Mỗi bên phải cấp patent cho các sáng chế đối với: (a) cây trồng và vật nuôi; và (b) các phương pháp phân tích, chữa bệnh và phẫu thuật để điều trị cho con người và động vật”.
[14] Điều 27.3 của TRIPs quy định: “Các Thành viên cũng có thể loại trừ không cấp patent cho: (a) các phương pháp chẩn đoán bệnh, phương pháp nội và ngoại khoa để chữa bệnh cho người và động vật; (b) thực vật và động vật khong phải là các chủng vi sinh, các quy trình sản xuất thực vật và động vậtm chủ yếu mang tính chất sinh học và không phải là các quy trình phi sinh học hoặc vi sinh…”.
[15] Xem điều 58, 59 Luật SHTT năm 2005, sửa đổi năm 2009 của Việt Nam. Đồng thời, xem các phân tích trong bài viết: Public Citizen & Health Gap, Việt Nam và Hiệp định Quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương: Các rủi ro về tiếp cận thuốc đối với một đối tác của PEPFAR, tr.1-4, tại: http://www.citizen.org/documents/Vietnam-and-the-Trans-Pacific-Partnership-Agreement-%28Vietnamese-Translation%29.pdf (truy cập ngày 25/02/2012); Dr. Burcu Kılıç & Peter Maybarduk, Dangers for Access to Medicines in the Trans-Pacific Free Trade Agreement: Comparative Analysis of the United States’ TPFTA Intellectual Property Proposal and Vietnamese Law, http://www.citizen.org/documents/Comparative-Analysis-of-the-US-TPFTA-IP-Proposal-and-Vietnamese-Law.pdf  (truy cập ngày 25/02/2012).
[16] Xem thêm Public Citizen, Dangers for Access to Medicines in the Trans-Pacific Partnership Agreement: Comparative Analysis of the U.S. Intellectual Property Proposal and Australian law, pp.2-11, tại: http://www.citizen.org/documents/Australia-TPPA-chart.pdf (truy cập ngày 25/02/2012).
[17] Xem thêm: Dr. Burcu Kılıç & Peter Maybarduk, Dangers for Access to Medicines in the Trans-Pacific Partnership Agreement: Comparative Analysis of the U.S. Intellectual Property Proposal and Malaysian law, pp.2-15, http://www.citizen.org/documents/Malaysia-Chart.pdf (truy cập ngày 25/02/2012); Malaysian Declaration on the Trans-Pacific Partnership Agreement & Acces to Medicines, 09/2011, tại: http://www.citizen.org/documents/Malaysia-declaration.pdf (truy cập ngày 25/02/2012).
[18] Xem thêm: Sean Flynn, Margot Kaminski, Brook Baker and Jimmy Koo, tlđd, tr.20-21; Carlos Correa, Guidelines for the Examination of Pharmaceutical Patents: Developing a Public Health Perspective 6–25 (Jan. 2007), tại http://www.iprsonline.org/resources/ docs/Correa_Patentability%20Guidelines.pdf (truy cập ngày 25/02/2012). Sudip Chaudhuri, Chan Park & K. M. Gopakumar, Five years into the product patent regime: India’s response, tại: http://apps.who.int/medicinedocs/documents/s17761en/s17761en.pdf (truy cập ngày 25/02/2012).
[19] Xem thêm: Hội đàm Đối tác Xuyên Thái Bình Dương – Thỏa thuận tự do thương mại sẽ mang đến những lợi nhuận khổng lồ cho các tập đoàn dược phẩm Mỹ và ảnh hưởng đến các chi phí trong các chương trình HIV/AIDS tại Việt Nam, tại: http://www.citizen.org/documents/Thoa-Thuan-Thuong-Mai-moi--Loi-nhuan-lon-cho-cac-hang-Duoc-Pham.pdf (tuy cập ngày 25/02/2012).
[20] Điều 8.2 quy định: “Mỗi bên phải cấp patent cho các sáng chế đối với: (a) cây trồng và vật nuôi; và (b) các phương pháp phân tích, chữa bệnh và phẫu thuật để điều trị cho con người và động vật”.
[21] Điều 15.5(a) yêu cầu các Bên tham gia TPP phải quy định các chế tài bao gồm hình phạt tù và phạt tiền đủ cao để ngăn ngừa các hành vi vi phạm trong tương lai và phù hợp với chính sách nhằm loại bỏ mọi động lực mang tính tài chính của người vi phạm. Biện pháp này giống với quy định trong KORUS, US-Australia FTA, US-Singapore FTA, US-Peru FTA nhưng không được quy định trong hệ thống pháp luật của Hoa Kỳ hay của Việt Nam.
Điều 15.5(b), được xây dựng trên cơ sở điều 25.1 của ACTA, yêu cầu các Bên tham gia TPP phải quy định rằng các cơ quan tư pháp sẽ có thẩm quyền để ra lệnh tịch thu đối với hàng hóa bị “nghi ngờ” làm giả hoặc ăn cắp bản quyền và bổ sung thêm rằng “các mặt hàng có thể bị tịch thu theo bất kỳ lệnh tòa án nào như vậy không cần phải được xác định một cách riêng lẻ, miễn là chúng thuộc nhóm được xác định trong lệnh tòa án đó”. Trong khi đó, điều 61 của TRIPs chỉ quy định “các biện pháp chế tài cũng bao gồm cả việc bắt giữ, tịch thu và tiêu hủy hàng hóa vi phạm”, tức là không nhắc đến trường hợp của các hàng hóa bị “nghi ngờ” vi phạm. Cách quy định như vậy có thể dẫn đến việc lạm dụng của cơ quan tư pháp, từ đó sẽ gây nên những tác động không tích cực đến lưu thông hàng hóa trên thị trường.
[22] Về các đánh giá sâu hơn đối với Bản đề xuất này, xem thêm: Sean Flynn, Margot Kaminski, Brook Baker and Jimmy Koo, Public Interest Analysis of the US TPP Proposal for an IP Chapter, Draft version 1.3, December 6, 2011, tại: http://ssrn.com/abstract=1980173 (truy cập ngày 28/02/2012).
[23] Xem New Zealand, TPP: Intellectual Property Chapter: Horizontal Issues/Overall Structure, General Provisions and Cooperation, tại: http://www.citizen.org/documents/NZleakedIPpaper-1.pdf (truy cập ngày 01/03/2012).
[25] Xem New Zealand, tlđd, p.2&4.
[26] Xem New Zealand, tlđd, pp.3-4.
[27] Xem thêm: Sanya Reid & Peter Maybarduk, Analysis of the Leaked New Zealand Paper on the Trans-Pacific Partnership Agreement and Intellectual Property, 2010, tại: http://infojustice.org/download/tpp/tpp-civil-society/analysisoftheleakednewzealandpaper.pdf (truy cập ngày 01/03/2012).
[28] Xem Lời nói đầu của TRIPs.
[29]Chile TPP Submission, Preliminary Considerations for TPP IP Chapter, xem tại: http://www.citizen.org/documents/ChilePreliminaryConsiderationsforTPPIPChapter.pdf (truy cập ngày 10/03/2012).
[31] Tlđd, đoạn 3.
[32] Tlđd, đoạn 2.
[33] Tlđd, đoạn 3.
[34]Hiroko Tabuchi, Premier Says Japan Will Join Pacific Free Trade Talks, 11/11/2011, tại: http://www.nytimes.com/2011/11/12/world/asia/japan-to-join-talks-on-pacific-trade-pact.html (truy cập ngày 02/03/2012).
[35]Jason Fekete, Canada to strike new trans-Pacific free trade deal: Harper, 13/11/2011, tại: http://news.nationalpost.com/2011/11/13/canada-wants-to-join-u-s-and-asia-pacific-region-free-trade-deal-harper/ (truy cập ngày 02/03/2012).
[36] Cần lưu ý là Hàn Quốc là một bên của KORUS, một hiệp định thương mại với những quy định rất khắt khe về quyền sở hữu trí tuệ mà Hoa Kỳ, bên còn lại của KORUS, dựa vào để đưa ra đề xuất cho chương về quyền sở hữu trí tuệ trong TPP. Do đó, một khi Hàn Quốc tham gia đàm phán TPP, tiếng nói của Hoa Kỳ trong các phiên đàm phán này sẽ được ủng hộ nhiều hơn.
[37] Xem: Peter A. Petri, Micheal G. Plummer, and Fan Zhai, The Trans-Pacific Partnership and Asia-Pacific Intergration: A Quantitative Assessment, East-West Center Working Papers, Economics Series, No. 119, October 24, 2011, pp.10-11.
[38] Theo nghiên cứu này, năm nội dung ưu tiên hàng đầu trên nội dung về sở hữu trí tuệ là: Hàng hóa (100%); Quy tắc xuất xứ (94%); Dịch vụ (91%); Giải quyết tranh chấp (91%) và Thủ tục hải quan (86%). Xem thêm: Peter A. Petri, Micheal G. Plummer, and Fan Zhai, tlđd, pp.10-11.

Nguồn: Tạp chí nghiên cứu lập pháp