Chủ Nhật, 9 tháng 9, 2012

MỐI QUAN HỆ GIỮA LUẬT HỘ TỊCH VỚI LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CHẾ ĐỊNH HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH ĐẾN DỰ ÁN LUẬT HỘ TỊCH


1. Về mối quan hệ giữa Luật Hộ tịch với Luật HN-GĐ
Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (Luật HN-GĐ), phạm vi điều chỉnh của Luật HN-GĐ là quy định chế độ hôn nhân và gia đình, trách nhiệm của công dân, Nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam (Điều 1). Theo dự thảo Luật Hộ tịch, phạm vi điều chỉnh của Luật Hộ tịch là quy định nguyên tắc, thẩm quyền, thủ tục đăng ký hộ tịch; quyền và nghĩa vụ của cá nhân, cơ sở dữ liệu điện tử; thống kê hộ tịch và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong quan lý nhà nước về hộ tịch (Điều 1). Như vậy, việc xác định phạm vi của Luật Hộ tịch trong mối quan hệ với Luật HN-GĐ là rất cần thiết nhằm phân định rõ ràng hơn những nội dung, vấn đề cần được quy định, giải quyết ngay trong Luật Hộ tịch cũng như trong Luật HN-GĐ cho phù hợp với thực tiễn và trong bối cảnh giữa hai luật có những điểm chung, giao thoa và gắn kết với nhau.
Về quan hệ giữa hai Luật, có thể tiếp cận theo hai phương diện:
- Thứ nhất, trên phương diện luật nội dung và luật hình thức, Luật HN-GĐ quy định về các quyền, nghĩa vụ về hôn nhân và gia đình và Luật Hộ tịch quy định thủ tục đăng ký hộ tịch nhằm tôn trọng và bảo đảm các quyền, nghĩa vụ đó. Ở phương diện này, xét về kỹ thuật lập pháp, những quy định về thẩm quyền, thủ tục đăng ký hộ tịch liên quan đến các quan hệ hôn nhân và gia đình cần được quy định trong Luật Hộ tịch không quy định trong Luật HN-GĐ, đồng thời cũng không đưa vào trong Luật Hộ tịch những quy định về các quyền, nghĩa vụ của cá nhân trong các quan hệ hôn nhân và gia đình. Ví dụ, Luật HN-GĐ quy định quyền kết hôn và các điều kiện kết hôn, Luật Hộ tịch quy định về thẩm quyền, thủ tục đăng ký kết hôn.
Quy định như vậy sẽ đảm bảo xác định được rõ ràng, cụ thể phạm vi điều chỉnh của hai luật, đồng bộ, thống nhất trong quy định về quyền, nghĩa vụ hôn nhân và gia đình, các quy định về đăng ký hộ tịch và quản lý nhà nước về hộ tịch cũng có sự đồng bộ, thống nhất hơn.
Tuy nhiên, nếu thuần túy trên phương diện luật nội dung và luật hình thức để xác định quy định nào đưa vào luật nào cũng có điểm cần cân nhắc, bởi vì việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận và đăng ký một quyền về hôn nhân và gia đình không đơn giản là một thủ tục mà nó thuộc nội dung quyền của cá nhân. Mặt khác, nếu Luật Hộ tịch thuần túy chỉ quy định về thẩm quyền, thủ tục thì cũng chưa đảm bảo hết vị trí của Luật Hộ tịch là đạo luật trực tiếp liên quan đến phạm trù quyền con người, quyền công dân nói chung, quyền về hôn nhân và gia đình nói riêng.
- Thứ hai, trên phương diện luật chung và luật riêng, Luật HN-GĐ là luật chung quy định về chế độ hôn nhân và gia đình, trách nhiệm của công dân, Nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam, còn Luật Hộ tịch là luật riêng quy định về thẩm quyền, nguyên tắc, thủ tục đăng ký hộ tịch trong các quan hệ hôn nhân và gia đình. Ở phương diện này, giữa hai Luật có những điểm chung, sự giao thoa và gắn kết với nhau tương đối rõ nét. Luật HN-GĐ vẫn có các quy định có tính nguyên tắc về trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nghi thức trong đăng ký hộ tịch về hôn nhân và gia đình, Luật Hộ tịch sẽ cụ thể hóa các quy định có tính nguyên tắc trên của Luật HN-GĐ, đồng thời quy định cụ thể về thủ tục đăng ký hộ tịch về hôn nhân và gia đình thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước về hộ tịch. Trong áp dụng pháp luật về đăng ký hộ tịch, các quy định của Luật Hộ tịch được ưu tiên áp dụng, quy định có tính nguyên tắc của Luật HN-GĐ được áp dụng khi Luật Hộ tịch không có quy định.
Quy định như vậy sẽ đảm bảo được sự đồng bộ trong một thể thống nhất về quy định quyền và cơ chế bảo đảm công nhận, thực thi quyền về hôn nhân và gia đình.
Tuy nhiên, với yêu cầu của việc hoàn thiện thể chế, góp phần khắc phục những hạn chế, bất cập, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, thống nhất, có hiệu lực cao cho công tác đăng ký và quản lý hộ tịch, từ đó tạo chuyển biến cơ bản, từng bước chuyên nghiệp hóa, hiện đại hóa công tác quản lý và đăng ký hộ tịch, Luật Hộ tịch cũng cần có những nội dung, quy định mang tính đột phá. Những quy định này phải vượt lên một số quy định hiện thời của Luật HN-GĐ và các luật nội dung khác có liên quan chưa thực sự theo kịp với yêu cầu cuộc sống, đặc biệt là chưa đáp ứng được yêu cầu cải cách hành chính, tôn trọng và bảo đảm tốt hơn các quyền nhân thân của cá nhân, trong đó có các quyền về hôn nhân và gia đình.
Theo cách tiếp cận đó, với tư cách là luật riêng, Luật Hộ tịch hoàn toàn có thể quy định những nội dung mà Luật HN-GĐ và các luật nội dung khác chưa quy định hoặc đã quy định nhưng không còn phù hợp với điều kiện thực tiễn hiện nay, nếu chờ để sửa đổi, bổ sung các luật nội dung thì sẽ chậm và không đồng bộ với dự án Luật, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân. Ví dụ: (1) Đối với kết hôn giữa công dân Việt Nam tại Việt Nam, dự thảo Luật Hộ tịch quy định Ủy ban nhân dân cấp xã nơi quản lý Sổ Bộ hộ tịch hoặc nơi cư trú của một trong hai bên nam, nữ có thẩm quyền giải quyết việc đăng ký kết hôn (Luật HN-GĐ chỉ quy định cơ quan có thẩm quyền là Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của một trong hai bên nam, nữ); (2) Đối với kết hôn có yếu tố nước ngoài, dự thảo Luật Hộ tịch đã có sự đột phá khi quy định thẩm quyền đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã và Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm lấy ý kiến bằng văn bản của Ủy ban nhân dân cấp Huyện về việc đăng ký kết hôn (Luật HN-GĐ quy định thẩm quyền đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài thuộc về Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương).
Với phân tích như trên, theo quan điểm của chúng tôi, khi xây dựng Luật Hộ tịch cần xem xét mối quan hệ giữa Luật này với Luật HN-GĐ và các luật nội dung khác trên cả hai phương diện: Luật Hộ tịch là luật hình thức, đồng thời cũng là luật riêng của luật nội dung. Tiếp cận như vậy sẽ đạt được các mục tiêu: (1) đảm bảo xác định được rõ ràng, cụ thể phạm vi điều chỉnh của hai luật; (2) đảm bảo được sự đồng bộ trong một thể thống nhất về quy định quyền và cơ chế bảo đảm công nhận, thực thi quyền về hôn nhân và gia đình, khắc phục được những bất cập, hạn chế trong quy định của Luật HN-GĐ không còn phù hợp với điều kiện thực tiễn hiện nay; (3) tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, thống nhất, có hiệu lực cao cho công tác đăng ký và quản lý hộ tịch, từ đó tạo chuyển biến cơ bản, từng bước chuyên nghiệp hóa, hiện đại hóa công tác quản lý và đăng ký hộ tịch.
2. Về tác động của các chế định hôn nhân và gia đình đến dự án Luật Hộ tịch
2.1. Chế định kết hôn và đăng ký kết hôn (Điều 8 – Điều 17 Luật HN-GĐ năm 2000)
* Kết hôn và đăng ký kết hôn theo quy định của Luật HN-GĐ
Kết hôn theo quy định của Luật HN-GĐ là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn (khoản 2 Điều 8). Như vậy, việc kết hôn chỉ có giá trị về pháp lý khi việc kết hôn được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền (khoản 1 Điều 11) và không vi phạm các điều kiện kết hôn theo luật định (Điều 9 và Điều 10). Trong đó, đăng ký kết hôn vừa là quyền của cá nhân đối với Nhà nước về hợp thức hóa việc kết hôn của mình, vừa là thủ tục do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thực hiện, các bên kết hôn phải tuân thủ để để hợp thức hóa việc kết hôn của họ.
Các nước trên thế giới tùy theo đặc thù của hệ thống pháp luật quốc gia, quy định về đăng ký kết hôn trong Bộ luật Dân sự, Luật HN-GĐ hoặc trong văn bản luật riêng về hộ tịch, nhưng nhìn chung có hai nghi thức đăng ký kết hôn được thừa nhận: nghi thức dân sự (do cơ quan nhà nước thực hiện – được áp dụng ở hầu hết các quốc gia) và nghi thức tôn giáo (do nhà thờ được nhà nước cấp phép thực hiện – phổ biến ở các nước có quốc giáo là đạo cơ đốc). Ngoài ra, ở những nước thừa nhận hôn nhân thực tế (chung sống như vợ chồng không có đăng ký kết hôn theo nghi thức luật định) thì nghi thức kết hôn theo truyền thống, tập quán cũng có thể là căn cứ để Tòa án xem xét tính hợp pháp của hôn nhân. Dù có khác biệt về nghi thức đăng ký kết hôn, nhưng một điểm chung giữa các quốc gia là việc tuân thủ các điều kiện kết hôn là một yêu cầu nghiêm ngặt đối với các bên kết hôn để đảm bảo việc kết hôn không trái pháp luật.
Luật HN-GĐ Việt Nam quy định nghi thức dân sự (đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền) là nghi thức đăng ký kết hôn duy nhất được thừa nhận, việc kết hôn theo nghi thức tôn giáo hoặc theo nghi thức truyền thống được tôn trọng về tín ngưỡng, văn hóa và đạo đức, nhưng không có giá trị về pháp lý (khoản 1 Điều 11). Trong trường hợp việc kết hôn được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhưng vi phạm một trong các điều kiện kết hôn theo luật định thì việc kết hôn đó là trái pháp luật và có thể bị tòa án xử hủy (khoản 3 Điều 8 và Điều 16).
Về thẩm quyền đăng ký kết hôn, Điều 12 Luật HN-GĐ quy định: “Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của một trong hai bên kết hôn là cơ quan đăng ký kết hôn. Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài là cơ quan đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau ở nước ngoài”. Về thủ tục đăng ký kết hôn, Điều 13 Luật này quy định: “1. Sau khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ theo quy định của pháp luật về hộ tịch, cơ quan đăng ký kết hôn kiểm tra hồ sơ đăng ký kết hôn; nếu xét thấy hai bên nam nữ có đủ điều kiện kết hôn thì cơ quan đăng ký kết hôn tổ chức đăng ký kết hôn.
2. Trong trường hợp một bên hoặc cả hai bên không đủ điều kiện kết hôn thì cơ quan đăng ký kết hôn từ chối đăng ký và giải thích rõ lý do bằng văn bản; nếu người bị từ chối không đồng ý thì có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật”.
Khi tổ chức đăng ký kết hôn phải có mặt hai bên nam, nữ kết hôn. Đại diện cơ quan đăng ký kết hôn yêu cầu hai bên cho biết ý muốn tự nguyện kết hôn, nếu hai bên đồng ý kết hôn thì đại diện cơ quan đăng ký kết hôn trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên (Điều 14).
* Tác động đến dự án Luật Hộ tịch
Qua các quy định của Luật HN-GĐ về kết hôn và đăng ký kết hôn, có thể đưa ra những tác động:
- Thứ nhất, nguyên tắc tự nguyện trong kết hôn phải được tôn trọng và bảo đảm trong các quy định của Luật Hộ tịch, không quy định những thủ tục làm cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ.
Đánh giá: Dự thảo Luật Hộ tịch đã đáp ứng tốt yêu cầu này khi quy định nguyên tắc đầu tiên trong đăng ký hộ tịch là tôn trọng và bảo đảm quyền nhân thân của cá nhân; quy định về quyền, nghĩa vụ; bảo đảm thực hiện quyền, nghĩa vụ đăng ký hộ tịch của cá nhân; các hành vi bị nghiêm cấm trong đăng ký hộ tịch và thẩm quyền, thủ tục trong đăng ký kết hôn (Điều 5, 6, 7, 8, 9, Điều 25 và khoản 5 Điều 26).
- Thứ hai, việc đăng ký kết hôn chỉ được thực hiện khi các bên kết hôn đã tuân thủ điều kiện kết hôn theo luật định.
Luật HN-GĐ quy định các điều kiện kết hôn để các bên kết hôn phải tuân thủ. Trên cơ sở đó, Luật Hộ tịch cần phải có các quy định về thủ tục, Hộ tịch viên và cơ quan có thẩm quyền về đăng ký hộ tịch căn cứ vào đó xác định được người có yêu cầu kết hôn đã tuân thủ các điều kiện kết hôn tại thời điểm đăng ký.
Đánh giá: Dự thảo Luật Hộ tịch về cơ bản đã đưa ra được cơ chế để xác định sự tuân thủ điều kiện kết hôn của người có yêu cầu kết hôn khi quy định: (1) người đi đăng ký kết hôn phải xuất trình chứng minh thư hoặc giấy tờ hợp lệ thay thế, Giấy chứng minh nơi cư trú, tờ khai đăng ký kết hôn và sổ hộ tịch cá nhân của bên nam và bên nữ (khoản 1 Điều 26); (2) việc kết hôn được tổ chức tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã với sự có mặt của cả hai bên nam, nữ (khoản 4 Điều 26).
Tuy nhiên, Dự thảo Luật cũng chưa quy định cụ thể Tờ khai đăng ký kết hôn cần có nội dung gì và việc xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có bắt buộc hay không? Theo pháp luật về đăng ký hộ tịch hiện hành, nội dung chính của Tờ khai đăng ký kết hôn là xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền (ủy ban nhân dân cơ sở nơi cư trú, cơ quan đại diện ngoại giao hoặc thủ trưởng đơn vị trong lực lượng vũ trang) về tình trạng hôn nhân của người có yêu cầu kết hôn. Nếu tiếp tục kế thừa quy định này, Luật Hộ tịch vẫn chưa giải quyết được vướng mắc trong thực tiễn hiện nay về việc đăng ký kết hôn cho người có nhiều nơi cư trú, người làm nghề lưu động không có nơi cư trú ổn định, việc làm tờ khai đăng ký kết hôn có xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền là rất phức tạp và khó có thể có được xác nhận vì cơ quan, tổ chức có thẩm quyền không có thông tin. Bộ Tư pháp cũng đã có hướng dẫn cho phép người có yêu cầu về kết hôn không có nơi cư trú ổn định làm cam kết về tình trạng hôn nhân của mình (Thông tư số 01/2008/TT-BTP ngày 02/8/2008 hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về Đăng ký hộ tịch), đây là hướng dẫn phù hợp với thực tiễn, nhưng để áp dụng pháp luật thống nhất, cần pháp điển hóa hướng dẫn này vào Luật Hộ tịch.
Mặt khác, Dự thảo Luật cũng chưa đưa ra được nguyên tắc thống nhất trong xác định việc các bên kết hôn tuân thủ điều kiện kết hôn khác, ví dụ: trong trường hợp một trong hai bên kết hôn có dấu hiệu không nhận thức được năng lực hành vi của mình tại thời điểm đăng ký kết hôn, thì thủ tục và thẩm quyền của hộ tịch viên trong trường hợp này là như thế nào? điểm d khoản 1 Điều 47 của dự thảo Luật quy định các bên kết hôn phải có xác nhận của cơ quan y tế cấp huyện trở lên của Việt Nam hoặc tổ chức y tế có thẩm quyền của nước ngoài cấp chưa quá 6 tháng tính đến ngày nhận hồ sơ, xác nhận hiện tại các bên kết hôn không mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, nhưng quy định này chỉ áp dụng cho thủ tục đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài.
- Thứ ba, về thẩm quyền và thủ tục đăng ký kết hôn
Luật HN-GĐ năm 2000 quy định tương đối chi tiết về thẩm quyền và thủ tục đăng ký kết hôn, trong bối cảnh Luật Hộ tịch được ban hành thì các quy định này của Luật HN-GĐ cần được rà soát lại, những quy định thuần túy về thẩm quyền và thủ tục cần được quy định trong Luật Hộ tịch. Tuy nhiên, nguyên tắc về thẩm quyền và nghi thức đăng ký kết hôn cần phải được ghi nhận trong Luật HN-GĐ vì nó liên quan đến trực tiếp đến quy định quyền kết hôn và cơ chế bảo đảm công nhận, thực thi quyền kết hôn của cá nhân.
Đánh giá: Dự thảo Luật Hộ tịch đã có những quy định tốt trong định hướng cải cách về thẩm quyền và thủ tục trong đăng ký kết hôn, giải quyết được những bất cập, hạn chế trong quy định của Luật HN-GĐ. Quy định về thẩm quyền đăng ký kết hôn trong Dự thảo Luật Hộ tịch (Điều 25) phù hợp với thực tiễn hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân hơn so với quy định hiện hành của Luật HN-GĐ (Điều 12). Theo đó, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi quản lý Sổ Bộ hộ tịch hoặc nơi cư trú của một trong hai bên nam, nữ có thẩm quyền giải quyết việc đăng ký kết hôn (Luật HN-GĐ chỉ quy định cơ quan có thẩm quyền là Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của một trong hai bên nam, nữ). Dự thảo Luật cũng quy định về thủ tục đăng ký kết hôn tại nơi cư trú, không phải nơi quản lý Sổ bộ hộ tịch của bên nam, nữ, thì sau khi đăng ký kết hôn, Hộ tịch viên phải thông báo ngay bằng văn bản trong đó ghi đầy đủ những nội dung đã được đăng ký cho Hộ tịch viên nơi quản lý Sổ bộ hộ tịch và cập nhật vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử (khoản 5 Điều 26).
2.2. Về kết hôn có yếu tố nước ngoài (Điều 100 – Điều 103 Luật HN-GĐ năm 2000)
* Kết hôn có yếu tố nước ngoài theo quy định của Luật HN-GĐ
Theo quy định tại khoản 14 Điều 8 và khoản 4 Điều 100 của Luật HN-GĐ, được xác định là kết hôn có yếu tố nước ngoài khi thuộc một trong các trường hợp sau: (1) Giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài; (2) Giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam; (3) Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài; (4) kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài.
Các quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài được tôn trọng và được bảo vệ phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà CHXHCN Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Người nước ngoài tại Việt Nam được hưởng các quyền và có nghĩa vụ như công dân Việt Nam về kết hôn, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác. Nhà nước CHXHCN Việt Nam bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài trong quan hệ kết hôn phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước sở tại, pháp luật và tập quán quốc tế (Điều 100 Luật HN-GĐ).
Về điều kiện kết hôn, trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn; nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn. Việc kết hôn giữa những người nước ngoài với nhau tại Việt Nam trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn (Điều 103).
Về thẩm quyền kết hôn, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài theo quy định của Luật HN-GĐ và các quy định khác của pháp luật Việt Nam. Việc đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân cấp xã nơi công dân Việt Nam cư trú.
* Tác động đến dự án Luật Hộ tịch
- Thứ nhất, về cơ bản Luật HN-GĐ Việt Nam không có sự phân biệt đối xử trong quy định về kết hôn và đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài, ngoại trừ có quy định khác về thẩm quyền đăng ký kết hôn giữa kết hôn trong nước và kết hôn có yếu tố nước ngoài.
Đánh giá: Dự thảo Luật Hộ tịch đã có những quy định tốt trong bảo đảm nguyên tắc không phân biệt đối xử đã được quy định trong Luật HN-GĐ và trong định hướng cải cách về thẩm quyền, thủ tục đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài, giải quyết được những bất cập, hạn chế trong quy định của Luật HN-GĐ. Trên cơ sở hướng tới sự bình đẳng trong kết hôn và đăng ký kết hôn, Dự thảo Luật đã có quy định đột phá so với quy định của Luật HN-GĐ khi giao thẩm quyền đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đăng ký thường trú hoặc nơi đăng ký tạm trú (nếu không có đăng ký thường trú) của công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài. Đồng thời, để tránh xáo trộn lớn trong công tác đăng ký hộ tịch, khắc phục những vướng mắc về chất lượng cán bộ hộ tịch cấp xã, dự thảo Luật cũng quy định về việc Ủy ban nhân dân cấp xã phải chuyển hồ sơ lên xin ý kiến của Ủy ban nhân dân cấp huyện, sau khi có ý kiến bằng văn bản của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã mới tiến hành việc đăng ký kết hôn.
- Thứ hai, xuất phát từ thực tiễn kết hôn có yếu tố nước ngoài hiện nay còn nhiều diễn biến phức tạp, nhiều trường hợp kết hôn không đạt được mục đích hôn nhân, có ý kiến cho rằng Luật Hộ tịch cần quy định trong đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài, các bên kết hôn phải có chứng nhận đã qua tập huấn tại các trung tâm hỗ trợ kết hôn có yếu tố nước ngoài hoặc phải có chứng nhận về sức khỏe tốt, chứng nhận về khả năng ngôn ngữ…
Đánh giá: dự thảo Luật Hộ tịch không quy định các thủ tục này mà thay vào đó quy định về các trường hợp từ chối đăng ký kết hôn là phù hợp (Điều 48 dự thảo Luật), vì việc bổ sung các điều kiện trong kết hôn dù trong kết hôn trong nước hay kết hôn có yếu tố nước ngoài thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật HN-GĐ và Luật HN-GĐ hiện hành không ràng buộc các điều kiện trên trong kết hôn. Trong trường hợp xuất phát từ thực tế cần thiết phải đưa thành điều kiện trong Luật, thì cần có sự sửa đổi, bổ sung các quy định về điều kiện kết hôn trong Luật HN-GĐ.
2.3. Về nhận cha, mẹ, con (Điều 63 – Điều 65 Luật HN-GĐ năm 2000)
* Nhận cha, mẹ, con theo quy định của Luật HN-GĐ
Luật HN-GĐ quy định về nguyên tắc xác định cha, mẹ, con trong hai trường hợp xác định con chung của vợ chồng và xác định con ngoài giá thú. Về nhận cha, mẹ, con, Luật HN-GĐ quy định người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình. Người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó không phải là con mình. Con có quyền xin nhận cha, mẹ của mình, kể cả trong trường hợp cha, mẹ đã chết. Con đã thành niên xin nhận cha, không đòi hỏi phải có sự đồng ý của mẹ; xin nhận mẹ, không đòi hỏi phải có sự đồng ý của cha.
* Tác động đến dự án Luật Hộ tịch
Luật HN-GĐ không quy định cụ thể việc nhận cha, mẹ, con ngoài giá thú được thực hiện theo thủ tục hành chính trong trường hợp tự nguyện nhận và không có tranh chấp.
Đánh giá: Dự thảo Luật Hộ tịch cần cân nhắc khi quy định đăng ký việc nhận cha, mẹ, con theo thủ tục đăng ký hộ tịch trong trường hợp các bên tự nguyện và không có tranh chấp (Điều 31, 32, 33, 52, 53 dự thảo Luật). Theo đó, trong trường hợp một người tự nguyện nhận cha, mẹ, con mà không có tranh chấp và có đủ các căn cứ được quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 53 dự thảo Luật thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi quản lý Sổ bộ hộ tịch của người con hoặc nơi cư trú của người nhận hoặc được nhận là cha, mẹ, con sẽ thực hiện việc đăng ký nhận cha, mẹ, con.
Do quyền nhận, không nhận cha, mẹ, con là quyền nhân thân của cá nhân không thể chuyển giao cho người khác, việc nhận một người là cha, mẹ, con trong mối quan hệ huyết thống phải có những căn cứ pháp lý xác thực họ là cha, mẹ, con của nhau. Pháp luật của nhiều nước trên thế giới thường quy định thẩm quyền trong việc nhận cha, mẹ, con thuộc về Tòa án, rất ít nước quy định thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nước vì cơ quan này không phải là cơ quan tài phán, khó có thể tìm ra những căn cứ pháp lý xác thực về mối quan hệ huyết thống giữa các bên nhận cha, mẹ, con. Việc giao thẩm quyền cho Ủy ban nhân dân cấp xã e rằng có thể phát sinh những trường hợp nhận cha, mẹ, con trục lợi hoặc trá hình không đúng với mục đích nhận cha, mẹ, con, hoặc không có sự áp dụng pháp luật thống nhất trong thi hành pháp luật về vấn đề này.
Theo quan điểm của chúng tôi, trong bối cảnh Luật Hôn nhân và gia đình không quy định cụ thể thẩm quyền giải quyết các việc nhận cha, mẹ, con, Luật Hộ tịch cần có sự đột phá trong quy định thẩm quyền về vấn đề này theo hướng, Tòa án là cơ quan có thảm quyền về nhận cha, mẹ, con, cơ quan đăng ký hộ tịch chỉ ghi chú việc nhận cha, mẹ, con vào Sổ bộ hộ tịch và Sổ hộ tịch cá nhân căn cứ vào quyết định của Tòa án về nhận cha, mẹ, con.
2.4. Về giám hộ giữa các thành viên trong gia đình (Điều 63 – Điều 65 Luật HN-GĐ năm 2000)
* Giám hộ giữa các thành viên theo quy định của Luật HN-GĐ và Bộ luật Dân sự
Luật HN-GĐ quy định khi gia đình có người cần được giám hộ thì việc giám hộ được thực hiện theo các quy định về giám hộ của Bộ luật Dân sự và của Luật HN-GĐ.
Về giám hộ của cha, mẹ đối với con: Khi cha mẹ cùng giám hộ cho con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự thì họ phải thỏa thuận với nhau về việc đại diện cho con trong thực hiện các giao dịch vì lợi ích của con (Điều 80). Trong trường hợp cha mẹ không đủ điều kiện trực tiếp thực hiện các quyền, nghĩa vụ đối với con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự thì cha mẹ có thể cử người khác giám hộ; cha mẹ và người giám hộ thỏa thuận về việc người giám hộ thực hiện một phần hoặc toàn bộ việc giám hộ (Điều 81).
Về giám hộ giữa anh, chị, em ruột: anh, chị, em đã thành niên có năng lực hành vi dân sự thỏa thuận cử một người trong số họ có đủ điều kiện để làm người giám hộ cho anh, chị, em ruột cần được giám hộ. Khi quyết định các vấn đề về nhân thân và tài sản của em chưa thành niên, thì anh chị là người giám hộ phải tham khảo ý kiến của những người thân thích và ý kiến của em, nếu em từ đủ 9 tuổi trở lên (Điều 83).
Về giám hộ giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu: trong trường hợp cháu cần được giám hộ mà ông bà nội, ngoại có đủ điều kiện làm người giám hộ thì những người này thỏa thuận cử một bên làm người giám hộ. Cháu có đủ điều kiện làm người giám hộ thì phải giám hộ cho ông bà nội, ông bà ngoại nếu ông bà không có con phụng dưỡng (Điều 84).
Theo quy định của Bộ luật Dân sự, thẩm quyền về đăng ký giám hộ cử thuộc về Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ (Điều 63 Bộ luật Dân sự). Đối với quan hệ giám hộ có yếu tố nước ngoài, thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, trừ trường hợp việc giám hộ giữa công dân Việt Nam ở khu vực biên giới với công dân nước láng giềng thì thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã ở khu vực biên giới nơi cư trú của công dân Việt Nam (khoản 1 Điều 102 Luật HN-GĐ năm 2000). Việc cử người giám hộ phải lập thành văn bản, trong đó có ghi rõ lý do cử người giám hộ, quyền, nghĩa vụ của người giám hộ, tình trạng tài sản của người được giám hộ, văn bản thỏa thuận phải có xác nhận đồng ý làm giám hộ của người được cử làm giám hộ (64 Bộ luật Dân sự).
Ngoài ra, việc giám hộ phải được giám sát. Người giám sát do những người thân thích của người được giám hộ cử ra, trong trường hợp không có người thân thích hoặc những người thân thích không cử được người giám sát việc giám hộ thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người giám hộ sẽ cử người giám sát (Điều 59 Bộ luật Dân sự).
* Tác động đến dự án Luật Hộ tịch
- Thứ nhất, về thẩm quyền đăng ký giám hộ
Đánh giá: Dự thảo Luật Hộ tịch đã có những quy định tốt trong định hướng cải cách về thẩm quyền và thủ tục trong đăng ký giám hộ, giải quyết được những bất cập, hạn chế trong quy định của Luật HN-GĐ và Bộ luật Dân sự. Quy định về thẩm quyền đăng ký giám hộ trong Dự thảo Luật Hộ tịch (Điều 27, Điều 49) phù hợp với thực tiễn hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân hơn so với quy định hiện hành Điều 63 Bộ luật Dân sự Điều 102 Luật HN-GĐ.
Đối với giám hộ giữa công dân Việt Nam với nhau, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi quản lý Sổ Bộ hộ tịch hoặc nơi cư trú của người được giám hộ có thẩm quyền giải quyết việc đăng ký giám hộ (Bộ luật Dân sự chỉ quy định cơ quan có thẩm quyền là Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ). Dự thảo Luật cũng quy định về thủ tục đăng ký giám hộ tại nơi cư trú, không phải nơi quản lý Sổ bộ hộ tịch của người được giám hộ, thì sau khi đăng ký giám hộ, Hộ tịch viên phải thông báo ngay bằng văn bản trong đó ghi đầy đủ những nội dung đã được đăng ký cho Hộ tịch viên nơi quản lý Sổ bộ hộ tịch và cập nhật vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử (khoản 4 Điều 28).
Đối với giám hộ có yếu tố nước ngoài, Dự thảo Luật đã có sự đột phá so với quy định của Luật HN-GĐ khi quy định việc đăng ký giám hộ có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi quản lý Sổ bộ hộ tịch của người được giám hộ, có thẩm quyền đăng ký giám hộ giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài cùng cư trú tại Việt Nam (Điều 49).
- Thứ hai, về thỏa thuận giữa những người thuộc diện giám hộ đương nhiên của người được giám hộ và việc cử người giám hộ
Đánh giá: Dự thảo Luật Hộ tịch đã có quy định tốt phù hợp với quy định của Luật HN-GĐ khi quy định hồ sơ đăng ký giám hộ phải có văn bản thỏa thuận về việc cử người giám hộ đương nhiên đối với trường hợp có nhiều người đủ điều kiện làm người giám hộ đương nhiên theo quy định của Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, dự thảo Luật cần bổ sung về việc thỏa thuận cử người giám hộ đương nhiên giữa các thành viên trong gia đình (nếu có) được quy định trong Luật HN-GĐ, vì việc thỏa thuận cử người giám hộ giữa cha, mẹ, con, giữa anh, chị, em ruột và giữa ông bà nội, ngoại không được quy định cụ thể trong Bộ luật Dân sự.
Về giám hộ cử, dự thảo Luật cần bổ sung vào hồ sơ đăng ký giám hộ văn bản thỏa thuận của người tự nguyện làm người giám hộ (nếu có), bên cạnh yêu cầu về văn bản cử người giám hộ của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ (Điều 28 và Điều 50).
- Thứ ba, về giám sát trong giám hộ, Bộ luật dân sự quy định việc giám hộ phải được giám sát.
Đánh giá: Dự thảo Luật Hộ tịch chưa có quy định về thủ tục cử người giám sát theo thỏa thuận của những người thân thích của người được giám hộ hoặc của Ủy ban nhân dân nơi cư trú của người giám hộ. Đây là nội dung quan trọng đề nghị bổ sung thủ tục này vào trong dự thảo Luật.
2.5. Về tính mở trong quy định của dự thảo Luật Hộ tịch
Cùng với việc thực hiện dự án Luật Hộ tịch, các luật nội dung của Luật này như Bộ luật Dân sự, Luật HN-GĐ cũng đang trong quá trình được sửa đổi, bổ sung, trong có một số quy định liên quan đến hộ tịch và đăng ký hộ tịch.
Ví dụ: tôn trọng và thực hiện quyền định đoạt của các bên kết hôn về tài sản, quy định các bên kết hôn có quyền thỏa thuận về tài sản trong hôn nhân bằng việc lập hợp đồng trước khi kết hôn đã và đang được nghiên cứu trong sửa đổi, bổ sung Luật HN-GĐ.
Để bảo đảm công khai, minh bạch, sự ổn định về tài sản trong hôn nhân, pháp luật nhiều nước quy định các thỏa thuận về tài sản trong hôn nhân được lập trước khi kết hôn phải dưới hình thức văn bản, được công chứng và phải được ghi chú tại thời điểm đăng ký kết hôn vào trong Sổ Bộ hộ tịch, Sổ hộ tịch cá nhân hoặc Giấy chứng nhận kết hôn. Trường hợp thỏa thuận tài sản trong hôn nhân không được ghi chú vào trong Sổ Bộ hộ tịch, Sổ hộ tịch cá nhân hoặc Giấy chứng nhận kết hôn thì coi như các bên kết hôn đã lựa chọn chế độ tài sản theo quy định của pháp luật…
Đánh giá: Dự thảo Luật Hộ tịch còn thiếu các quy định có tính mở để đảm bảo tương thích với quy định của Luật HN-GĐ, cũng như các luật nội dung có liên quan khác trong trường hợp các luật này được sửa đổi, bổ sung.

[1] Thông tin dựa trên dự thảo Luật Hộ tịch được Chính phủ trình UBTVQH
Nguồn: TỌA ĐÀM CHUYÊN GIA VỀ LỒNG GHÉP VẤN ĐỀ GIỚI TRONG DỰ ÁN LUẬT HỘ TỊCH – ỦY BAN CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI CỦA QUỐC HỘI. Hà Nội, ngày 07/9/2012

Thứ Tư, 5 tháng 9, 2012

Sở hữu chéo Ngân hàng và doanh nghiệp: Mối tình dở dang

Câu chuyện mối nhân duyên giữa ngân hàng và doanh nghiệp liệu có thành công hay thất bại?
Thị trường tài chính Việt Nam gần cuối tháng 8 đã rung động trước sự kiện bầu Kiên bị bắt do liên quan đến hoạt động kinh doanh trái phép ở 3 công ty riêng khác nhau. Cho dù bầu Kiên không có sở hữu chính thức đáng kể nào ở hầu hết các ngân hàng, nhưng thị trường lại phản ứng khá mạnh mẽ về việc này.
Tại sao vậy? Bởi vì thị trường đồn đoán rằng ông Kiên có sở hữu cổ phần ở rất nhiều ngân hàng và công ty khác nhau nhưng lại không chứng minh được.
Bầu Kiên chỉ là một trường hợp trong mối quan hệ giữa ngân hàng và doanh nghiệp Việt Nam. Xa hơn, người ta có thể lo ngại về vấn đề sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay. Nhưng trên thực tế, sở hữu chéo không phải chỉ có duy nhất ở Việt Nam, mà còn từng phát triển rất mạnh ở nhiều nước phát triển.

Liên minh ngân hàng - doanh nghiệp ở Đức và Nhật

Sở hữu chéo là một chủ đề nghiên cứu lớn trong giới học thuật trên thế giới, được giới thiệu như là một chiến lược quản trị của doanh nghiệp. Các nghiên cứu thường tập trung nhiều ở các quốc gia có mức độ sở hữu chéo cao. Ở phương Tây là Đức, còn ở phương Đông là Nhật.
Trong khi đó, mối quan hệ sở hữu chéo giữa ngân hàng và doanh nghiệp lại không phổ biến nhiều ở Anh hay Mỹ. Có lẽ vì những quốc gia này có nền tài chính phát triển định hướng theo thị trường từ lâu đời (huy động vốn dựa vào thị trường, chẳng hạn như thị trường chứng khoán).
Sở hữu chéo được định nghĩa khá đơn giản, là 2 tổ chức sở hữu cổ phần lẫn nhau. Và tùy vào bối cảnh, sở hữu chéo rất đa dạng khi kết hợp mọi thành phần tham gia kinh tế: ngân hàng - doanh nghiệp sản xuất - công ty bảo hiểm - các quỹ đầu tư... Nhưng trong nhiều mối quan hệ chằng chịt đó, mối quan hệ giữa ngân hàng và doanh nghiệp lại là đặc biệt hơn cả. Vì sao?
Các nghiên cứu trên thế giới đều thừa nhận sự thành công của quá trình công nghiệp hóa ở Đức có sự đóng góp đáng kể của liên minh ngân hàng - doanh nghiệp.
Hệ thống tài chính của Đức lúc bấy giờ đi theo định hướng dựa vào ngân hàng. Đồng thời, lĩnh vực ngân hàng cũng có mức tập trung rất cao. Có 4 ngân hàng lớn chiếm 20% quy mô doanh thu toàn ngành: Deutsche Bank, Dresdner Bank và Commerzbank (thành lập từ đầu thế kỷ XVIII vào thời kỳ công nghiệp hóa đầu tiên của người Đức) và Ngân hàng Bayerische Hypo-und Vereinsbank.
Các ngân hàng này có thể đóng nhiều vai trò trong quá trình phát triển: nhà cho vay, cổ đông, đại diện ủy quyền hoặc là nhà tư vấn. Đồng thời, đại diện của ngân hàng có thể có mặt trong hội đồng giám sát công ty, cho dù không phải là cổ đông. Đây là một dấu hiệu cho thấy sự ảnh hưởng mạnh mẽ của lĩnh vực tài chính lên sự quản trị của các ngành công nghiệp khác.
Đặc biệt, sức mạnh của sự giám sát này thể hiện qua 2 con đường: tỉ lệ sở hữu cổ phần và mối quan hệ của người đại diện nằm trong ban quản trị công ty và ngược lại.
Chính các mối quan hệ lâu dài, tập trung này đã dẫn đến sự ổn định, gần gũi, phụ thuộc lẫn nhau và hỗ trợ đáng kể trong chiến lược phát triển vì lợi ích chung của các bên liên quan.
Bài học thứ hai đến từ Nhật Bản. Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, các doanh nghiệp Nhật tỏ ra khắng khít hơn với một ngân hàng trọng tâm và chủ đạo. Các ngân hàng sau đó đã cho vay và mua lại cổ phần của doanh nghiệp. Một nghiên cứu cho thấy 65-70% tỉ lệ cổ phiếu các công ty đại chúng niêm yết trên sàn chứng khoán là đều nằm dưới dạng sở hữu chéo lẫn nhau, cho thấy mối quan hệ giữa các doanh nghiệp Nhật cũng không kém phần “chằng chịt”.
Hình thức sở hữu chéo của Nhật khi đó được ví như một bản “hợp đồng hôn nhân tiềm ẩn” giữa ngân hàng và doanh nghiệp. Trong đó, doanh nghiệp được ví như người chồng phải đưa tiền cho vợ khi cần thiết (bằng cách mua thêm cổ phần). Còn ngân hàng được ví như một người vợ cung cấp tiền cho chồng hằng ngày và có thể kiếm thêm tiền từ các mối quan hệ của người chồng.
Rõ ràng, bằng chứng từ Đức và Nhật cho thấy sở hữu chéo không hoàn toàn mang ý nghĩa tiêu cực như mọi người vẫn thường nghĩ. Thậm chí, đây là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự thành công của quá trình công nghiệp hóa ở cả 2 quốc gia phát triển ở 2 châu lục khác nhau.

Cuộc hôn phối ở Việt Nam

Bối cảnh ở Việt Nam cũng y hệt các nước khác trong khoảng thời gian đầu của quá trình công nghiệp hóa. Doanh nghiệp khát vốn và ngân hàng cũng là địa chỉ cung cấp vốn chủ yếu cho nền kinh tế.
Một ví dụ điển hình là trường hợp của Masan và Techcombank. Mối quan hệ này dựa trên cả 2 con đường: sở hữu cổ phần và những người điều hành nằm trong hội đồng quản trị lẫn nhau. Chẳng hạn, Masan sở hữu 19,71% vốn điều lệ của Techcombank. Đồng thời, nếu như ở Masan, ông Nguyễn Đăng Quang và Hồ Hùng Anh lần lượt giữ vị trí Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị thì ở Techcombank, vị trí này đảo ngược lại khi ông Hồ Hùng Anh là Chủ tịch và ông Quang là Phó Chủ tịch.
Sự gắn kết bền chặt này đã mang lại lợi ích cho cả 2 bên. Techcombank là ngân hàng có tốc độ tăng trưởng nhanh trong giai đoạn hiện nay. Còn Masan phát triển mạnh mẽ với mô hình sở hữu tài sản mà NCĐT đã có dịp đề cập đến trong Chuyên đề “Masan: Mô hình sở hữu tài sản” cách đây không lâu.
Không thiếu những mối quan hệ như thế ở các ngân hàng và doanh nghiệp Việt. Nhưng cũng không có nhiều mối quan hệ mang lại lợi ích tốt đẹp cho cả đôi bên, thậm chí có khi còn ảnh hưởng xấu.
Các trường hợp như Vinashin hay Vinalines là ví dụ tiêu biểu. Là một doanh nghiệp nhà nước, có sự tham gia điều hành của Chính phủ, đồng thời có nhiều mối quan hệ với ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương mại cổ phần.
Một điểm lợi từ mối quan hệ này chính là tín dụng chỉ định với giá rẻ. Nhưng kết quả lại là khoản nợ xấu khổng lồ cho nền kinh tế. Tuy trên danh nghĩa Chính phủ là người đứng ra gánh vác các khoản nợ, nhưng trên thực tế người dân mới là người phải đóng tiền trả nợ.
Nếu giải thích nguyên nhân của hậu quả trên thì chỉ có thể nằm ở Chính phủ. Là người tham gia điều hành và có mặt ở cả hai nơi, chính phủ có quyền (và bắt buộc phải) giám sát đồng tiền của mình đang được sử dụng như thế nào. Tuy nhiên, hệ thống quản trị và giám sát yếu kém đã dẫn đến kết cục bi thảm cho cuộc hôn phối giữa ngân hàng và doanh nghiệp.
Các phân tích ở trên chỉ cho thấy một mối quan hệ tương tác giữa ngân hàng - doanh nghiệp. Còn rất nhiều mối quan hệ khác nằm trong sở hữu chéo, vốn đã được giới truyền thông cũng như các học giả phân tích và cảnh báo. Chẳng hạn như hình thức sở hữu giữa doanh nghiệp - ngân hàng - doanh nghiệp. Hoặc các doanh nghiệp - ngân hàng có thêm yếu tố sở hữu kiểm soát của Nhà nước.
Ở Việt Nam hình thức sở hữu chéo được thừa nhận là khá phổ biến nhưng chưa có một nghiên cứu khoa học nào để xác nhận cũng như chứng minh được thành quả từ mối quan hệ sở hữu chéo này. Sở dĩ như vậy là vì mức độ sở hữu chéo ở Việt Nam rất khó đánh giá. Nguyên do là không minh bạch thông tin và các kế sách lách luật sở hữu một cách hợp pháp.
Có nên tiếp tục?

Quay trở lại với câu chuyện của Đức và Nhật, từ sau thập niên 1990, mô hình quan hệ tương trợ giữa ngân hàng và doanh nghiệp dường như đã giảm đi nhiều. Đức đang chuyển dần sang định hướng thị trường thay vì dựa vào ngân hàng. Còn đối với Nhật, nhiều nghiên cứu khẳng định mối quan hệ này không còn phù hợp.
Đúc kết từ bài học Nhật cho thấy các ngân hàng không thực hiện tốt vai trò giám sát các doanh nghiệp có liên quan. Một lượng tín dụng lớn và kém chất lượng vẫn được cung cấp cho các doanh nghiệp này. Hậu quả là ngân hàng phải gánh chịu những khoản nợ xấu và dẫn đến việc giảm tài sản. Tình hình này đã buộc các ngân hàng phải tái cấu trúc và mức độ sở hữu chéo đã giảm.
Bài học khác lớn hơn từ cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997-1998 cho thấy một trong những nguyên nhân dẫn đến nợ xấu là việc các công ty gia đình ở châu Á đều nắm quyền kiểm soát ở các ngân hàng thương mại và sử dụng những ngân hàng này tài trợ cho các dự án của mình và các công ty có liên quan.
Các nền kinh tế đều trải qua giai đoạn sở hữu chéo cao và có xu hướng giảm dần. Trong khi đó, ở Việt Nam sở hữu chéo chưa biết được có thực sự tác động tích cực gì hay không, nhưng tiêu cực thì rất nhiều. Quả thật, các bài học ở trên thế giới đều đang hiện hữu tại Việt Nam.
Để trả lời câu hỏi có nên tiếp tục cuộc hôn nhân giữa ngân hàng và doanh nghiệp ở Việt Nam hay không, cần phải có sự vào cuộc của những nhà nghiên cứu về mức độ sở hữu chéo cũng như tác động, đóng góp thực tế của nó đối với nền kinh tế Việt Nam.
Một điều rõ ràng là nếu không cải thiện được hiệu quả đầu tư từ những đồng vốn bỏ ra và sự minh bạch về hệ thống theo dõi, giám sát quá trình hoạt động của sở hữu chéo thì về căn bản, việc tiếp tục mối quan hệ giữa ngân hàng và doanh nghiệp sẽ không thể nào thúc đẩy tăng trưởng, thậm chí còn kéo thụt lùi khi nợ xấu tăng và giá trị tài sản giảm.
Ngày nay, doanh nghiệp phá sản nhiều, khó khăn cũng không ít. Nhưng đau khổ hơn cả có lẽ là những doanh nghiệp, vốn là bạn thân của các ngân hàng, nay lại bị quay lưng từ chối cho vay. Đây quả là những mối tình dở dang.

(Theo Nhịp cầu đầu tư)

Thứ Ba, 28 tháng 8, 2012

QUY ÐỊNH HỌP ÐẠI HỘI ÐỒNG CỔ ÐÔNG VÀ VỐN ÐIỀU LỆ CỦA NGÂN HÀNG CẦN ÐƯỢC THỰC TIỄN KIỂM NGHIỆM


Hiện nay, Việt Nam có 35 ngân hàng thương mại cổ phần (chưa bao gồm Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội mới sau khi Ngân hàng thương mại cổ phần Nhà Hà Nội – Habubank sáp nhập vào Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội) và 5 ngân hàng thương mại nhà nước (trong đó, có 4 ngân hàng đã cổ phần phần hoá, chuyển đổi sang hoạt động dưới hình thức ngân hàng thương mại cổ phần, ngoại trừ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Agribank chuyển đổi sang hoạt động dưới hình thức công ty TNHH 1 thành viên do Nhà nước sở hữu từ tháng 10/2010). Do đó, tổ chức và hoạt động của hầu hết các ngân hàng thương mại Việt Nam đang chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp và Luật các tổ chức tín dụng đối với loại hình công ty cổ phần (loại hình công ty này trong lĩnh vực ngân hàng gọi là ngân hàng thương mại cổ phần – sau đây gọi tắt là “Ngân hàng”).
Về mô hình công ty cổ phần thì Ðại hội đồng cổ đông (bao gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết) là cơ quan quyết định cao nhất của Ngân hàng. Các cổ đông thực hiện quyền biểu quyết của mình về các vấn đề thuộc thẩm quyền của Ðại hội đồng cổ đông thông qua các phiên họp thường niên hoặc bất thường hoặc thông qua việc lấy ý kiến bằng văn bản. Tùy theo quy định trong Ðiều lệ của từng Ngân hàng, Ðại hội đồng cổ đông có thể xem xét, quyết định các vấn đề rộng hơn so với các vấn đề bắt buộc do pháp luật quy định; các vấn đề còn lại sẽ được Ðại hội đồng cổ đông giao hoặc ủy quyền cho Hội đồng quản trị toàn quyền nhân danh Ngân hàng để quyết định, thực hiện các quyền, nghĩa vụ của Ngân hàng và được quy định trong Ðiều lệ của Ngân hàng. Việc Ngân hàng tổ chức họp Ðại hội đồng cổ đông thường niên hoặc bất thường phải được tiến hành trong một thời hạn nhất định và phải thông báo, gửi giấy mời các cổ đông tham dự trước một thời hạn tối thiểu xác định theo quy định tại Ðiều lệ của Ngân hàng hoặc quy định của pháp luật. Tuy nhiên, quy định không phù hợp với thực tiễn hoặc thiếu nhất quán giữa các văn bản quy phạm pháp luật có thể làm cho các Ngân hàng không thể tuân thủ được mọi quy định liên quan, đặc biệt là ngành Ngân hàng nơi các ngân hàng thương mại vừa phải tuân thủ quy định của pháp luật chung, vừa phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành.
Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin đề cập đến quy định của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Luật Doanh nghiệp năm 2005 về thời hạn tổ chức họp Ðại hội đồng cổ đông thường niên hoặc bất thường, xác định vốn điều lệ (lý luận về luật thực định) và thực tiễn áp dụng các quy định này trong quá trình hoạt động và kinh doanh của Ngân hàng.
1. Thời hạn tổ chức họp Ðại hội đồng cổ đông thường niên
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005, Ðại hội đồng cổ đông phải họp thường niên trong thời hạn 4 tháng, kể từ ngày kết thúc năm tài chính(1). Thời hạn họp Ðại hội đồng cổ đông thường niên có thể được gia hạn thêm 2 tháng nếu được cơ quan đăng ký kinh doanh chấp thuận theo đề nghị của Hội đồng quản trị. Căn cứ quy định nêu trên của Luật Doanh nghiệp năm 2005, Ðiều lệ của các Ngân hàng cũng có quy định tương tự. Thực tế, để họp Ðại hội đồng cổ đông thường niên, các Ngân hàng phải chờ số liệu kiểm toán được ghi trong báo cáo tài chính hợp nhất (dường như các Ngân hàng đều có công ty con trực thuộc, như: công ty chứng khoán, công ty quản lý và khai thác tài sản, công ty cho thuê tài chính…) vì theo quy định của pháp luật, kết quả kinh doanh của năm trước trình Ðại hội đồng cổ đông phê duyệt phải là số liệu đã được kiểm toán và được ghi nhận trong báo cáo tài chính đã được kiểm toán, trong khi thời hạn hoàn tất việc kiểm toán báo cáo tài chính năm là 90 ngày, kể từ ngày kết thúc năm tài chính (31/12 hàng năm). Cho nên, phần lớn các Ngân hàng đều tổ chức họp Ðại hội đồng cổ đông thường niên trong thời hạn 4 tháng, kể từ ngày kết thúc năm tài chính. Việc Ðại hội đồng cổ đông họp thường niên trong thời gian này sẽ đáp ứng được sự mong đợi của các cổ đông (mong họp Ðại hội đồng cổ đông sớm để biết được kết quả kinh doanh và mức cổ tức được chia trong năm qua, định hướng và kế hoạch kinh doanh trong năm tới…) và tiết kiệm được thời gian, chi phí không cần thiết cho việc thực hiện thủ tục xin gia hạn thời gian tổ chức họp Ðại hội đồng cổ đông thường niên. Trường hợp vì lý do nào đó mà Ngân hàng chưa chuẩn bị xong các nội dung trình Ðại hội đồng cổ đông thường niên (như chưa chuẩn bị xong nhân sự để bầu mới/thay thế thành viên Hội đồng quản trị và/hoặc Ban kiểm soát, chưa thống nhất được các chỉ tiêu và kế hoạch kinh doanh cho phù hợp tình hình mới trên thị trường, chưa thống nhất được các nội dung trình Ðại hội đồng cổ đông ngoài các nội dung bắt buộc theo quy định của pháp luật(2)…), cuộc họp Ðại hội đồng cổ đông thường niên được thông báo trước đó có thể được hủy bỏ để tổ chức lại vào một thời điểm thích hợp trong thời hạn 6 tháng, kể từ ngày kết thúc năm tài chính. Thực tế, đã có nhiều Ngân hàng phải hủy cuộc họp thường niên dự kiến để tổ chức lại cuộc họp Ðại hội đồng cổ đông thường niên. Ðiển hình là Vietinbank thông báo tạm hoãn họp Ðại hội đồng cổ đông thường niên 2011 dự kiến tổ chức ngày 04/4/2011 để tổ chức họp thường niên vào ngày 31/5/2011 sau khi có sự chấp thuận của Phòng đăng ký kinh doanh số 01 – Sở Kế hoạch và Ðầu tư TP. Hà Nội tại Công văn số
55/CV-ÐKKD ngày 27/4/2011 hoặc mới đây, cuộc họp Ðại hội đồng cổ đông thường niên 2012 của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội cũng lùi từ ngày 28/4/2012 xuống ngày 05/5/2012 hoặc Sacombank cũng phải thông báo lùi họp Ðại hội đồng cổ đông thường niên 2012 xuống ngày 26/5/2012 sau khi Eximbank đề nghị bầu lại toàn bộ thành viên Hội đồng quản trị và Sacombank chưa kịp chuẩn bị bổ sung một số vấn đề quan trọng liên quan đến công tác tổ chức họp Ðại hội đồng cổ đông thường niên 2012 trong thời hạn 4 tháng, kể từ ngày kết thúc năm tài chính như quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2005… Như vậy, thời gian gia hạn họp Ðại hội đồng cổ đông thường niên theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005 là phù hợp với thực tế và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tuân thủ quy định của pháp luật về họp Ðại hội đồng cổ đông thường niên, nhất là các trường hợp vì lý do khách quan không thể họp thường niên trước 30/4 hàng năm và phải xin gia hạn thêm 2 tháng.
Kể từ ngày 01/01/2011 (ngày có hiệu lực của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010), quy định về thời gian gia hạn 2 tháng họp Ðại hội đồng cổ đông thường niên trong Ðiều lệ của Ngân hàng đã không được một bộ phận cán bộ tiếp nhận đăng ký Ðiều lệ Ngân hàng chấp nhận với lý do Luật các tổ chức tín dụng 2010 chỉ quy định Ðại hội đồng cổ đông họp thường niên trong thời hạn 4 tháng, kể từ ngày kết thúc năm tài chính(3) mà không quy định về việc gia hạn thời gian họp Ðại hội đồng cổ đông thường niên như quy định tại khoản 2 Ðiều 97 của Luật Doanh nghiệp năm 2005. Cho nên, Ðiều lệ của Ngân hàng phải tuân thủ quy định của pháp luật chuyên ngành (Luật các tổ chức tín dụng năm 2010) về thời gian tổ chức họp Ðại hội đồng cổ đông thường niên. Những người này cho rằng, việc Ngân hàng quy định thời gian gia hạn họp Ðại hội đồng cổ đông thường niên trong Ðiều lệ của Ngân hàng theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005 (pháp luật chung) là không phù hợp với quy định của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (pháp luật chuyên ngành). Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Luật Doanh nghiệp năm 2005 đều có quy định thống nhất về thời hạn tổ chức họp Ðại hội đồng cổ đông thường niên là 4 tháng, kể từ ngày kết thúc năm tài chính. Trường hợp hết thời hạn này mà chưa thể tổ chức họp Ðại hội đồng cổ đông thường niên thì Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 không quy định thời gian gia hạn, trong khi Luật Doanh nghiệp năm 2005 cho phép kéo dài thời hạn tổ chức họp Ðại hội đồng cổ đông lên tới 6 tháng, kể từ ngày kết thúc năm tài chính với điều kiện có sự chấp thuận của cơ quan đăng ký kinh doanh theo đề nghị của Hội đồng quản trị. Do pháp luật chuyên ngành không quy định thời gian gia hạn họp Ðại hội đồng cổ đông thường niên, nên Ngân hàng có quyền áp dụng quy định của pháp luật chung để quy định trong Ðiều lệ của mình. Quy định như vậy là phù hợp với nguyên tắc áp dụng luật và tạo cơ sở thuận tiện cho Ngân hàng tổ chức họp Ðại hội đồng cổ đông thường niên. Thực tế chứng minh, việc các Ngân hàng hiểu và quy định trong Ðiều lệ về thời gian gia hạn họp Ðại hội đồng cổ đông thường niên như nêu trên là phù hợp và đã được các cơ quan có thẩm quyền chấp thuận (các Sở Kế hoạch và Ðầu tư trong cả nước). Chính vì vậy, bộ phận tiếp nhận đăng ký Ðiều lệ Ngân hàng tại cơ quan chức năng nên nghiên cứu thêm nguyên tắc áp dụng luật để có cách nhìn và hiểu đúng đắn hơn về hệ thống pháp luật Việt Nam, qua đó, xem xét, chấp thuận quy định tại Ðiều lệ của các Ngân hàng về thời gian gia hạn họp Ðại hội đồng cổ đông thường niên như quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005.
2. Thời hạn tổ chức họp Ðại hội đồng cổ đông bất thường
Ðại hội đồng cổ đông được triệu tập họp bất thường theo quyết định của Hội đồng quản trị khi xảy ra các sự kiện mà Ngân hàng không lường trước được và không thể giải quyết được bằng hình thức khác (lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản) hoặc các nội dung trình Ðại hội đồng cổ đông không thể giao/ủy quyền cho Hội đồng quản trị quyết định. Trường hợp phải tổ chức họp Ðại hội đồng cổ đông bất thường, Ngân hàng phải tuân thủ các thủ tục và trình tự do pháp luật quy định hoặc Ðiều lệ Ngân hàng quy định. Tuy nhiên, sự quy định thiếu nhất quán giữa các văn bản quy phạm pháp luật và không phù hợp với thực tiễn có thể làm cho Ngân hàng vi phạm quy định của pháp luật trong quá trình tổ chức họp Ðại hội đồng cổ đông bất thường.
Trước khi chính thức đi vào hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần (bao gồm cả thành lập mới và chuyển đổi), Ngân hàng phải lựa chọn đủ số ứng cử viên làm thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát để trình Ðại hội đồng cổ đông thông qua. Ðương nhiên, ứng cử viên phải đáp ứng đủ các tiêu chuẩn và điều kiện tương ứng làm thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát do pháp luật hoặc Ðiều lệ của Ngân hàng quy định. Sau khi được bầu tại Ðại hội đồng cổ đông, số thành viên Hội đồng quản trị của Ngân hàng phải có ít nhất 5 thành viên và có nhiều nhất không quá 11 thành viên, trong đó có ít nhất 1 thành viên độc lập. Thành viên của Ban kiểm soát không bị khống chế mức tối đa mà chỉ phải có đủ số lượng tối thiểu 3 thành viên. Ðại hội đồng cổ đông có quyền quy định trong Ðiều lệ của Ngân hàng số lượng thành viên cụ thể của Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát của từng nhiệm kỳ trong phạm vi số lượng thành viên nêu trên. Nhiệm kỳ của các thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát không quá 5 năm và thực tế thường dao động từ 3 – 5 năm. Trong quá trình hoạt động, có nhiều nguyên nhân dẫn đến số thành viên còn lại của Hội đồng quản trị/Ban kiểm soát không đủ hai phần ba tổng số thành viên của nhiệm kỳ hoặc không đủ số thành viên tối thiểu theo quy định của Ðiều lệ Ngân hàng (như thành viên Hội đồng quản trị/Ban kiểm soát bị chết đột xuất do tai nạn hoặc bệnh tật, bị mất năng lực hành vi dân sự, bị truy cứu trách nhiệm pháp lý, có đơn xin từ chức do áp lực công việc quá lớn…). Khi xảy ra sự kiện này, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 yêu cầu Ngân hàng phải bổ sung đủ số lượng thành viên Hội đồng quản trị/Ban kiểm soát trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày không đủ số lượng thành viên(4).
Tuy nhiên, việc Ngân hàng phải bổ sung đủ số lượng thành viên Hội đồng quản trị/Ban kiểm soát trong thời hạn 60 ngày theo quy định nêu trên là khó có thể thực hiện được trên thực tế, đặc biệt là các Ngân hàng có cổ phiếu niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán vì các lý do chính sau đây:
(i) Khi số lượng thành viên Hội đồng quản trị/Ban kiểm soát không đủ theo yêu cầu nêu trên thì Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc người khác có thẩm quyền phải triệu tập họp Hội đồng quản trị để xem xét, thông qua nội dung trình Ðại hội đồng cổ đông và thủ tục bầu bổ sung thành viên Hội đồng quản trị/Ban kiểm soát. Người triệu tập họp Hội đồng quản trị phải gửi thông báo mời họp cho các thành viên Hội đồng quản trị chậm nhất 5 ngày làm việc (tương đương với 7 ngày) trước ngày dự kiến họp và gửi kèm theo các tài liệu có liên quan. Cuộc họp Hội đồng quản trị chỉ được tiến hành khi có đủ từ ba phần tư tổng số thành viên trở lên dự họp. Trường hợp cuộc họp được triệu tập lần thứ nhất không đủ số thành viên dự họp theo quy định thì người có thẩm quyền được triệu tập họp lần thứ hai trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày dự định họp lần thứ nhất. Trong trường hợp này, cuộc họp được tiến hành nếu có hơn một nửa số thành viên Hội đồng quản trị dự họp.
(ii) Sau khi họp và thống nhất nội dung trình Ðại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị phải gửi thông báo thực hiện quyền đầy đủ, hợp lệ tới Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam (VSD) chậm nhất 10 ngày làm việc trước ngày đề nghị chốt danh sách cổ đông (tương đương 2 tuần làm việc = 14 ngày). Chậm nhất 4 ngày làm việc sau ngày chốt danh sách cổ đông, VSD mới gửi cho Ngân hàng danh sách cổ đông tổng hợp được quyền tham dự họp Ðại hội đồng cổ đông bất thường.
(iii) Danh sách cổ đông có quyền dự họp Ðại hội đồng cổ đông bất thường được lập dựa trên danh sách cổ đông (sổ đăng ký cổ đông) được chốt tại thời điểm xác định để thực hiện quyền nêu trên và phải lập xong chậm nhất 30 ngày trước ngày khai mạc Ðại hội đồng cổ đông bất thường.
(iv) Hội đồng quản trị phải lấy ý kiến các cổ đông có quyền dự họp Ðại hội đồng cổ đông bằng văn bản về số lượng thành viên dự kiến bầu, bổ sung vào Hội đồng quản trị/Ban kiểm soát. Thời hạn lấy ý kiến của các cổ đông về việc ứng cử, đề cử nhân sự dự kiến phải được ghi cụ thể tại văn bản lấy ý kiến và bảo đảm tối thiểu 30 ngày, kể từ ngày gửi văn bản lấy ý kiến(5).
(v) Chậm nhất 30 ngày trước ngày dự kiến họp Ðại hội đồng cổ đông bất thường để bầu bổ sung thành viên Hội đồng quản trị/Ban kiểm soát, Ngân hàng lập hồ sơ gửi Ngân hàng Nhà nước đề nghị chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự theo quy định tại khoản 1 Ðiều 51 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Song, thời hạn Ngân hàng Nhà nước trả lời Ngân hàng về danh sách nhân sự dự kiến hiện vẫn chưa được quy định rõ ràng.
(vi) Cuộc họp Ðại hội đồng cổ đông bất thường được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 65% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết. Trường hợp cuộc họp lần thứ nhất không đủ điều kiện tiến hành thì được triệu tập họp lần thứ hai trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày dự định họp lần thứ nhất. Nếu cuộc họp triệu tập lần thứ hai không đủ điều kiện tiến hành thì Hội đồng quản trị được triệu tập họp lần thứ ba trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày dự định họp lần thứ hai. Trong trường hợp này, cuộc họp Ðại hội đồng cổ đông bất thường được tiến hành không phụ thuộc vào số cổ đông dự họp và tỷ lệ số cổ phần có quyền biểu quyết của các cổ đông dự họp.
Nếu cộng cơ học các khoảng thời gian nêu trên thì tổng thời gian thực hiện các thủ tục trước khi họp với giả thiết cuộc họp lần đầu của Hội đồng quản trị và Ðại hội đồng cổ đông đủ điều kiện để tiến hành thì ít nhất mất 85 ngày, kể từ ngày không đủ số thành viên Hội đồng quản trị/Ban kiểm soát theo quy định tại Ðiều lệ của Ngân hàng, Ðại hội đồng cổ đông mới có thể họp bất thường để bầu bổ sung thành viên Hội đồng quản trị/Ban kiểm soát. Do đó, quy định nêu trên của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 không chỉ không phù hợp với thực tiễn mà còn không nhất quán với quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005 “Trường hợp số thành viên Hội đồng quản trị bị giảm quá một phần ba so với số quy định tại Ðiều lệ công ty thì Hội đồng quản trị phải triệu tập họp Ðại hội đồng cổ đông trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày số thành viên bị giảm quá một phần ba để bầu bổ sung thành viên Hội đồng quản trị”(6). Chính vì lẽ đó, quy định của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 cần được tổng kết, đánh giá để có kế hoạch trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn và quy định của pháp luật chung mà thực tiễn đã kiểm nghiệm.
3. Xác định vốn điều lệ
Vốn điều lệ của Ngân hàng là một trong những căn cứ quan trọng để phân định và xác định thẩm quyền của Ðại hội đồng cổ đông với Hội đồng quản trị. Nếu quy định của pháp luật về vốn điều lệ phù hợp với vốn điều lệ thực của Ngân hàng tại từng thời điểm thì quyền lợi chính đáng của Ngân hàng được bảo đảm và không tạo động cơ cho các Ngân hàng tìm cách lách luật để được hưởng các quyền lợi chính đáng của mình phù hợp với vốn điều lệ thực; ngược lại, việc xác định vốn điều lệ không phù hợp với vốn điều lệ thực của Ngân hàng sẽ làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích chính đáng của Ngân hàng và tạo động cơ cho các Ngân hàng tìm cách lách luật để bảo đảm quyền lợi của mình cho phù hợp với vốn điều lệ thực tại từng thời điểm. Do vậy, quy định của pháp luật chuyên ngành về xác định vốn điều lệ vừa phải phù hợp với thực tiễn, vừa phải phù hợp với thông lệ quốc tế và thống nhất với quy định của pháp luật chung.
Theo quy định tại các điểm o, p, q khoản 2 Ðiều 59 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì Ðại hội đồng cổ đông quyết định thông qua phương án góp vốn mua cổ phần của doanh nghiệp hoặc tổ chức tín dụng khác; quyết định đầu tư, mua, bán tài sản của ngân hàng; thông qua các hợp đồng với thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, Tổng Giám đốc (Giám đốc), cổ đông lớn, người có liên quan của người quản lý, thành viên Ban kiểm soát, cổ đông lớn của ngân hàng, công ty con, công ty liên kết của ngân hàng. Thẩm quyền quyết định của Ðại hội đồng cổ đông đối với các nội dung nêu trên được xác định ở giới hạn có giá trị bằng 20% trở lên vốn điều lệ của Ngân hàng được ghi trong báo cáo tài chính đã được kiểm toán gần nhất. Nếu các nội dung trên có giá trị dưới 20% vốn điều lệ của Ngân hàng được ghi trong báo cáo tài chính đã được kiểm toán gần nhất sẽ do Hội đồng quản trị quyết định hoặc được phân cấp, ủy quyền cho Tổng Giám đốc, tuỳ theo quy định nội bộ và Ðiều lệ của từng Ngân hàng.
Tuy nhiên, quy định nêu trên của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 về vốn điều lệ để xác định thẩm quyền của Ðại hội đồng cổ đông là chưa thật phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật về chứng khoán. Như chúng ta đã biết, vốn điều lệ của Ngân hàng là số vốn do các cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào Ðiều lệ của Ngân hàng. Ðối với lĩnh vực kinh doanh ngân hàng – một ngành nghề kinh doanh có điều kiện, các cổ đông phải góp đủ vốn pháp định trước khi được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép thành lập và hoạt động. Kể từ thời điểm được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, vốn điều lệ của Ngân hàng là tổng giá trị mệnh giá số cổ phần đã phát hành mà các cổ đông đã thanh toán đủ cho Ngân hàng và được ghi nhận trong Ðiều lệ, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (bao gồm cả các lần thay đổi vốn điều lệ trong quá trình kinh doanh). Cho nên, vốn điều lệ của Ngân hàng có thể được bổ sung (tăng lên) thông qua hình thức phát hành cổ phiếu. Hiện nay, có hai hình thức phát hành cổ phiếu phổ biến để tăng vốn điều lệ của Ngân hàng, bao gồm: chào bán cổ phiếu ra công chúng và chào bán cổ phiếu riêng lẻ. Pháp luật về chứng khoán không hạn chế số đợt chào bán cổ phiếu ra công chúng mà chỉ yêu cầu các đợt chào bán cổ phần riêng lẻ phải cách nhau ít nhất 6 tháng. Do đó, một năm Ngân hàng có thể có nhiều lần tăng vốn điều lệ dưới hình thức phát hành cổ phiếu, tùy thuộc vào quyết định của Ðại hội đồng cổ đông và các điều kiện mà Ngân hàng phải đáp ứng theo quy định của pháp luật. Trong khi đó, về cả lý luận và thực tiễn, báo cáo tài chính của Ngân hàng chỉ được kiểm toán mỗi năm/một lần. Ðiều này dẫn đến số vốn điều lệ được ghi trong báo cáo tài chính được kiểm toán gần nhất không phản ánh đúng số vốn điều lệ thực của Ngân hàng giữa hai kỳ kiểm toán nếu Ngân hàng có phát hành cổ phiếu tăng vốn điều lệ trong khoảng thời gian đó, nhất là khi đợt kiểm toán báo cáo tài chính năm trước và năm sau cách nhau đến 12 tháng.
Vì vậy, để bảo đảm quyền lợi của Ngân hàng và phù hợp với thực tiễn, vốn điều lệ quy định tại các điểm o, p, q khoản 2 Ðiều 59 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên được xác định theo số vốn điều lệ được ghi nhận trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hiện hành của Ngân hàng.
Thay cho lời kết
Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 là đạo luật chuyên ngành có hiệu lực cao nhất và là căn cứ pháp lý hết sức quan trọng trong hoạt động ngân hàng. Mặc dù đạo luật này đã khắc phục được những hạn chế, bất cập của Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng năm 2004 cũng như đã bổ sung một số quy định mới cho phù hợp với pháp luật của các nước phát triển trên thế giới, tập quán quốc tế, nhưng sau gần hai năm thực hiện, những quy định của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 cần được thực tiễn kiểm nghiệm để phản ánh, chứng minh tính thực thi, phù hợp hoặc chưa phù hợp. Vì vậy, cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên tổ chức họp tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm để bảo đảm những quy định của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được thực hiện trên thực tế, tạo cơ sở pháp lý thuận tiện và hành lang pháp lý an toàn cho các Ngân hàng thực hiện.

1) Khoản 2 Ðiều 97 Luật Doanh nghiệp năm 2005.
(2) Các nội dung quy định tại khoản 2 Ðiều 97 Luật Doanh nghiệp năm 2005.
(3) Khoản 1 Ðiều 59 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
(4) Khoản 3 Ðiều 43 và khoản 5 Ðiều 44 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
(5) Khoản 1 mục II Công văn số 324/NHNN-TTGSNH ngày 18/01/2012 của Ngân hàng Nhà nước.
(6) Khoản 3 Ðiều 115 Luật Doanh nghiệp năm 2005.
Nguồn: TẠP CHÍ NGÂN HÀNG SỐ 12/2012

BÀN VỀ VIỆC TÒA ÁN YÊU CẦU PHẢI HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ …


ng A và ông B ký hợp đồng (viết tay) chuyển nhượng quyền sử dụng đất với nhau nhưng đến hạn theo thỏa thuận thì ông B (người chuyển nhượng) không đồng ý làm thủ tục chuyển quyền sang tên nên hai bên phát sinh tranh chấp. Ông A đã khởi kiện ra Tòa án yêu cầu Tòa án xử: Tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa hai bên và yêu cầu ông B phải trả số tiền đã nhận chuyển nhượng.
Thẩm phán đã thụ lý hồ sơ và lãnh đạo Tòa án đã phân công một Thẩm phán khác giải quyết vụ án trên. Sau khi nghiên cứu hồ sơ, Thẩm phán trực tiếp giải quyết án đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án căn cứ vào khoản 2, Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự với lý do tranh chấp giữa ông A và ông B là tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là tranh chấp đất đai theo qui định của Luật đất đai nhưng chưa được hoà giải ở cơ sở theo khoản 2, Điều 135 Luật đất đai. Như vậy, tranh chấp trên chưa đủ điều kiện khởi kiện theo điểm đ, Khoản 1, Điều 168 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông A không đồng ý với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm nên đã kháng cáo. Tòa án cấp phúc thẩm đã tuyên không chấp nhận đơn kháng cáo của ông A, giữ nguyên quyết định đình chỉ. Vụ việc đã làm cho ông A bức xúc, đi lại nhiều lần nhưng ông A buộc vẫn phải làm theo hướng dẫn của Tòa án, nộp đơn khởi kiện tại UBND xã để được tổ chức hòa giải ở cơ sở, đủ điều kiện thụ lý vụ án.
Điều 135 Luật đất đai quy định, khi các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến UBND xã, phường, thị trấn nơi có tranh chấp. UBND cấp xã có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hòa giải trong thời gian 30 ngày làm việc, kể từ ngày UBND cấp xã nhận được đơn. Trường hợp không hòa giải được tại UBND cấp xã, các bên tranh chấp có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai.
Khoản 26, Điều 4 Luật Đất đai qui định: “Tranh chấp đất đai (TTĐĐ) là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất (NSDĐ) giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”.
Thông thường để an toàn, một số Thẩm phán giải quyết án đều yêu cầu phải hòa giải ở cơ sở đối với các tranh chấp liên quan đến đất đai. Việc “cầu toàn” của Thẩm phán đã “vô tình” gây nhiều phiền hà cho dân. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do một số vị thẩm phán chưa phân biệt rõ được: tranh chấp đất đai và tranh chấp liên quan đến đất đai?. Tranh chấp đất đai, đối tượng tranh chấp phải là quyền sử dụng đất. Còn các tranh chấp liên quan đến đất đai thì có đối tượng tranh chấp khác. Cụ thể, trong trường hợp này, đối tượng tranh chấp là nghĩa vụ trả tiền đã nhận chuyển nhượng của ông B chứ không phải là quyền sử dụng đất của ông B. Nên việc giải quyết án, không cần thủ tục hòa giải ở cơ sở.
Hiện nay, ở nhiều địa phương, các tranh chấp về hợp đồng thế chấp, cầm cố, chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà các yêu cầu của đương sự là trả tiền cầm cố, thế chấp, chuyển nhượng; không phải là quyền sử dụng đất nhưng một số Tòa lại qui định theo kiểu an toàn: bắt buộc phải hòa giải ở cơ sở. Đối với các trường hợp này, Luật không có qui định bắt buộc hòa giải ở cơ sở vì đây không phải là tranh chấp đất đai. Do đó, Tòa án cần thống nhất áp dụng đúng qui định của pháp luật, chứ đừng vì “cầu toàn” mà tự mình qui định các thủ tục thừa, gây khó khăn, phiền hà cho dân.
Nguồn: TẠP CHÍ KIỂM SÁT ONLINE

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KHOẢN TIỀN BÙ ĐẮP VỀ TINH THẦN DO BỊ XÂM PHẠM VỀ TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE, DANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN QUY ĐỊNH TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005


Khoản tiền “bù đắp về tinh thần” do bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín là khoản tiền mà người bị xâm phạm hoặc người thân thích của người bị xâm phạm được hưởng theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Trước khi Quốc hội thông qua Bộ luật Dân sự năm 1995, chưa có quy định nào của pháp luật buộc người gây thiệt hại phải bồi thường khoản tiền này, do còn quan niệm cho rằng, tổn thất về tinh thần, danh dự, nhân phẩm, uy tín không thể tính ra thành tiền được và “tinh thần” được coi là một phạm trù “phi vật chất”. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử trong nhiều năm cho thấy, việc buộc người gây thiệt hại phải bồi thường một khoản tiền để “bù đắp về tinh thần” cho người bị thiệt hại (nếu là sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm) hoặc cho người thân thích của người bị thiệt hại (nếu là tính mạng bị xâm phạm) là cần thiết, phù hợp với tập quán và truyền thống văn hoá xã hội của dân tộc Việt Nam.
Mặc dù Bộ luật dân sự năm 1995 đã quy định về khoản tiền “bù đắp về tinh thần”nhưng chỉ quy định: Tuỳ từng trư­ờng hợp, Toà án quyết định buộc người xâm phạm phải bồi thư­ờng một khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần, còn khoản tiền đó là bao nhiêu thì Bộ luật dân sự năm 1995 chưa quy định. Do vậy, thực tiễn xét xử các Toà án địa phương đã áp dụng không thống nhất. Để khắc phục tình trạng này, ngày 28-4-2004, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã ban hành Nghị quyết số 01/2004/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; trong đó có khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết này thì:
Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị hiểu nhầm,…
Đối với khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần trong trường hợp tính mạng bị xâm phạm thì người được nhận là những người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, người trực tiếp nuôi dưỡng nạn nhân. Mức bồi thường chung khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, nhưng tối đa không quá 60 tháng lương, tính theo mức lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường.
Đối với khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần trong trường hợp sức khoẻ bị xâm phạm thì người bị thiệt hại đương nhiên được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Việc xác định mức độ tổn thất về tinh thần cần căn cứ vào sự ảnh hưởng đến nghề nghiệp, thẩm mỹ, giao tiếp xã hội, sinh hoạt gia đình và cá nhân,… Mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, nhưng tối đa không quá 30 tháng lương, tính theo mức lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường.
§èi víi khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm được bồi thường cho chính người bị xâm phạm. Mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị xâm phạm phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, nhưng tối đa không quá 10 tháng lương, tính theo mức lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường.
Nội dung hướng dẫn trên đã được “luật hoá” khi Quốc hội thông qua Bộ luật Dân sự năm 2005 thay thế Bộ luật Dân sự năm 1995.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 609 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 610 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì người xâm tính mạng của người khác phải bồi thường thiệt hại một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định. 
Theo quy định tại khoản 2 Điều 611 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì người xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác phải bồi thường thiệt hại một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định. 
Như vậy, trải qua một thời gian dài với nhiều quan điểm khác nhau, khoản tiền “bù đắp tổn thất về tinh thần” đã được Quốc hội chính thức quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2005 một cách chi tiết, bảo đảm việc áp dụng khi xét xử các vụ án dân sự và vụ án hình sự có phần bồi thường thiệt hại do bị xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín.
Sau khi Bộ luật Dân sự năm 2005 có hiệu lực (01-01-2006), ngày 08-7-2006  Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã ban hành Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trong đó có khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Theo hướng dẫn tại  Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08-7-2006 thì:
Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị hiểu nhầm… và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu.
- Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm được bồi thường cho chính người bị thiệt hại. Trong mọi trường hợp, khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Việc xác định mức độ tổn thất về tinh thần cần căn cứ vào sự ảnh hưởng đến nghề nghiệp, thẩm mỹ, giao tiếp xã hội, sinh hoạt gia đình và cá nhân…Mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại trước hết do các bên thoả thuận. Nếu không thoả thuận được, thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, nhưng tối đa không quá 30 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường.
- Người được nhận khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do tính mạng bị xâm phạm trong trường hợp này là những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người bị thiệt hại. Trường hợp không có những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, thì người được nhận khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần là người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng và người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại. Trong mọi trường hợp, khi tính mạng bị xâm phạm, những người thân thích của người bị thiệt hại được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Việc xác định mức độ tổn thất về tinh thần phải căn cứ vào địa vị của người bị thiệt hại trong gia đình, mối quan hệ trong cuộc sống giữa người bị thiệt hại và những người thân thích của người bị thiệt hại…Mức bồi thường chung khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần trước hết do các bên thoả thuận. Nếu không thoả thuận được, thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho tất cả những người thân thích của người bị thiệt hại phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, số lượng người thân thích của họ, nhưng tối đa không quá 60 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường.
Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm được bồi thường cho chính người bị xâm phạm. Trong mọi trường hợp khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, người bị xâm phạm được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Việc xác định mức độ tổn thất về tinh thần phải căn cứ vào hình thức xâm phạm (bằng lời nói hay đăng trên báo viết hay báo hình….), hành vi xâm phạm, mức độ lan truyền thông tin xúc phạm…Mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị xâm phạm trước hết do các bên thoả thuận. Nếu không thoả thuận được, thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, nhưng tối đa không quá 10 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường”.
Mặc dù Bộ luật Dân sự năm 2005 đã quy định và Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08-7-2006 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao cũng hướng dẫn tương đối cụ thể về trường hợp bồi thường khoản tiền “bù đắp tổn thất về tinh thần” nhưng thực tiễn xét xử vẫn có nhiều trường hợp vướng mắc khi phải giải quyết khoản tiền “bù đắp tổn thất về tinh thần” đối với trường hợp tính mạng bị xâm phạm. Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08-7-2006 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao mới hướng dẫn trường hợp có một người chết và có nhiều người được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần, nhưng chưa hướng dẫn trường hợp có nhiều người bị chết mà có một người hoặc một số người  thân thích với người đã chết được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần thì xác định mức bồi thường như thế nào?
Ví dụ: Khoảng 6 giờ ngày 29-3-2005, Nguyễn Quốc S lái xe ô tô tải biển kiểm soát 70H-3683 (do bà Nguyễn Thị Th là chủ sở hữu) chở 10 tấn hạt điều lưu thông trên quốc lộ 1A, hướng từ ngã tư An Sương về Thủ Đức. Khi đến giao lộ 1A và đường Nguyễn Văn Quá thuộc phường Tân Thới Hiệp, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh, do không làm chủ  tốc độ, xử lý tay lái kém, S để xe lao chéo sang trái đường đâm vào 3 xe máy đang đi từ hướng ngược chiều là: xe máy do anh Nguyễn Ngọc A điều khiển phía sau chở anh Sơn Ngọc T; xe máy do anh Vũ Hoài N điều khiển phía sau chở hai con là Vũ Thu H và Vũ Văn Q và xe máy do chị Nguyễn Thị M điều khiển. Sau khi đâm vào 3 xe máy trên, xe ôtô do S điều khiển còn tiếp tục lao vào quán cà phê ở phía trái đường, đâm vào 5 xe máy, 2 xe đạp và đâm vào ông Đoàn Văn N, Nguyễn Văn V, anh Nguyễn Ngọc Phan T.
Tai nạn xảy ra làm 4 người bị chết là anh Vũ Quốc N cùng với hai con của anh N là cháu Vũ Thu H, cháu Vũ Văn Q và anh Nguyễn Ngọc Phan T. Ngoài ra còn 7 người khác bị thương và hư hỏng một số tài sản.
Tại bản án hình sự sơ thẩm, ngoài việc quyết định về tội danh, hình phạt đối với Nguyễn Quốc S, các khoản tiền bồi thường thiệt hại về người và tài sản đối với những người khác, Toà án cấp sơ thẩm còn buộc bà Nguyễn Thị Th (chủ phương tiện) bồi thường cho gia đình anh N khoản tiền bù đắp về tinh thần là 12.600.000 đồng (36 tháng x 350.000 đồng).
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 15-12-2005, đại diện gia đình anh N kháng cáo đề nghị xét xử lại phần dân sự.
Tại bản án hình sự phúc thẩm số, Toà án cấp phúc thẩm đã sửa bản án sơ thẩm, buộc bà Nguyễn Thị Th bồi thường tổn thất về tinh thần cho vợ anh N số tiền 63.000.000 đồng (350.000 đồng/01 tháng x 180 tháng).
Sau khi xét xử phúc thẩm, bà Nguyễn Thị Th người phải bồi thường khoản tiền tổn thất về tinh thần không đồng ý với quyết định của Toà án cấp phúc thẩm nên đề nghị cấp giám đốc thẩm xét lại bản án phúc thẩm về quyết định này của Toà án cấp phúc thẩm.
Khi trao đổi, thảo luận về quyết định của Toà án cấp phúc thẩm đối với khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần mà Toà án cấp phúc thẩm quyết định buộc bà Nguyễn Thị Th phải bồi thường cho vợ anh N, có nhiều ý kiến khác nhau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, Nghị quyết số 01/2004/NQ-HĐTP ngày 28-4-2004 và Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08-7-2006 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao chỉ mới có hư­ớng dẫn là một ngư­ời chết có một người thân thích hoặc có nhiều ng­ười thân thích thì tất cả những đó chỉ được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần không quá 60 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định (nếu hai bên không thoả thuận được), mà chưa hướng dẫn trường hợp có nhiều người chết, có nhiều ng­ười thân thích thì mức bồi thường được xác định như thế nào. Mặt khác, tại khoản 2 Điều 610 Bộ luật Dân sự năm 2005 chỉ quy định: “Người xâm tính mạng của người khác” chứ không quy định một người hay nhiều người và mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá 60 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định. Do đó, trường hợp trong một gia đình có nhiều người bị chết thì những mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần tối đa cũng không đ­ược vư­ợt quá 60 tháng lương tối thiểu. Trong vụ án trên, anh Vũ Quốc N cùng với hai con của anh N là cháu Vũ Thu H, cháu Vũ Văn Q bị chết thì những người thân thích của anh N, cháu H và cháu Q chỉ được bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần tối đa không đ­ược vư­ợt quá 60 tháng lương tối thiểu. Toà án cấp phúc thẩm buộc bà Nguyễn Thị Th bồi thường tổn thất về tinh thần cho vợ anh N số tiền 63.000.000 đồng (350.000 đồng/01 tháng x 180 tháng) là không đúng quy định của Bộ luật Dân sự .
Quan điểm thứ hai cho rằng, nếu trong một gia đình có nhiều người bị xâm phạm về tính mạng, thì ng­ười thứ nhất đ­ược bồi thường mức tối đa không quá 60 tháng lương tối thiểu, từ người thứ hai trở đi đ­ược tính theo tỷ lệ % giảm dần của mức tối đa 60 tháng lư­ơng. Ví dụ: Nếu ng­ười bị xâm phạm tính mạng thứ nhất đ­ược tính mức tối đa là 60 tháng l­ương, thì ngư­ời bị xâm phạm tính mạng thứ hai được tính 80% của 60 tháng l­ương là 48 tháng l­ương, còn ng­ười bị xâm phạm tính mạng thứ ba đư­ợc tính 60% của 60 tháng l­ương là 36 tháng l­ương. Theo quan điểm này thì trường hợp đối với 3 người chết trong vụ án trên những người thân thích của anh N, cháu H và cháu Q chỉ được bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần tối đa không được vượt quá 144 tháng lương tối thiểu.
Quan điểm thứ ba cho rằng, khoản 2 Điều 610 Bộ luật Dân sự quy định: “Ng­ười xâm phạm tính mạng của ngư­ời khác” có nghĩa là xâm phạm đến tính mạng của một người chứ không thể hiểu là xâm phạm đến tính mạng của nhiều người khác. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần tối đa không quá 60 tháng lương tối thiểu là đối với một người bị xâm phạm tính mạng. Nếu có nhiều người bị xâm phạm tính mạng, thì cứ mỗi người bị xâm phạm đến tính mạng, những người thân thích được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần tối đa không quá 60 tháng lương tối thiểu. Nếu có 3 ngư­ời bị xâm phạm tính mạng thì những ngư­ời thân thích đư­ợc hư­ởng tối đa không quá 180 tháng lư­ơng tối thiểu; ba người chết trong một gia đình mức độ tổn thất về tinh thần không thể như một người chết được. Giả thiết có ba người chết trong ba gia đình khác nhau thì người xâm phạm đến tính mạng cũng phải bồi thường khoản tiền cho mỗi người chết là không quá 60 tháng lương. Vậy có gì khác giữa ba người chết trong một gia đình với ba người chết trong ba gia đình, chưa kể ba người chết trong một gia đình sự đau thương mất mát về tinh thần còn cao hơn nhiều so với trường hợp ba người chết trong ba gia đình. Theo quan điểm này thì Toà án cấp phúc thẩm buộc bà Nguyễn Thị Th bồi thường tổn thất về tinh thần cho vợ anh N số tiền 63.000.000 đồng (350.000 đồng/01 tháng x 180 tháng) là đúng quy định của Bộ luật Dân sự.
Các quan điểm trên đều chứa đựng nhân tố hợp lý. Tuy nhiên, xét một cách tổng thể thì chưa có quan điểm nào nêu ra được căn cứ xác đáng, chưa thể hiện đúng nội dung quy định của Bộ luật Dân sự, cũng như hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao về khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần.
Trước hết cần khẳng định rằng: khoản tiền “bù đắp tổn thất về tinh thần” không phải là đại lượng để xác định những thiệt hại về tinh thần mà người bị thiệt hại hoặc người thân thích của họ bị tổn thất. Bởi lẽ, những tổn thất về tinh thần không thể xác định được một cách chính xác hoặc tương đối chính xác như thiệt hại về vật chất; mức độ tổn thất về tinh thần nhiều hay ít cũng không phụ thuộc vào tính chất nguy hiểm của hành vi xâm phạm; cũng không phụ thuộc vào hình thức lỗi của người xâm phạm (cố ý hay vô ý), mà nó hoàn toàn phụ thuộc vào mức độ đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, giảm sút hoặc mất uy tín, bị xa lánh, bị hiểu lầm của người bị thiệt hại hoặc người thân thích của nạn nhân.
Mức độ đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm cũng là một đại lượng khó xác định. Không thể đưa ra một đại lượng chung cho mọi trường hợp, mà tuỳ từng trường hợp cụ thể mà xác định. Thực tiễn xét xử cho thấy, có trường hợp một người bị chết nhưng những người thân thích của người đó không hề tỏ ra một chút đau thương, buồn phiền gì cả, thậm chí còn mong người đó chết cho “thoát nợ”. Ví dụ: Lê Hoàng N là một thanh niên hư hỏng từ Bð. Lớn lên, N lao vào con đường nghiện ngập, cờ bạc. Nhà chỉ có hai mẹ con nên bà H mẹ của N bất lực không dạy dỗ được H đành buông xuôi. Mỗi lần N xin tiền để cờ bạc, hút hít, nếu bà H không cho thì N chửi mắng bà thậm tệ. Có lần, N dùng dao doạ bà H nếu không đưa tiền thì sẽ giết. Mỗi lần, N đi đâu về nhà là bà H lo sợ tìm cách tránh mặt N. Bà H thường tâm sự với mọi người rằng, thằng N có chết đi thì tôi mới thoát nợ. Đã có lần, bà H định bỏ thuốc độc vào cơm cho N ăn nhưng bà lại sợ. Một hôm, có người báo cho bà H biết N thua bạc không có tiền trả đã đánh nhau với các con bạc khác và bị đâm chết. Biết N bị đâm chết, nhưng bà không khóc, cũng không buồn phiền mà tỏ ra yên tâm hơn vì từ nay bà được sống một cuộc sống bình yên, không nơm mớp lo sợ khi thấy N về nhà nữa. Trong trường hợp này, những tổn thất về tinh thần mà bà H phải chịu không đáng kể nếu không nói là không có. Ngược lại, có trường hợp tuy tính chất nguy hiểm của hành vi xâm phạm không lớn, người xâm phạm thực hiện hành vi của mình do vô ý, nhưng người bị thiệt hại hoặc người thân thích của nạn nhân lại lo âu, buồn phiền tột độ, thậm chí bị suy kiệt về sức khoẻ không phục hồi được. Ví dụ: Bà Vũ Thị C là vợ liệt sĩ có người con gái là Đặng Thị Phương D. Sau khi chồng hy sinh, bà C ở vậy nuôi con. Chị D lớn lên trong vòng tay yêu thương của bà C. Năm 18 tuổi, Phương D thi đỗ vào trường Đại học Ngoại thương. Vì thương mẹ vất vả nên tuần nào Phương D cũng về thăm Mủ. Bà C thường tâm sự với bà con hàng xóm rằng, nếu cái D có bề gì thì chắc tôi cũng theo nó luôn. Bà chỉ yên tâm khi thấy D ở bên bà. Sang năm học thứ hai, Trường tổ chức cho sinh viên đi thăm quan và chuyến đi này, do lái xe ô tô vi phạm quy định về an toàn giao thông nên đã gây ra tai nạn làm 3 người chết trong đó có Phương D con gái bà C. Nhận được tin con chết, bà C như người mất trí, khóc than, bỏ ăn hàng tuần. Do quá buồn phiền, nên bà C bị mắc bệnh tâm thần dạng trầm cảm, gia đình phải đưa bà vào bệnh viện tâm thần điều trị. Trong trường hợp này, những tổn thất về tinh thần mà bà C phải chịu là rất lớn có bù đắp bao nhiêu cũng không đủ.
Như vậy, mức độ đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, giảm sút hoặc mất uy tín, bị xa lánh, bị hiểu lầm của người bị thiệt hại hoặc người thân thích của nạn nhân là căn cứ để quyết định mức tiền bù đắp tổn thất về tinh thần chứ không phải căn cứ vào mức độ lỗi của người gây thiệt hại. Vì vậy, khi xác định mức tiền để buộc người gây thiệt hại bồi thường cho người bị thiệt hại hoặc người thân thích của nạn nhân phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể và nhất thiết phải xác định mức độ đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, giảm sút hoặc mất uy tín, bị xa lánh, bị hiểu lầm của người bị thiệt hại hoặc người thân thích của nạn nhân.
Vấn đề còn lại và cũng là vấn đề trọng tâm của bài viết này vẫn còn các ý kiến khác nhau là: Trong một gia đình cùng một lúc có nhiều người bị xâm phạm đến tính mạng (nhiều người chết) thì xác định mức bồi thường như thế nào? Như trên chúng tôi đã phân tích, không thể xác định một cách máy móc cứ một người bị xâm phạm đến tính mạng (một người chết) thì mức bù đắp tổn thất về tinh thần là “một suất” (không quá 60 tháng lương tối thiểu) còn hai người chết thì mức bù đắp tổn thất về tinh thần là “hai suất” (120 tháng lương tối thiểu), còn ba người chết thì mức bù đắp tổn thất về tinh thần là “ba suất” (180 tháng lương tối thiểu). v. v… mà phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, căn cứ vào mức độ đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm của người thân thích của các nạn nhân mà xác định mức bù đắp tổn thất về tinh thần nhưng không được quá mức mà Bộ luật Dân sự đã quy định. Trường hợp có nhiều người bị xâm phạm tính mạng nhưng chỉ có một người được hưởng tiền bù đắp tổn thất về tinh thần thì trước hết phải xác định mức độ đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm nhưng mức tối đa cũng không quá 60 tháng lương tối thiểu đối với  một người bị xâm phạm về tính mạng. Nếu có 3 người chết thì mức tối đa không quá 180 tháng lương tối thiểu. Chúng tôi đặt vấn đề như vậy là xuất phát từ quy định tại khoản 2 Điều 610 Bộ luật Dân sự: “người xâm phạm tính mạng của người khác” tức là, xâm phạm tính mạng của một người chứ không quy định “người xâm phạm tính mạng củanhiều người khác”. Mặt khác, việc một người có tới 3 người thân thích bị chết nếu các yếu tố khác tương tự như nhau thì thông thường mức độ đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm phải gấp 3 lần so với trường hợp chỉ có một người thân thích bị chết. Tuy nhiên, khi xác định khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho một người có 3 người bị xâm phạm tính mạng không nên đơn giản làm một phép tính số học: 1 người thì 60 tháng lương, 3 người thì lấy 60 x 3 = 180 tháng lương, làm như vậy thì quy định “bù đắp tổn thất về tinh thần” không còn ý nghĩa nữa.
Trở lại vụ án trên, việc Toà án cấp sơ thẩm chỉ buộc bà Th bồi thường 12.600.000 đồng khoản tiền bù đắt tổn thất về tinh thần cho chị Ph và Toà án cấp phúc thẩm sửa quyết định này, buộc bà Th bồi thường cho chị Ph 180 tháng lương với số tiền 63.000.000 đồng, chúng tôi có một số ý kiến như sau:
Xác định khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần, Toà án cấp sơ thẩm đã không xác định có bao nhiêu người thân thích của anh N, 2 cháu H và Q được bù đắp tổn thất về tình thần. Ngoài chị Ph thì còn có ai thuộc diện được bù đắp tổn thất về tinh thần hay không? Toà án cấp sơ thẩm lại xác định anh Vũ  Quốc  Đ là em trai của anh N là nguyên đơn dân sự trong vụ án là không đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự. Nếu anh Đ có giấy uỷ quyền của chị Nguyễn Thị Ph (vợ của anh N) thì trong bản án phải viết: “nguyên đơn dân sự là chị Nguyễn Thị Ph uỷ quyền cho anh Đ tham gia phiên toà”. Tuy nhiên, trong vụ án này, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì ngoài chị Nguyễn Thị Ph (vợ anh N), còn có mẹ anh N (chưa xác định được họ tên) và con anh N là cháu Vũ Anh T (người chưa thành niên). Lẽ ra trong trường hợp này, Toà án cấp sơ thẩm phải xác định gia đình anh N có ba người được bù đắp tổn thất về tinh thần là: Chị Nguyễn Thị Ph đối với anh N, cháu H và Q; mẹ anh N đối với anh N và cháu Vũ Anh T đối với anh N. Nhưng Toà án cấp sơ thẩm chỉ xác định chị  Nguyễn Thị Ph là người được bù đắp về tinh thần là chưa đầy đủ. Nếu Toà án cấp sơ thẩm xác định đầy đủ người được bù đắp tổn thất về tinh thần thì chắc chắn không quyết định có 36 tháng lương tối thiểu.
Khi xét xử phúc thẩm, Toà án cấp phúc thẩm đã không phát hiện được những sai sót của Toà án cấp sơ thẩm nên vẫn xác định nguyên đơn dân sự là anh Đ, đồng thời lại xác định, hễ cứ một người bị chết thì người thân thích của họ được bồi thường khoản tiền bù đắp về tinh thần là 60 tháng lương, vậy gia đình chị Ph có 3 người chết thì được bồi thường “ba suất”, mà không xác định xem có bao nhiêu người được bù đắp tổn thất về tinh thần, không xác định mức độ đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm… của người được bù đắp tổn thất về tinh thần.
Theo khoản 2 Điều 610 Bộ luật Dân sự thì mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận, nếu không thoả thuận được thì Toà án mới quyết định, nhưng cả Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm đều không tiến hành để hai bên thoả thuận, mà quyết định ngay là chưa thực hiện đúng tinh thần quy định tại khoản 2 Điều 610 Bộ luật Dân sự.
Ngoài ra, Toà án cấp phúc thẩm còn quyết định buộc bà Th bồi thường tiền mất thu nhập của anh N được tính trong thời gian 06 tháng, mỗi tháng 1.500.000 đồng, với tổng số tiền 9.000.000 đồng là không đúng với quy định tại Điều 614 Bộ luật Dân sự năm 2005 về thu nhập thực tế bị mất. Theo quy định tại Điều 614 Bộ luật Dân sự năm 1995 thì các khoản phải bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm: chi phí cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết; chi phí hợp lý cho việc mai táng; tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng. Không có quy định về khoản tiền mất thu nhập của anh N sau khi anh N bị chết.
Với những sai lầm nghiêm trọng của Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm nêu trên, Chánh án TAND tối cao đã kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm và Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã chấp nhận kháng nghị của Chánh án, huỷ bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm về phần bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần và khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần và khoản tiền mất thu nhập của anh N để xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.
Nguồn: toaan.gov.vn