Hiển thị các bài đăng có nhãn tranh tụng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tranh tụng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 28 tháng 2, 2013

SỬ DỤNG KỸ NĂNG PHI NGÔN TỪ ĐỂ TĂNG HIỆU QUẢ KHI HÙNG BIỆN


Khi nói đến luật sư, nhiều người liên tưởng đến hình ảnh của một “thầy cãi”. Phải chăng chính vì việc hay cãi, cãi giỏi đã tạo dấu ấn mạnh mẽ lên nhận thức của mọi người trong xã hội đối với luật sư và được coi là đặc trưng cơ bản của nghề luật sư? Lục tìm lại lịch sử cho thấy khởi thủy của nghề luật sư ra đờikhoảng Thế kỷ thứ 2 (TCN), lúc đó luật sư với vai trò là người bào chữa đã được xã hội đương thời tôn vinh là các “Hiệp sĩ” và với tấm lòng trong sáng, tinh thần nghĩa hiệp, luật sư đã dùng sự hiểu biết về cổ luật và tài hùng biện để bảo vệnhững người nghèo khổ, cô thế trước thế lực cai trị đương thời. Đi sâu tìm hiểu về nghề luật sư đương đại, có thể thấy rằng nghề luật sư hiện nay có hai mảng hành nghề quan trọng đó là tranh tụng và tư vấn mà khi nói đến tranh tụng tức là nói đến kỹ năng hùng biện của luật sư. Thực tiễn hành nghề luật sư cho thấy kỹ năng hùng biện được xem là một trong hai kỹ năng cơ bản của luật sư và đó chính là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên uy tín, danh tiếng của luật sư.
Tuy nhiên, không phải ai bẩm sinh cũng có tài hùng biện mà khả năng hùng biện đa phần được tạo nên là do quá trình học hỏi, nhận thức và tự rèn luyện của chính từng luật sư. Khi hùng biện, để thuyết phục được người nghe tốt nhất thì luật sư không những cần phải có kiến thức uyên thâm, lý lẽ chặt chẽ, sắc bén, tư duy logic và linh hoạt mà còn cần phải có những kỹ năng bổ trợ khác như kỹ năng phi ngôn. Chính vì vậy, trong phạm vi bài viết này, tác giả xin được trao đổi một số khía cạnh liên quan đến việc sử dụng kỹ năng phi ngôn từ để tăng tính hiệu quả khi hùng biện.

1. Khái niệm phi ngôn từ
Trước hết, để hiểu khái niệm Phi ngôn từ, chúng ta hãy phân biệt với khái niệm Ngôn từ. Ngôn từ được hiểu là nội dung bài hùng biện được luật sư nói ra hoặc viết ra. Phi ngôn từ là giọng nói (bao gồm những yếu tố như: Ngữ điệu, chất giọng, tốc độ nói...) và hình ảnh (bao gồm những gì mà người khác nhìn thấy như: Nét mặt, dáng điệu, ánh mắt...) khi luật sư hùng biện.
Do đó, phi ngôn từ luôn luôn tồn tại, cho dù chúng ta có nói hay không thì người khác vẫn ghi nhận được thông qua hình ảnh của luật sư tác động đến người nghe, thông qua tư thế, cách sử dụng tay. Bên cạnh đó, phi ngôn từ còn có giá trị truyền đạt thông tin rất hiệu quả, ví dụ như hai người câm vẫn có thể giao tiếp với nhau bằng tay, trẻ con chưa biết nói, chưa biết đọc, chưa biết viết vẫn có thể cảm nhận được những gì người khác muốn nói như thông qua việc một người chỉ cần vẫy tay là đứa trẻ có thể chạy đến bên người đó.
Theo nghiên cứu của các nhà xã hội học cho thấy, để người nghe tiếp nhận nội dung thông tin tốt nhất thì không chỉ qua lời nói mà còn qua phần lớn các yếu tố khác như giọng nói, âm lượng, dáng điệu, cử chỉ, ánh mắt...của người nói - đây cũng chính là những yếu tố cơ bản để người nói truyền tải thông tin hiệu quả tới người nghe.
Chính vì vậy, phi ngôn từ có vai trò rất quan trọng bởi cả cơ thể chúng ta là một thể thống nhất, dáng chững trạc thì giọng nói cũng chững chạc, dáng lỏng leo thì giọng cũng lỏng lẻo, tay vung mạnh thì giọng nói cũng mạnh mẽ….
Vì vậy, phi ngôn từ là giọng nói, hành vi và cử chỉ được thể hiện trên cơ thể người khi con người ở cả hai trạng thái là nói hoặc không nói.

2. Các loại phi ngôn từ sử dụng trong hùng biện
Thực tiễn cho thấy có những loại phi ngôn từ sau đây thường tác động lớn tới hiệu quả hùng biện:
2.1. Giong nói
Giọng nói phản ánh nhiều đặc điểm của người hùng biện. Thông qua giọng nói, nếu tinh ý thì người nghe có thể nhận biết được giới tính, tuổi tác, trình độ học vấn, tâm trạng…của người hùng biện. Chính vì vậy, để có tính thuyết phục khi hùng biện, luật sư cần chú ý những điểm sau đây:
- Âm lượng: Giọng nói của luật sư cần vừa đủ để người nghe có thể tiếp nhận được thông tin. Nói to quá, có thể làm cho người nghe cảm thấy đau đầu, nói nhỏ quá có thể làm cho người nghe phải mệt mỏi khi “căng óc” ra để ghi nhận được thông tin. Giọng nói dù to hay nhỏ đều phải có khí lực, có sự chân thành, có như vậy giọng nói của luật sư mới có tính thuyết phục. Khi hùng biện, tùy thuộc vào nội dung hùng biện mà âm lượng của luật sư cần có độ cao thấp, trầm bổng. Luật sư không nên nói đều đều, làm cho người nghe buồn ngủ, không tập trung cho dù vấn đề luật sư nói quan trọng đến đâu. Luật sư nên nhấn mạnh những vấn đề quan trọng bằng cách tăng âm lượng hoặc thậm chí là nhắc lại.
- Phát âm: Âm vực phải chuẩn, tròn vành rõ chữ, không méo tiếng hay nuốt chữ, không nhầm lẫn giữa các âm. Tránh mắc phải một số tật như nói lắp, nói ngọng như ngọng L với N; R với D, Gi; S với X. Nguyên nhân của những tật này có thể do bệnh tật, thói quen, bẩm sinh, ảnh hưởng của vùng miền…. Đây chính là những tật khó chữa và chính điều này có thể giảm sút uy tín của luật sư. Tuy nhiên, nếu có sự rèn luyện qua thời gian thì các tật trên có thể khắc phục được.
- Tốc độ: Khi trình bày vấn đề, luật sư cần phải quan sát nét mặt của người nghe để từ đó điều chỉnh tốc độ nói cho phù hợp. Với đối tượng là người nghe cao tuổi cần nói chậm, đối với thanh niên cần hào hứng, sôi nổi. Thông thường, tốc độ nói bị điều chỉnh bới tâm lý của người nói, thông qua tốc độ nói người nghe có thể biết được tâm trạng của người nói. Một người nói nhanh thường là sự biểu hiện của sự thiếu tự tin. Khi nói, cuối mỗi đoạn văn cần dừng một thời gian ngắn trước khi tiếp theo đoạn mới.
2.2 Dáng điệu và cử chỉ
Tục ngữ có câu: “Nhất dáng, nhì da, thứ ba nét mặt”. Câu này hàm ý nói đến các tiêu chí đối với việc lựa chọn một người con gái đẹp. Tuy nhiên, suy rộng ra cũng có thể vay mượn 2 yếu tố là dáng và nét mặt để nói đến tầm quan trọng của hai yếu tố kể trên đối với một luật sư hùng biện. Thực tiễn cho thấy dáng điệu là hình ảnh đầu tiên mà người nghe để ý và đánh giá đối với một luật sư khi người đó thực hiện bài hùng biện. Dáng điệu chững chạc đoàng hoàng sẽ tạo nên sự kính trọng từ người nghe, còn ngược lại sẽ gây ác cảm.
Dáng đứng là một loại ngôn ngữ của cơ thể, khi luật sư nói hào hứng, thuyết phục người khác thì dáng đứng phải vững chãi. Tuy nhiên, khi hùng biện luật sư không nên đứng yên một chỗ, đứng như tượng. Dáng đứng của luật sư cần phải uyển chuyển, linh hoạt theo vấn đề mà luật sư trình bày, luật sư có thể đứng ngay ngắn, đầu hơi hướng về phía người nghe và nhìn thẳng về phía người đối diện hoặc có thể đứng nghiêng một góc nhỏ so với đối tượng mà ta hướng tới. Luật sư dù đứng như thế nào thì luôn luôn phải thể hiện tính nghiêm túc, tự tin và thân thiện đối với người nghe.
Khi đứng hùng biện, luật sư không nên tựa vào bàn. Bởi lẽ, khi con người ở trong trạng thái yếu đuối, sợ hãi thì thường có xu hướng muốn tìm một cái gì đó để dựa vào. Trong trường hợp này, người nghe dễ dàng nhận ra luật sư đang mất bình tĩnh, thiếu tự tin. Luật sư không nên “đứng như chôn chân một chỗ” bởi khi đứng như vậy, cả hai chân luật sư đều làm trụ thì dễ mỏi do đó nên chuyển đổi chân để được thoải mái nhưng không nên chân đứng, chân co hay rung chân.
2.3. Nét mặt
Nét mặt của luật sư cần phải có sự biểu cảm, khuôn mặt của luật sư thể hiện được nhiều cảm xúc khác nhau. Trong cùng một buổi hùng biện luật sư không chỉ thể hiện một chất giọng hay một nét mặt duy nhất, với nội dung diễn đạt khác nhau sự biểu cảm của khuôn mặt cũng cần khác nhau để tăng tính thuyết phục của đối với thông tin truyền tải. Thông thường, luật sư luôn giữ một vẻ mặt nghiêm túc, nhưng khi luật sư chia sẻ sự mất mát với thân nhân bị hại - người đã phải gánh chịu do hành vi vi phạm pháp luật của thân chủ gây ra thì nét mặt của luật sư phải thể hiện sự cảm thông để gia đình người bị hại cảm nhận được sự chia buồn chân thành của luật sư. Khi hùng biện, nét mặt của luật sư không nên căng thẳng, bởi mặt căng thẳng thì nói sẽ căng thẳng, nét mặt thoải mái tự nhiên thì giọng nói sẽ tự nhiên.
2.4. Mắt
Tục ngữ có câu: “Đôi mắt là của sổ tâm hồn”. Câu này hàm ý để nói về vẻ đẹp của đôi mắt với việc ẩn chứa cảm xúc, nội tâm của người con gái. Tuy nhiên, suy rộng ra có thể thấy rằng ánh mắt biểu thị rất nhiều cảm xúc, suy nghĩ của người hùng biện. Trong hùng biện, ánh mắt của người hùng biện ảnh hưởng lớn tới tâm trạng, thái độ của người nghe. Ánh mắt có thể khích lệ người khác, trấn áp người khác, tạo niềm tin cho người khác...
Chính vì vậy, luật sư khi hùng biện phải luôn để ý đến biểu hiện của người nghe về các vấn đề như họ có chú ý lắng nghe hay đang thờ ơ, chán nản…từ đó có sự điều chỉnh chủ đề, âm lượng, ngữ điệu….phù hợp, thậm trí là chuyển chủ đề hoặc sớm kết thúc bài hùng biện. Khi hùng biện, để thu hút được sự lắng nghe của mọi người thì luật sư không chỉ nhìn một người mà ánh mắt của luật sư phải hướng về phía nhiều người, có như vậy thì tất cả người nghe đều cảm thấy luật sư đang dành sự quan tâm, tôn trọng mình cũng như từ đó luật sư mới cảm nhận được chính xác phản ứng của người nghe đối với bài hùng biện của mình. Ánh mắt nhìn của luật sư khi hùng biện phải tự nhiên, nghiêm túc thể hiện phù hợp với ngôn từ biện luận. Luật sư nên tránh đảo mắt quá nhanh, mắt long sòng sọc, liếc ngang, liếc dọc...điều này sẽ gây hiểu lầm là luật sư không trung thực, một người tráo trở, thủ đoạn...
2.5. Tay
Các kết quả nghiên cứu khoa học cho thấy, lượng thông tin được thu nhận qua mắt là 75%, qua tai là 12%, lượng dây thần kinh từ mắt lên não nhiều gấp 25 lần lượng dây thân kinh từ tai lên não. Do đó, người nghe dễ bị thuyết phục và tập trung hơn khi có nhiều hình ảnh, dẫn chứng cụ thể. Đặc biệt, người nghe dễ bị thu hút bởi hình ảnh động hơn lời nói. Trong hùng biện, nếu luật sư biết cách sử dụng ngữ điệu của tay hợp lý thì đôi bàn tay sẽ là công cụ hỗ trợ tích cực cho lời nói. Luật sư nên sử dụng đôi bàn tay để minh họa cho những điều cần nói, dùng để biểu đạt cảm xúc của luật sư.
Một trong các nguyên tắc quan trọng khi hùng biện cũng như thuyết trình là luật sư phải luôn để tay trong khoảng từ trên thắt lưng tới dưới cằm, đưa tay từ trong ra ngoài và từ dưới lên. Làm như vậy, việc sử dụng tay sẽ đem lại cảm giác thoải mái, tự nhiên mà không bị gò bó, đè nén. Khi hùng biện, luật sư có thể vung tay, mổ các ngón tay, giơ ngón tay để biểu thị các con số, tay đưa lên để biểu thị sự thay đổi hay phát triển, tay đưa ra biểu thị vấn đề ảnh hưởng tới nhiều người...Tuy nhiên, việc luật sư sử dụng đôi bàn tay như thế nào là phụ thuộc vào thói quen của luật sư nhưng mỗi biểu thị tay đều mang những ý nghĩa khác nhau, biểu hiện được sự chủ động, tự tin và tăng tính hấp dẫn của ngôn ngữ nói. Sử dụng phi ngôn từ tay giúp luật sư diễn tả cảm xúc nội tâm một cách chân thật, dễ dàng, giúp điều tiết giọng nói được sắc nét rõ dàng, gãy gọn ý.
Chính vì vậy, nếu luật sư không hiểu được ý nghĩa và tầm quan trọng của đôi bàn tay trong hùng biện thì các động tác tay của luật sư sẽ tạo ra hình ảnh không tốt đối với người nghe. Khi hùng biện, luật sư không nên để chân tay thừa thãi, không biết giấu tay vào đâu. Cụ thể, luật sư nên tránh những cử chỉ tay sau trong khi hùng biện như: Khoanh tay (một người khoanh tay nghĩa là họ chưa cởi mở, đang dò xét); cho tay vào túi quần (mang cảm giác kênh kiệu, khó hòa nhập); trỏ tay (không ai muốn bị người khác trỏ tay vào mặt mình); cử chỉ tay tùy hứng (cử chỉ không phù hợp với nội dung nói)….
 Tóm lại, kỹ năng sử dụng phi ngôn từ để tăng hiệu quả khi hùng biện là một trong những kỹ năng cơ bản của luật sư. Việc nắm vững và vận dụng một cách linh hoạt trong thực tiễn hành nghề là một trong những yếu tố quan trọng làm nên tên tuổi và danh tiếng của luật sư, nhất là đối với luật sư thiên về tranh tụng. Chính vì vậy, mỗi luật sư phải luôn tự trau dồi kiến thức, tích lũy kinh nghiệm, rèn luyện thực tiễn từ đó đúc rút và hoàn hiện kỹ năng hùng biện thì mới có thể trở thành một luật sư có tầm.
                                         
Nguồn: Luatsuhanoi

Thứ Năm, 27 tháng 12, 2012

Lừa đảo qua mạng, khó xử!


Luật sửa đổi bổ sung BLHS có hiệu lực từ ngày 1-1-2010 bổ sung thêm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 226b).
Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có văn bản hướng dẫn nên thực tiễn xét xử còn thiếu thống nhất…
Tháng 11-2011, TAND TP Hà Nội đã phạt Hoàng Thế Anh bốn năm tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 BLHS. Tổng hợp với một bản án trước đó, Anh phải chấp hành hình phạt chung là năm năm tù.
Bất nhất tội danh
Theo hồ sơ, Anh đã lập nhiều tài khoản và tạo thông tin bán, đấu giá iPhone, laptop… trên mạng Internet. Khi khách hàng thắng đấu giá hoặc đặt mua, Anh liên hệ, yêu cầu họ chuyển tiền vào các tài khoản ngân hàng hoặc tài khoản trên một trang web mua bán trực tuyến. Sau đó Anh liên hệ với những người bán, giả mạo là người chuyển tiền mua. Người bán kiểm tra thấy tiền (của khách đặt mua hàng với Anh) đã chuyển vào tài khoản liền chuyển hàng cho Anh. Với thủ đoạn này, tổng cộng Anh đã lừa đảo, chiếm đoạt được của bảy người hơn 100 triệu đồng.
Ở một vụ chiếm đoạt tiền qua mạng khác, tháng 9-2011, TAND TP.HCM lại phạt Nguyễn Chí Toàn sáu năm tù về tội sử dụng mạng máy tính thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo Điều 226b BLHS.
Toàn là nhân viên một công ty công nghệ thông tin. Tháng 6-2009, Toàn được công ty cử đến một ngân hàng khắc phục sự cố trong quá trình sử dụng phần mềm quản trị thẻ ATM nên phát hiện ra mật mã truy cập vào hệ thống cơ sở dữ liệu thẻ của ngân hàng. Toàn bèn dùng CMND giả đăng ký thẻ ATM rồi truy cập vào hệ thống cơ sở dữ liệu thẻ, ghi khống 700 triệu đồng vào tài khoản một khách hàng, chỉnh sửa số thẻ cho trùng với số thẻ của Toàn để rút tiền qua máy ATM. Từ ngày 10-1 đến 18-2-2011, Toàn đã 114 lần rút tổng cộng 329,5 triệu đồng. Tháng 2-2011, Toàn lại ghi khống 1,5 tỉ đồng vào tài khoản của khách hàng trên nhằm tiếp tục rút tiền thì bị mất thẻ. Khi Toàn thông báo việc này, ngân hàng kiểm tra và phát hiện vụ việc.
Thiếu hướng dẫn
Trong một hội nghị ngành tòa án gần đây, Tòa Hình sự TAND Tối cao cho biết hiện có hai luồng quan điểm về tội danh đối với loại tội phạm sử dụng công cụ phương tiện là thiết bị công nghệ cao, mạng máy tính… chiếm đoạt tài sản.
Theo luồng quan điểm thứ nhất, các hành vi nêu trên có dấu hiệu của nhóm tội xâm phạm sở hữu như lừa đảo, trộm cắp… Tuy nhiên, các hành vi này không chỉ xâm hại đến quan hệ sở hữu mà còn xâm hại nghiêm trọng đến an toàn công cộng, trật tự công cộng. Vì vậy, nhà làm luật mới tách chúng ra thành một tội mới là tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và xếp vào chương các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Do đó phải xử lý các hành vi sử dụng công cụ phương tiện là thiết bị công nghệ cao, mạng máy tính… chiếm đoạt tài sản theo tội mới.
Ngược lại, cũng có những thẩm phán cho rằng vẫn phải xét xử các hành vi trên về tội phạm tương ứng trong nhóm tội xâm phạm sở hữu. Theo Tòa Hình sự, để giải quyết vướng mắc đang gây tranh cãi và áp dụng pháp luật thống nhất thì cần phải có văn bản hướng dẫn giải thích.
Khó truy tìm nạn nhân
Bên cạnh đó, Thẩm phán Vũ Phi Long, Phó Chánh Tòa Hình sự TAND TP.HCM, cho biết một cái khó trong việc xử lý loại tội phạm này là cơ quan tố tụng khó truy tìm nạn nhân. Bởi lẽ tài sản bị chiếm đoạt là có thật nhưng nạn nhân thường sử dụng nick ảo. Mặt khác, họ cũng khó chứng minh đó là tài sản của mình bị thủ phạm chiếm đoạt. Khá nhiều trường hợp, nạn nhân ở nước ngoài, ngân hàng lại từ chối cung cấp thông tin nên không đủ điều kiện tìm ra người bị hại.
Kiểm sát viên cao cấp Nguyễn Thanh Sơn, Viện Phúc thẩm III VKSND Tối cao, cũng kể nhiều vụ ra tòa phía gỡ tội đặt ra câu hỏi là vụ án không có người bị hại gây khó khăn cho việc xét xử.
Tuy nhiên, cả Thẩm phán Long và kiểm sát viên Sơn đều đồng ý rằng khó tìm người bị hại không có nghĩa là cơ quan tố tụng bế tắc khi giải quyết án. Bởi lẽ lời khai cũng người bị hại trong những vụ án này chỉ là một trong những nguồn chứng cứ chứ không phải là tất cả. Cơ quan tố tụng còn căn cứ vào lời khai bị can bị cáo cũng như những chứng cứ khác để xác định có hành vi, sự việc phạm tội…
Lừa mua cả vé máy bay
Cuối năm 2011, TAND TP.HCM đã phạt Nguyễn Thái Thông ba năm tù, Nguyễn Ngọc Ánh 11 tháng hai ngày tù về tội sử dụng mạng Internet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, Huỳnh Ngọc Long một năm tù treo về tội trộm cắp tài sản.
Thông là sinh viên công nghệ thông tin. Tháng 10-2009, Thông đăng ký làm thành viên một diễn đàn chuyên cung cấp thông tin thẻ tín dụng bị đánh cắp và làm quen với Long, Ánh. Cả ba tìm mua hoặc được các thành viên diễn đàn cho thông tin thẻ tín dụng rồi đăng nhập vào trang web bán vé trực tuyến của Vietnam Airlines đặt mua vé máy bay điện tử. Thu thập đủ thông tin về khách hàng, hãng máy bay sẽ trừ tiền trên tài khoản của chủ thẻ tín dụng và gửi vé cho nhóm Thông. Tiếp đó, Thông rao bán các vé này trên mạng với giá chỉ bằng một nửa hoặc tặng bạn bè. Chỉ trong gần một năm, cả nhóm đã mua trót lọt 138 vé máy bay trị giá 266 triệu đồng của Vietnam Airlines…
Theo TAND TP, Thông và Ánh sử dụng công nghệ cao chiếm đoạt tiền sau ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS có hiệu lực (ngày 1-1-2010) nên phạm vào tội sử dụng Internet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Còn Long gây án trước ngày này nên phạm vào tội trộm cắp tài sản.
Theo tội mới
Nếu so sánh tội mới với các tội xâm phạm sở hữu thì dấu hiệu trong cấu thành cơ bản tương đối giống nhau. Điểm khác lớn nhất để phân biệt chính là công cụ, phương tiện mà người phạm tội sử dụng để chiếm đoạt tài sản. Đó là các thiết bị kỹ thuật cao như mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số.
Nếu so sánh về mức độ và tính chất nguy hiểm cho xã hội thì tội mới so với các tội xâm phạm sở hữu là ngang nhau. Do đó khi giải quyết án loại này, cơ quan tố tụng nên truy tố, xét xử và kết án các bị cáo theo tội mới ở Điều 226b thay vì các tội xâm phạm sở hữu tương ứng như trước.
Một thẩm phán Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM
Sớm thống nhất
Các ngành tố tụng trung ương cần sớm thống nhất trong việc xử lý loại tội phạm này theo tội danh chính xác. Ngoài ra, cũng phải lưu ý khi tiến hành giải quyết các loại án này thì cơ quan tố tụng cần phải thu thập thông tin thật đầy đủ chứng minh hành vi phạm tội của bị can, bị cáo. Những thông tin này thường liên quan đến số tiền họ đã chiếm đoạt và hành vi chiếm đoạt cụ thể. Có như vậy án đưa ra xét xử mới đúng người, đúng tội và có mức hình phạt phù hợp với tội phạm.
Kiểm sát viên cao cấpNGUYễN THANH SƠN,
Viện Phúc thẩm III VKSND Tối cao

Nguồn: Báo Pháp luật TP.HCM online

Thứ Ba, 27 tháng 11, 2012

Hướng dẫn khởi kiện tranh chấp kinh tế - thương mại


I. Trình tự thủ tục 
- Người khởi kiện nộp Đơn khởi kiện (theo mẫu hướng dẫn) tại Tòa án có thẩm quyền giải quyết.
- Tòa án thụ lý đơn, xem xét đúng thẩm quyền, đúng quy định pháp luật ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí gửi người khởi kiện. Người khởi kiện nộp án phí tại Cơ quan thi hành án và nộp biên lai nộp tiền tạm ứng án phí lại cho Tòa án. Tòa án thụ lý vụ án và ra thông báo thụ lý vụ án và vụ án chính thức được Tòa án giải quyết.

II. Hồ sơ khởi kiện
- Đơn khởi kiện (theo mẫu hướng dẫn);
- Hợp đồng kinh tế hoặc văn bản, tài liệu giao dịch có giá trị như hợp đồng kinh tế;
- Biên bản bổ sung, phụ lục, phụ kiện hợp đồng (nếu có);
- Tài liệu về bảo đảm thực hiện hợp đồng như: cầm cố, thế chấp, tài sản (nếu có);
- Tài liệu về việc thực hiện hợp đồng như giao nhận hàng, các biên bản nghiệm thu, các chứng từ thanh toán, biên bản thanh lý hợp đồng, các biên bản làm việc về công nợ tồn đọng; 
- Tài liệu về tư cách pháp lý của người khởi kiện, của các đương sự và người có liên quan khác như: giấy phép, quyết định thành lập doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; điều lệ hoạt động, quyết định bổ nhiệm hoặc cử người đại diện doanh nghiệp;
- Các tài liệu giao dịch khác (nếu thấy cần thiết); 
- Bản kê các tài liệu nộp kèm theo đơn kiện (ghi rõ số bản chính, bản sao).
Lưu ý: 
• Bản sao là bản sao chứng thực tại UBND cấp phường/xã.
• Các tài liệu nêu trên là văn bản, tài liệu tiếng nước ngoài đều phải được dịch sang tiếng Việt Nam do cơ quan, tổ chức có chức năng dịch thuật, kèm theo bản gốc. 

III. Thẩm quyền giải quyết
- Tòa án nhân dân có thẩm quyền nhận đơn khởi kiện giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các tranh chấp kinh tế - kinh doanh thương mại nơi bị đơn cư trú, làm việc (bị đơn là cá nhân) hoặc bị đơn có trụ sở (bị đơn là cơ quan tổ chức).
- Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Toà án nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp.
- Nguyên đơn được lựa chọn nộp đơn khởi kiện tại Tòa án, nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết;
b) Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết;
c) Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết;
d) Nếu tranh chấp về bồi th¬ờng thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết;
đ) Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết;
h) Nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;
i) Nếu tranh chấp bất động sản mà bất động sản có ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi có một trong các bất động sản giải quyết.

IV. Thời hiệu khởi kiện
- Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Thời hiệu khởi kiện các tranh chấp thương mại là 02 năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, trừ trường hợp sau khi bị khiếu nại, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không nhận được thông báo về việc bị kiện tại Trọng tài hoặc Tòa án trong thời hạn 09 tháng kể từ ngày giao hàng.
- Đối với vụ tranh chấp mà trong văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thời hiệu khởi kiện thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật đó như: Bộ luật hàng hải Việt Nam, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật giao thông đường thủy nội địa, Luật hàng không dân dụng Việt Nam, Luật các công cụ chuyển nhượng, …

V. Án phí
1/ Án phí kinh tế bao gồm án phí kinh tế sơ thẩm và án phí kinh tế phúc thẩm.
2/ Mức án phí kinh tế sơ thẩm đối với các vụ án kinh tế không có giá ngạch là 2.000.000 đồng.
3/ Mức án phí kinh tế sơ thẩm đối với các vụ án kinh tế có giá ngạch được quy định như sau:
Giá trị tranh chấpMức án phí
a) từ 40.000.000 đồng trở xuống2.000.000 đồng
b) Từ trên 40.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng5% của giá trị tranh chấp
c) Từ trên 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng20.000.000 đồng+ 4% của phần giá trị tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng
d) Từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tranh chấp vượt quá 800.000.000 đồng
đ) Từ trên 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tranh chấp vượt quá 2.000.000.000 đồng
e) Từ trên 4.000.000.000 đồng112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tranh chấp vượt quá 4.000.000.000 đồng.
Tiền tạm ứng án phí sơ thẩm
Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có liên quan, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong các vụ án kinh tế phải nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo thông báo của Toà án với mức tạm ứng là 50% theo quy định trên, trừ trường hợp được miễn tiền tạm ứng án phí, miễn nộp án phí.

VI. Thời gian giải quyết
Thời hạn chuẩn bị xét xử: từ 2 đến 3 tháng kể từ ngày Tòa án thụ lý
Thời hạn mở phiên tòa: từ 1 đến 2 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử
Liên hệ để được tư vấn về thủ tục khởi kiện

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ MINH LONG
Địa chỉ: số 078 phố Đốc Ngữ, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
Luật sư: Phan Khắc Nghiêm - 0988 505 572 - 0913 579 801
Email: minhlonglawfirm@gmail.com/ phannghiemlawyer@gmail.com