Hiển thị các bài đăng có nhãn hợp đồng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn hợp đồng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 15 tháng 1, 2013

Tranh chấp hợp đồng và giải quyết tranh chấp hợp đồng

Tranh chấp hợp đồng và giải quyết tranh chấp hợp đồng được thể hiện qua nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằngthương lượng, hòa giải, tòa án, trọng tài và các nội dung khác liên quan, cụ thể như sau:

giai-quyet-tranh-chap-hop-dong-jpeg-06122012113030-U1.jpeg

Tranh chấp hợp đồng và giải quyết tranh chấp hợp đồng

I. Tranh chấp Hợp đồng:

Là sự mâu thuẫn, bất đồng ý kiến giữa các bên tham gia quan hệ Hợp đồng liên quan đến việc thực hiện (hoặc không thực hiện) các quyền và nghĩa vụ theo Hợp đồng.

1. Tranh chấp Hợp đồng là ý kiến không thống nhất của các bên về việc đánh giá hành vi vi phạm hoặc cách thức giải quyết hậu quả phát sinh từ vi phạm đó (trong khi vi phạm Hợp đồng là hành vi đơn phương của một bên đã xử sự trái với cam kết trong Hợp đồng).

2.  Các đặc điểm của tranh chấp Hợp đồng:

+   Phát sinh trực tiếp từ quan hệ Hợp đồng, nên luôn luôn thuộc quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp (tức các bên trong Hợp đồng).

+   Mang yếu tố tài sản (vật chất hay tinh thần) và gắn liền lợi ích các bên trong tranh chấp.

+   Nguyên tắc giải quyết các tranh chấp Hợp đồng là bình đẳng, thỏa thuận.

II. Giải quyết tranh chấp Hợp đồng:

1.  Tranh chấp Hợp đồng đòi hỏi phải được giải quyết thỏa đáng bằng một phương thức chọn lựa phù hợp để nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp, vừa đảm bảo trật tự pháp luật và kỷ cương xã hội, giáo dục được ý thức tôn trọng pháp luật của công dân, góp phần chủ động ngăn ngừa các vi phạm Hợp đồng.

2.  Nguyên tắc giải quyết các tranh chấp Hợp đồng phải đảm bảo nhanh chóng, chính xác, đúng pháp luật.

3.  Quyết định giải quyết các tranh chấp Hợp đồng phải có tính khả thi cao, thi hành được và quá trình giải quyết phải đảm bảo tính dân chủ và quyền tự định đoạt của các bên với chi phí giải quyết thấp.

4.  Tranh chấp Hợp đồng có thể được giải quyết bằng các phương thức khác nhau: hòa giải, trọng tài hay Tòa án.

5.   Các bên tranh chấp có thể chọn lựa một phương thức giải quyết tranh chấp Hợp đồng phù hợp hoặc sử dụng phối hợp nhiều phương pháp.

6.  Các yếu tố tác động chi phối việc các bên chọn lựa phương thức giải quyết các tranh chấp Hợp đồng:

+   Các lợi thế mà phương thức đó có thể mang lại cho các bên.

+   Mức độ phù hợp của phương thức đó đối với nội dung và tính chất của tranh chấp Hợp đồng với cả thiện chí của các bên.

+   Thái độ hay qui định của nhà nước đối với quyền chọn lựa phương thức giải quyết của các bên.

Giải quyết tranh chấp hợp đồng theo các phương thức sau đây:

1.  Phương thức thương lượng, hòa giải:

+   Hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp xuất hiện sớm nhất trong lịch sử xã hội loài người trên nhiều lãnh vực, chứ không riêng đặc trưng gì với tranh chấp Hợp đồng.

+   Hòa giải là các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận để đi đến thống nhất một phương án giải quyết bất đồng giữa họ và tự nguyện thực hiện phương án đã thỏa thuận qua hòa giải.

+   Ở VN, việc hòa giải tranh chấp Hợp đồng được coi trọng. Các bên phải tự thương lượng, hòa giải với nhau khi phát sinh tranh chấp. Khi thương lượng, hòa giải bất thành mới đưa ra Tòa án hoặc trọng tài giải quyết. Ngay tại Tòa án, các bên vẫn có thể tiếp tục hòa giải với nhau. Ở VN, bình quân mỗi năm, số lượng tranh chấp kinh tế được giải quyết bằng phương thức hòa giải chiếm đến trên dưới 50% tổng số vụ việc mà Tòa án đã phải giải quyết.

+   Các ưu điểm của giải quyết tranh chấp Hợp đồng kinh tế trong thực tế bằng phương thức hòa giải:

-    Là phương thức giải quyết tranh chấp đơn giản, nhanh chóng, ít tốn kém.

-    Các bên hòa giải thành thì không có kẻ thắng người thua nên không gây ra tình trạng đối đầu giữa các bên, vì vậy duy trì được quan hệ hợp tác vẫn có giữa các bên.

-    Các bên dễ dàng kiểm soát được việc cung cấp chứng từ và sử dụng chứng từ đó giữ được các bí quyết kinh doanh và uy tín của các bên.

-    Hòa giải xuất phát từ sự tự nguyện có điều kiện của các bên, nên khi đạt được phương án hòa giải, các bên thường nghiêm túc thực hiện.

+   Những mặt hạn chế của phương thức hòa giải trong tranh chấp hợp đồng:

-    Nếu hoà giải bất thành, thì lợi thế về chi phí thấp trở thành gánh nặng bổ sung cho các bên tranh chấp.

-    Người thiếu thiện chí sẽ lợi dụng thủ tục hòa giải để trì hoản việc thực hiện nghĩa vụ của mình và có thể đưa đến hậu quả là bên có quyền lợi bị vi phạm mất quyền khởi kiện tại Tòa án hoặc trọng tài vì hết thời hạn khởi kiện.

+   Các hình thức hòa giải:

-    Tự hòa giải: là do các bên tranh chấp tự bàn bạc để đi đến thống nhất phương án giải quyết tranh chấp mà không cần tới sự tác động hay giúp đỡ của đệ tam nhân.

-    Hòa giải qua trung gian: là việc các bên tranh chấp tiến hành hòa giải với nhau dưới sự hổ trợ, giúp đỡ của người thứ ba (người trung gian hòa giải). Trung gian hòa giải có thể là cá nhân, tổ chức hay Tòa án do các bên tranh chấp chọn lựa hoặc do pháp luật qui định.

-    Hòa giải ngoài thủ tục tố tụng: là việc hòa giải được các bên tiến hành trước khi dưa đơn khởi kiện ra Tòa án hay trọng tài.

-    Hòa giải trong thủ tục tố tụng: là việc hòa giải được tiến hành tại Tòa án, trong tài khi các cơ quan này tiến hành giải quyết tranh chấp theo đơn kiện của một bên (hòa giải dưới sự trợ giúp của Tòa án hay trọng tài). Tòa án, trong tài sẽ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên và quyết định này có giá trị cưỡng chế thi hành đối với các bên.

2.  Phương thức giải quyết bởi Trọng tài:

Các bên thỏa thuận đưa ra những tranh chấp đã hoặc sẽ phát sinh giữa họ ra giải quyết tại Trọng tài và Trọng tài sau khi xem xét sự việc tranh chấp, sẽ đưa ra phán quyết có giá trị cưỡng chế thi hành đối với các bên.

+   Phương thức giải quyết trọng tài cũng bắt nguồn từ sự thỏa thuận của các bên trên cơ sở tự nguyện.

+   Các bên được quyền thỏa thuận lựa chọn một Trọng tài phù hợp, chỉ định trọng tài viên để thành lập Hợp đồng (hoặc Ủy ban) Trọng tài giải quyết tranh chấp.

+   Khác với thương lượng hòa giải, trọng tài là một cơ quan tài phán (xét xử). Tính tài phán của trọng tài thể hiện ở quyết định trọng tài có giá trị cưỡng chế thi hành.

+   Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh từ quan hệ kinh tế, trong đó có tranh chấp Hợp đồng (tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng thuần túy dân sự không thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài).

+   Thẩm quyền của Trọng tài được xác định không phụ thuộc vào quốc tịch, địa chỉ trụ sở giao dịch chính của các bên tranh chấp hay nơi các bên tranh chấp có tài sản hay nơi ký kết hoặc thực hiện Hợp đồng.

+   Điều kiện để trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là các bên phải có thỏa thuận trọng tài.

+   Thỏa thuận trọng tài là sự nhất trí của các bên đưa ra những tranh chấp đã hoặc sẽ phát sinh giữa họ ra giải quyết tại trọng tài.

+   Thỏa thuận trọng tài phải thể hiện dưới hình thức văn bản và phải chỉ đích danh một trung tâm trọng tài cụ thể .

+   Thỏa thuận trọng tài có thể là một điều khoản của Hợp đồng (điều khoản trọng tài) hay là một thỏa thuận riêng biệt (Hiệp nghị trọng tài).

+   Mọi sự thay đổi, đình chỉ, hủy bỏ hay vô hiệu của Hợp đồng đều khôn glàm ảnh hưởng đến hiệu lực của thoả thuận trọng tài (trừ trường hợp lý do làm Hợp đồng vô hiệu cũng là lý do làm thoả thuận trọng tài vô hiệu).

+   Thỏa thuận trọng tài không có giá trị ràng buộc các bên khi nó không có hiệu lực hoặc không thể thi hành được.

+   Khi đã có thỏa thuận trọng tài thì các bên chỉ được kiện tại trọng tài theo sự thỏa thuận mà thôi. Tòa án không tham gia giải quyết nếu các bên đã thỏa thuận trọng tài, trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài đó là vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài là không thể thực hiện được.

+   Trọng tài hoạt động theo nguyên tắc xét xử một lần. phán quyết trọng tài có tính chung thẩm: các bên không thể kháng cáo trước Tòa án hoặc các tổ chức nào khác.

+   Các bên tranh chấp phải thi hành phán quyết trọng tài trong thời hạn ấn định của phán quyết.

Các ưu điểm của phương thức giải quyết tranh chấp Hợp đồng thông qua trọng tài:
a)  Thủ tục trọng tài đơn giản, nhanh chóng.

b)  Các bên tranh chấp có khả năng tác động đến quá trình trọng tài.

c)  Quyền chỉ định trọng tài viên giúp các bên lựa chọn được trọng tài viên giỏi, nhiều kinh nghiệm, am hiểu sâu sắcvấn đề đang tranh chấp. Qua đó, có điều kiện giải quyết tranh chấp Hợp đồng nhanh chóng, chính xác.

d)  Nguyên tắc trọng tài không công khai giúp các bên hạn chế sự tiết lộ các bí quyết kinh doanh, giữ được uy tính của các bên trên thương trường.

e)  Trọng tài không đại diện cho quyền lực nhà nước nên rất phù hợp để giải quyết các tranh chấp có nhân tố nước ngoài.

Các mặt hạn chế của phương thức trọng tài:

a) Tính cưỡng chế thi hành các quyết định trọng tài không cao (vì Trọng tài không đại diện cho quyền lực tư pháp của nhà nước).

b) Việc thực hiện các quyết định trọng tài hoàn tòan phụ thuộc vào ý thức tự nguyện của các bên.

3. Phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng theo thủ tục tố tụng tư pháp

Khi tranh chấp Hợp đồng phát sinh, nếu các bên không tự thương lượng, hòa giải với nhau thì có thể được giải quyết tại Tòa án. Tùy theo tính chất của Hợp đồng là kinh tế hay dân sự mà các tranh chấp phát sinh có thể được Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng kinh tế hay thủ tục tố tụng dân sự.

Các lợi thế của việc giải quyết tranh chấp Hợp đồng qua Tòa án:

a)   Các quyết định của Tòa án (đại diện cho quyền lực tư pháp của nhà nước) có tính cưỡng chế thi hành đối với các bên.

b)   Với nguyên tắc 2 cấp xét xử, những sai sót trong quá trình giải quyết tranh chấp có khả năng được phát hiện khắc phục.

c)   Với điều kiện thực tế tại Việt Nam, thì án phí Tòa án lại thấp hơn lệ phí trọng tài.
 
Các mặt hạn chế của việc giải quyết tranh chấp Hợp đồng qua Tòa án:

a)   Thời gian giải quyết tranh chấp thường kéo dài (vì thủ tục tố tụng Tòa án quá chặt chẽ).

b)   Khả năng tác động của các bên trong quá trình tố tụng rất hạn chế.

Ls Phan Khắc Nghiêm

Thứ Sáu, 11 tháng 1, 2013

HỦY BỎ HAY TIẾP TỤC THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG KHI MỘT BÊN VI PHẠM CƠ BẢN NGHĨA VỤ HỢP ĐỒNG?

1. Dẫn nhập
Thông thường, khi xảy ra tranh chấp về việc một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã giao kết trong hợp đồng, thường thì bên bị vi phạm sẽ yêu cầu Tòa án buộc bên vi phạm nghĩa vụ phải tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng để đảm bảo quyền lợi cho mình. Cũng có trường hợp bên vi phạm cố tình nại ra một lý do nào đó để yêu cầu được hủy bỏ hợp đồng mà không phải bồi thường. Trong tất cả những trường hợp như vậy, Tòa án sẽ đương nhiên tuyên buộc bên không thực hiện đúng hợp đồng phải có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện hợp đồng đã giao kết [1].

Ngoài ra, pháp luật thương mại cũng có các quy định cho phép bên bị vi phạm có quyền tuyên bố đơn phương hủy bỏ hợp đồng trong trường hợp bên kia “vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng”, hoặc trong một số các trường hợp khác mà các bên đã có “thỏa thuận” [2].

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là: nếu không có yêu cầu “tiếp tục thực hiện hợp đồng”, đồng thời cũng không có bên nào tuyên bố đơn phương “hủy bỏ hợp đồng” thì Tòa án giải quyết thế nào? Nói cách khác, trong những trường hợp như thế (tức trường hợp một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng) thì Tòa án nên ra phán quyết buộc các bên tiếp tục thực hiện hợp đồng, hay nên cho phép các bên hủy bỏ việc thực hiện hợp đồng và giải quyết hậu quả của nó? Việc định đoạt số phận của hợp đồng trong những trường hợp này và việc giải quyết hậu quả pháp lý kéo theo nó sẽ ra sao? Có cần thiết không? Trong khuôn khổ bài bình luận này, sở dĩ tác giả đặt vấn đề như vậy là bởi vì theo sau hai quyết định của Tòa án - quyết định “buộc tiếp tục hợp đồng” và quyết định cho phép “hủy bỏ hợp đồng” - là những hậu quả pháp lý hoàn toàn trái ngược nhau. Các quyết định này không những có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi tham gia giao kết hợp đồng (trong đó quan trọng nhất là ý chí giao kết hợp đồng lúc ban đầu giữa các bên nhằm đem lại cho họ lợi ích hợp pháp như mong đợi) mà đôi khi còn là một động thái hết sức cần thiết nhằm đặt dấu chấm hết cho các tranh chấp tưởng chừng như không có hồi kết.

2. Tóm tắt vụ án được bình luận:
Vụ kiện tranh chấp hợp đồng mua bán gạo số 132/HĐKT/2009 và số 136/HĐKT/2009 giữa Nguyên đơn – Công ty TNHH Song Thuận và Bị đơn - Công ty Cổ phần Kinh doanh Nông sản Kiên Giang được tóm tắt như sau:

Vào ngày 08/10/2009 Công ty TNHH Song Thuận ký hợp đồng kinh tế số 127/HĐKT/2009 với Công ty Cổ phần Kinh doanh Nông sản Kiên Giang. Theo nội dung hợp đồng thì Công ty TNHH Song Thuận bán cho Công ty Cổ phần Kinh Doanh Nông sản Kiên Giang 1.000 tấn gạo với giá 6.830.000 đồng/tấn, thành tiền là 6.830.000.000 đồng và tiền thuế VAT tổng cộng là 7.181.281.800 đồng. Công ty Cổ phần Kinh doanh Nông sản Kiên Giang đã thanh toán cho Công ty TNHH Song Thuận số tiền 6.147.000.000 đồng và còn nợ lại 1.034.281.800 đồng. Nay Công ty TNHH Song Thuận yêu cầu tòa án buộc Công ty Cổ phần Kinh doanh Nông sản Kiên Giang phải thanh toán số tiền 1.034.281.800 đồng và tiền lãi 1% kể từ tháng 11/2009 đến nay. Công ty Cổ phần Kinh doanh Nông sản Kiên Giang xác nhận có giữ lại khoản tiền 1.034.281.800 đồng của Công ty TNHH Song Thuận theo hợp đồng kinh tế số 127/HĐKT/2009. Việc giữ lại khoản tiền này với lý do là vào ngày 02/11/2009 Công ty TNHH Song Thuận có ký với Công ty Cổ phần Kinh doanh Nông sản Kiên Giang 02 hợp đồng mua bán gạo số 132/HĐKT/2009 và số 136/HĐKT/2009 với số lượng là 2.000 tấn gạo 5% tấm, đơn giá 7.300.000 đồng/tấn, thời gian giao hàng từ ngày 15/11/2009 đến ngày 30/12/2009. Vào ngày 03/11/2009 Công ty Cổ phần Kinh doanh Nông sản Kiên Giang đã thực hiện chuyển tiền 80% giá trị hợp đồng theo như thỏa thuận với tổng số tiền là 11.680.000.000 đồng. Tuy nhiên, đến ngày 12/11/2009 Công ty Cổ phần Kinh doanh Nông sản Kiên Giang nhận được Ủy nhiệm chi từ phía Công ty TNHH Song Thuận trả lại số tiền là 11.677.800.000 đồng với lý do thị trường gạo trong nước tăng giá liên tục nên gặp nhiều khó khăn trong việc thu mua. Ngày 28/11/2009 Công ty cổ phần kinh doanh nông sản Kiên Giang có công văn số 122 đưa ra hai phương án:
- Phương án 1: Gia hạn thời gian giao hàng từ ngày 15/12/2009 đến ngày 30/01/2010 và hỗ trợ thêm 500 đồng/kg.
- Phương án 2: Công ty TNHH Song Thuận phải bồi thường hợp đồng.

Ngày 30/11/2009 Công ty TNHH Song Thuận có công văn thể hiện việc chọn “phương án 1” nhưng với điều kiện Công ty cổ phần kinh doanh nông sản Kiên Giang phải ký thêm hợp đồng mua 2.000 tấn gạo nữa để bù lỗ. Phía Công ty cổ phần kinh doanh nông sản Kiên Giang không đồng ý và nhấn mạnh: Việc tự ý trả lại tiền và không tiếp tục thực hiện hợp đồng của Công ty TNHH Song Thuận làm cho Công ty Cổ phần Kinh doanh Nông sản Kiên Giang không có hàng đủ giao và phải bồi thường cho khách hàng nước ngoài 504.000 USD. Do đó, Công ty Cổ phần Kinh doanh Nông sản Kiên Giang yêu cầu Công ty TNHH Song Thuận phải bồi thường thiệt hại.

* Tại bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 11/2010/KDTM-ST ngày 23/09/2010 Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:
-Chấp thuận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Song Thuận. Buộc Công ty Cổ phần Kinh doanh Nông sản Kiên Giang phải trả cho Công ty TNHH Song Thuận số tiền chưa thanh toán là là 1.142.191.867 đồng.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty cổ phần kinh doanh nông sản Kiên Giang, buộc Công ty TNHH Song Thuận phải trả cho Công ty cổ phần kinh doanh nông sản Kiên Giang 3.256.080.000 đồng (Tiền bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng là 2.085.880.000 đồng, tiền phạt vi phạm hợp đồng là 1.168.000.000 đồng, tiền chuyển trả còn thiếu là 2.200.000 đồng).

* Ngày 30/9/2010 Công ty TNHH Song Thuận có đơn kháng cáo với nội dung: Án sơ thẩm buộc Công ty Song Thuận bồi thường thiệt hại cho Công ty cổ phần kinh doanh nông sản Kiên Giang 3.256.125.000 đồng là không chính xác vì Bản án sơ thẩm cố ý bỏ qua tình tiết Công ty cổ phần Kiên Giang đã ra văn bản số 129 ngày 10/12/2009 đơn phương hủy bỏ hợp đồng trước khi hết hạn hợp đồng 20 ngày là nguyên nhân dẫn đến hợp đồng không được thực hiện. Việc Cty Song Thuận gửi lại số tiền tạm ứng chỉ là giải pháp tạm thời nhằm tránh tổn thất về lãi suất chứ không hủy hợp đồng.

* Ngày 08/10/2010 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá ra quyết định số 05/QĐ/KNPT-DS kháng nghị bản án số 11/2010/KDTM-ST ngày 23/9/2010 theo thủ tục phúc thẩm với nội dung: Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá chấp nhận đơn khởi kiện của Công ty TNHH Song Thuận và buộc Công ty cổ phần kinh doanh nông sản Kiên Giang phải trả cho Công ty TNHH Song Thuận số tiền là 1.142.191.867 đồng mà Tòa án không buộc Công ty cổ phần kinh doanh nông sản Kiên Giang phải chịu án phí có giá ngạch là không đúng quy định tại Khoản 4 Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án. Việc vi phạm nói trên đã làm thiệt hại đến ngân sách Nhà nước do đó cần có sự điều chỉnh trong phần quyết định của bản án vi phạm về án phí.

* Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm Toà án nhân dân Tỉnh Kiên Giang đã nhận định: Vào ngày 30/11/2009 và tiếp sau đó là các ngày 01 và 03/12/2009, Công ty cổ phần kinh doanh nông sản Kiên Giang đã có gửi cho Công ty TNHH Song Thuận tổng cộng ba công văn mang số 123/KH-KD, 124/KH-KD và 128/KH-KD thể hiện ý chí tháo gỡ khó khăn để hợp đồng có thể thực hiện được bằng cách: đầu tiên là gia hạn thời hạn giao hàng đến ngày 01/12/2009; sau đó lại tiếp tục gia hạn đến hết ngày 04/12/2009. Xét đã hết thời gian gia hạn mà Công ty TNHH Song Thuận vẫn không có hướng giải quyết cụ thể, rõ ràng dẫn đến việc Công ty cổ phần kinh doanh nông sản Kiên Giang phải mua hàng nơi khác giao cho kịp thời gian, đồng thời phía Công ty TNHH Song Thuận không có văn bản nào phản hồi cho Công ty cổ phần kinh doanh nông sản Kiên Giang thể hiện việc tiếp tục thực hiện hợp đồng, cũng không yêu cầu Công ty cổ phần kinh doanh nông sản Kiên Giang chuyển lại tiền tạm ứng cho mình… nên việc án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty cổ phần kinh doanh nông sản Kiên Giang, buộc Công ty TNHH Song Thuận phải trả cho Công ty cổ phần kinh doanh nông sản Kiên Giang 3.256.080.000 đồng (Tiền bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng là 2.085.880.000 đồng, tiền phạt vi phạm hợp đồng là 1.168.000.000 đồng, tiền chuyển trả còn thiếu là 2.200.000 đồng) là hoàn toàn có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật. Công ty TNHH Song Thuận kháng cáo, nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Bỡi lẽ trên, tòa phúc thẩm đã tuyên xử:
* Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Song Thuận: Buộc Công ty cổ phần kinh doanh nông sản Kiên Giang phải trả cho Công ty TNHH Song Thuận số tiền là 1.142.191.867đ (một tỷ một trăm bốn mươi hai triệu một trăm chín mươi mốt ngàn tám trăm sáu mươi bảy đồng).
* Chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty cổ phần kinh doanh nông sản Kiên Giang: Buộc Công ty TNHH Song Thuận phải trả cho Công ty cổ phần kinh doanh nông sản Kiên Giang 3.256.080.000 đồng.
* Về án phí: Sửa phần án phí trong bản án sơ thẩm như sau:
+ Buộc Công ty cổ phần kinh doanh nông sản Kiên Giang phải chịu án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch số tiền 46.265.756 đồng. Khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp số tiền 56.646.674 đồng theo biên lai thu tiền số 008459 ngày 21/4/2010, Công ty cổ phần kinh doanh nông sản Kiên Giang được nhận lại số tiền 10.380.918 đồng tại Chi cục thi hành án thành phố Rạch Giá.
+ Buộc Công ty TNHH Song Thuận phải chịu án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch số tiền 97.121.600 đồng. Khấu trừ tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp số tiền 21.514.000 đồng theo biên lai thu tiền số 008404 ngày 02/4/2010 nay còn phải nộp thêm số tiền 75.607.600 đồng.
- Về Án phí Kinh doanh thương mại phúc thẩm: Công ty TNHH Song Thuận không phải chịu. Hoàn lại tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp số tiền 200.000 đồng theo biên lai thu tiền số 008911 ngày 30/9/2010 tại Chi cục thi hành án thành phố Rạch Giá.

3. Vấn đề bình luận thứ nhất: Hủy bỏ hay tiếp tục thực hiện hợp đồng khi một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng?
Xem xét các tình tiết vụ việc, ta nhận thấy vấn đề mấu chốt mang tính quyết định là xác định liệu có hay không hành vi “vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng” trong hai hợp đồng đang có tranh chấp và hành vi này được qui định ở đâu, trong văn bản pháp luật nào?

Có ý kiến cho rằng Công ty TNHH Song Thuận không vi phạm nghĩa vụ hợp đồng do vẫn chưa hết thời hạn giao hàng (thời gian giao hàng theo hợp đồng là từ ngày 15/11/2009 đến ngày 30/12/2009; thực tế Công ty Cổ phần Kinh doanh Nông sản Kiên Giang – bên mua – đã tự ý chấm dứt hợp đồng trước đó 20 ngày). Bên bán là Công ty TNHH Song Thuận trong đơn kháng cáo đề ngày 29/10/2010 cũng cho rằng họ vẫn còn đang muốn tiếp tục thực hiện hợp đồng chứ không hủy hợp đồng, việc “tạm gửi lại tiền tạm ứng” chỉ nhằm “tránh tổn thất về lãi suất”, chứ không phải đơn phương chấm dứt hợp đồng dẫn đến việc Công ty Cổ phần Kinh doanh Nông sản Kiên Giang phải hủy hợp đồng với bên thứ ba. Theo tác giả, những lập luận này là hoàn toàn không có cơ sở. Bởi lẽ, hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng song vụ: bên bán có nghĩa vụ giao hàng và nhận tiền; bên mua có nghĩa vụ trả tiền và nhận hàng. Việc bên mua đã hoàn thành nghĩa vụ trả tiền theo hợp đồng (80% giá trị hợp đồng theo như thỏa thuận với tổng số tiền là 11.680.000.000 đồng) nhưng sau đó bên bán lại đơn phương tùy tiện trả lại số tiền này với lý do giá gạo tăng dẫn đến “không thể thực hiện được hợp đồng”, mà không được sự đồng ý của bên mua, là hành vi vi phạm hợp đồng của bên bán. Về mặt cơ sở lý luận, tuy vấn đề này Luật thương mại không có qui định cụ thể để điều chỉnh, tuy nhiên Bộ luật dân sự - với tư cách là luật chung - lại thấy quy định rất rõ. Theo quy định tại Điều 417 Bộ luật dân sự 2005 thì: “Trong hợp đồng song vụ, khi một bên không thực hiện được nghĩa vụ của mình do lỗi của bên kia thì có quyền yêu cầu bên kia vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của mình hoặc hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại”. Như vậy, việc Công ty Cổ phần Kinh doanh Nông sản Kiên Giang không thực hiện được trọn vẹn nghĩa vụ trả tiền (đã trả nhưng sau đó bị trả lại) là hoàn toàn do lỗi của Công ty TNHH Song Thuận (đơn phương tự ý trả lại tiền đã nhận theo hợp đồng). Theo pháp luật dân sự, đây chính là cơ sở đầu tiên để khẳng định: đã có hành vi vi phạm hợp đồng từ phía bên bán là Công ty TNHH Song Thuận. Hơn nữa, đó còn là hành vi “vi phạm cơ bản” nghĩa vụ hợp đồng đối với bên mua là Công ty Cổ phần Kinh doanh Nông sản Kiên Giang mà sau đây ta sẽ tiếp tục chứng minh.

Thế nào là “vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng”? Vấn đề này được luật qui định như thế nào? Theo qui định tại Khoản 13 Điều 3 Luật thương mại 2005 ta thấy có quy định rất rõ về “Vi phạm cơ bản”: Vi phạm cơ bản là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng. Như vậy, không phải vi phạm hợp đồng nào cũng được xem là “vi phạm cơ bản”. Nói cách khác, “vi phạm cơ bản” phải thỏa mãn 2 điều kiện: Thứ nhất, phải có sự vi phạm hợp đồng và sự vi phạm đó phải gây ra thiệt hại cụ thể; Thứ hai, thiệt hại do bên vi phạm gây ra phải đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng. Trở lại vụ việc đang được bình luận, đem đối chiếu với qui định của luật ta thấy các điều kiện trên hoàn toàn được thỏa mãn. Về điều kiện thứ nhất, rõ ràng Công ty TNHH Song Thuận đã vi phạm nghĩa vụ giao hàng do đã nhận tiền nhưng không giao gạo. Về điều kiện thứ hai, việc vi phạm hợp đồng của Công ty TNHH Song Thuận đã gây thiệt hại cho Công ty Cổ phần Kinh doanh Nông sản Kiên Giang và thiệt hại này nghiệm trọng tới mức làm cho Công ty Cổ phần Kinh doanh Nông sản Kiên Giang không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng: không có gạo để giao cho bên thứ ba. Như vậy, một lần nữa, đã có đủ cơ sở văn bản (cơ sở pháp lý theo qui định của Luật thương mại) để khẳng định: Công ty TNHH Song Thuận đã vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng trong quá trình thực hiện hai hợp đồng số 132/HĐKT/2009 và 136/HĐKT/2009.

Như vậy chúng ta đã chứng minh được là có hành vi “vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng” của một bên. Vấn đề còn lại là liệu với hành vi đó, Tòa án nên cân nhắc buộc “tiếp tục thực hiện hợp đồng” hay “chấp nhận hủy bỏ hợp đồng” khi mà không bên nào yêu cầu Tòa án tuyên buộc tiếp tục thực hiện hợp đồng, và cũng không có yêu cầu đề nghị chấp nhận tuyên bố đơn phương hủy bỏ hợp đồng từ bên bị vi phạm.

Trong bản án đang được bình luận, dường như Tòa án chỉ tập trung giải quyết các yêu cầu về bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm theo yêu cầu phản tố của bên bị vi phạm mà đã “quên” định đoạt số phận của các hợp đồng đang tranh chấp (có lẽ do không thấy bên nào yêu cầu?).

Diễn biến thực tế của cả hai phiên xử: phiên xử sơ thẩm và phiên xử phúc thẩm đều chỉ dừng lại ở việc Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty Cổ phần Kinh doanh Nông sản Kiên Giang trong việc yêu cầu Công ty TNHH Song Thuận phải bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm do không thực hiện hai hợp đồng mua bán gạo số 132/HĐKT/2009 và 136/HĐKT/2009, để từ đó cấn trừ số tiền chưa thanh toán theo hợp đồng số 127/HĐKT/2009, mà không thấy nêu hướng xử lý như thế nào đối với hai hợp đồng 132 và 136: buộc các bên tiếp tục thực hiện hay chấp nhận tuyên bố đơn phương hủy bỏ hợp đồng của bên bị vi phạm?

Tuy nhiên, với việc đưa ra nhận định rằng: “Như vậy, phía Công ty TNHH Song Thuận không có văn bản nào phản hồi cho Công ty Cổ phần Kinh doanh Nông sản Kiên Giang thể hiện việc tiếp tục thực hiện hợp đồng, đồng thời cũng không yêu cầu Công ty Cổ phần Kinh doanh Nông sản Kiên Giang chuyển lại tiền tạm ứng. Do đó, án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty Cổ phần Kinh doanh Nông sản Kiên Giang buộc Công ty TNHH Song Thuận phải trả cho Công ty Cổ phần Kinh doanh Nông sản Kiên Giang 3.256.080.000 đồng (Tiền bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng là 2.085.880.000 đồng, tiền phạt vi phạm hợp đồng là 1.168.000.000 đồng, tiền chuyển trả còn thiếu là 2.200.000 đồng) là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật...”, dường như Hội đồng xét xử Phúc thẩm đã nghiêng về khả năng cho phép bên bị vi phạm tuyên bố hủy bỏ cả hai hợp đồng 132/HĐKT/2009 và 136/HĐKT/2009 và tiến hành giải quyết hậu quả pháp lý của nó, hơn là tuyên buộc bên vi phạm (Công ty TNHH Song Thuận) phải tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng đã giao kết. Vì nếu giải quyết theo hướng “buộc tiếp tục thực hiện hợp đồng”, tức buộc Công ty TNHH Song Thuận phải nhận lại tiền tạm ứng và tìm cách giao đủ số gạo đã cam kết (sau khi Công ty Cổ phần Kinh doanh Nông sản Kiên Giang đã thể hiện thiện chí tháo gỡ khó khăn để hợp đồng có thể thực hiện được - bằng cách gia hạn thời gian giao hàng từ ngày 15/12/2009 lùi lại đến ngày 30/01/2010, đồng thời còn hỗ trợ thêm 500 đồng/kg cho Công ty TNHH Song Thuận), thì hẳn Hội đồng xét xử đã nêu cụ thể trong bản án của mình rồi. Hơn nữa, với quan điểm nhận định sự việc như đã trình bày ở trên, cả hai Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm và phúc thẩm, một lần nữa, đã gián tiếp cho rằng cần thiết phải chấp nhận tuyên bố đơn phương hủy bỏ hợp đồng đối với hai hợp đồng 132/HĐKT/2009 và 136/HĐKT/2009 của Công ty Cổ phần Kinh doanh Nông sản Kiên Giang với lý do Công ty TNHH Song Thuận đã vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng. Rất tiếc, với nhận định chính xác như vậy, lẽ ra Tòa án phải viện dẫn qui định tại Điểm b, Khoản 4, Điều 312 Luật Thương Mại để cho phép bên bị vi phạm được quyền đơn phương hủy bỏ hợp đồng mua bán sau khi bên kia đã có hành vi vi phạm nghĩa vụ cơ bản của hợp đồng [3], chứ không nên “bỏ lửng” việc quyết định số phận của những hợp đồng này như thực tế đã diễn ra.

4. Vấn đề bình luận thứ hai: Giải quyết hậu quả “Hủy bỏ hợp đồng” thế nào cho đúng?
Theo quy định của Luật Thương Mại 2005 về quyền hủy bỏ hợp đồng, thì: “Trừ trường hợp qui định tại Điều 313 của Luật này, sau khi hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng, trừ thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụ sau khi hủy bỏ hợp đồng và về giải quyết tranh chấp.” (Khoản 1 Điều 314 Luật Thương Mại).

Về vấn đề giải quyết hậu quả pháp lý của việc hủy bỏ hợp đồng, Luật chỉ qui định chung chung là: “Các bên có quyền đòi lại lợi ích do việc đã thực hiện phần nghĩa vụ của mình theo hợp đồng” (Khoản 2, Điều 314 Luật Thương Mại) và “Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật này” (Khoản 2, Điều 314 Luật Thương Mại) mà không quy định cụ thể là cần phải áp dụng các chế tài nào trong số các chế tài luật cho phép để xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng (được qui định tại Điều 292 Luật Thương Mại) – là nguyên nhân trực tiếp và duy nhất dẫn đến việc bên bị vi phạm có quyền đơn phương hủy bỏ hợp đồng – và cách áp dụng chúng ra sao. Nói cách khác, khi một bên được quyền đơn phương hủy bỏ hợp đồng do đã có hành vi vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng của bên kia, thì Luật không qui định là chỉ được phép áp dụng duy nhất một chế tài xử lý đối với bên vi phạm, hay có thể áp dụng kết hợp nhiều chế tài cùng lúc; hoặc trong trường hợp được áp dụng nhiều hơn một chế tài để xử lý bên vi phạm, thì đó là những chế tài nào, kết hợp chúng ra sao? Tại Khoản 2 Điều 307 Luật Thương Mại ta thấy Luật có cho phép kết hợp chế tài “phạt vi phạm” và chế tài “buộc bồi thường thiệt hại” (trong trường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm và đã ghi rõ trong hợp đồng) để xử lý bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Tuy nhiên, theo tác giả, đó là biện pháp xử lý đối với bên không thực hiện đúng hợp đồng theo hướng buộc bên vi phạm phải “tiếp tục thực hiện hợp đồng”. Còn trong nội dung quy định của Điều 314 Luật Thương Mại về “Hậu quả pháp lý của việc hủy bỏ hợp đồng” mà ta đang bàn đến, thì không thấy có quy định nào tương tự, hay có liên quan, cho phép bên bị vi phạm được quyền “phạt vi phạm” đối với bên vi phạm cả. Vậy bên bị vi phạm dẫn đến hủy hợp đồng theo quy định của Luật Thương mại có thể được phép yêu cầu đồng thời: vừa được yêu cầu “bồi thường thiệt hại” và vừa có quyền “phạt vi phạm” hay không? Với câu hỏi này thì cho đến nay Luật Thương Mại vẫn chưa có câu trả lời.

Tuy nhiên, thực tiễn xét xử lại cho thấy Tòa án đã đi xa hơn sự cho phép của Luật (ở đây là Luật Thương Mại 2005) liên quan đến “hủy bỏ hợp đồng”: Theo đó, khi một bên vi phạm nghĩa vụ cơ bản của hợp đồng thì bên kia có quyền hủy bỏ hợp đồng - mặc dù các bên không có thỏa thuận về việc này từ trước; đồng thời, bên bị vi phạm còn được quyền yêu cầu kết hợp cùng lúc hai chế tài xử lý: không những được yêu cầu “bồi thường thiệt hại” mà còn được “phạt vi phạm” đối với bên vi phạm! Bản án mà chúng ta đang bình luận (Bản án kinh doanh thương mại Phúc thẩm số 06/2010/KDTM-PT ngày 24/11/2010 của Tòa án nhân dân Tỉnh Kiên Giang về “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” giữa Công ty TNHH Song Thuận và Công ty Cổ phần Kinh doanh Nông sản Kiên Giang) và Bản án số 27/2011/KDTM-PT ngày 10/03/2011 của Tòa phúc thẩm, Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng về “Tranh chấp hợp đồng đóng tàu” giữa Công ty TNHH Một thành viên đóng tàu Đà Nẵng và Công ty cho thuê tài chính II – Agribank, cũng đều đi theo hướng này [4]. Với bản án thứ nhất, Tòa án nhân dân Tỉnh Kiên Giang đã chấp nhận tuyên bố đơn phương hủy bỏ hợp đồng của Công ty Cổ phần Kinh doanh Nông sản Kiên Giang đối với hai hợp đồng 132/HĐKT/2009 và 136/HĐKT/2009 do Công ty TNHH Song Thuận đã vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng, chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty Cổ phần Kinh doanh Nông sản Kiên Giang, buộc Công ty TNHH Song Thuận phải trả số tiền là 3.256.080.000 đồng (Tiền bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng là 2.085.880.000 đồng; Tiền phạt vi phạm hợp đồng là 1.168.000.000 đồng; Tiền chuyển trả còn thiếu là 2.200.000 đồng) [5]. Ở bản án thứ hai, Tòa phúc thẩm TANDTC tại Đà Nẵng đã chấp nhận tuyên bố hủy bỏ hợp đồng của Công ty cho thuê tài chính II – Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, buộc Công ty TNHH Một thành viên đóng tàu Đà Nẵng phải hoàn trả lại cho Công ty cho thuê tài chính II tiền mua tàu là 25.600.000.000 đồng và tiền lãi phạt vi phạm là 2.048.000.000 đồng [6] (không yêu cầu bồi thường thiệt hại).

5. Vấn đề bình luận thứ ba: Vừa phải “bồi thường thiệt hại” vừa phải chịu “phạt vi phạm” đối với hợp đồng “không có hiệu lực từ thời điểm giao kết” liệu có thuyết phục? 
Có ý kiến cho rằng việc kết hợp cùng lúc hai chế tài xử lý vi phạm: vừa yêu cầu “bồi thường thiệt hại”, vừa có quyền “phạt vi phạm” trong trường hợp hợp đồng bị hủy bỏ theo Điểm b, Khoản 4, Điều 312 Luật Thương Mại là không thuyết phục. Bởi lẽ, luật qui định: “sau khi hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng” (Khoản 1, Điều 314 Luật Thương Mại). Đã không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ được thỏa thuận trong hợp đồng thì hà cớ gì phải thực hiện thỏa thuận phạt vi phạm? Đó là chưa kể trong hợp đồng, ở một số vụ việc xảy ra tranh chấp, các bên thậm chí không có thỏa thuận về phạt vi phạm [7], mà theo luật, không có thỏa thuận phạt vi phạm giữa các bên thì dứt khoát không được áp dụng (Điều 300; Khoản 1 Điều 307 Luật thương mại). Hơn nữa, và quan trọng hơn hết, là theo quy định của Luật thương mại 2005 về “Hậu quả pháp lý của việc hủy bỏ hợp đồng” tại Điều 314 thì không có khoản nào cho phép bên bị vi phạm được quyền yêu cầu “phạt vi phạm” đối với bên vi phạm.

Xét về mặt lý luận, luồng quan điểm vừa nêu không phải là không có lý. Tuy nhiên, tác giả lại hoàn toàn không đồng tình với quan điểm trên.

Theo tác giả, hướng đi được thể hiện qua thực tiễn xét xử của Tòa phúc thẩm – TANDTC tại Đà Nẵng và Tòa án nhân dân Tỉnh Kiên Giang, mà cụ thể là đối với các bản án đang được bình luận, mới thực sự có tính thuyết phục và cần được khuyến khích áp dụng. Bởi lẽ, việc áp dụng kết hợp chế tài xử phạt vi phạm bên cạnh chế tài bồi thường hợp đồng – ngay cả nếu trong hợp đồng không có thỏa thuận phạt vi phạm – là hết sức cần thiết nhằm bảo vệ hợp đồng, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của bên ngay tình trong giao kết. Bởi hợp đồng không phải được sinh ra để bị hủy mà là để đem lại cho các bên những lợi ích hợp pháp mà họ mong đợi. Bên nào có hành vi vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng dẫn đến hợp đồng bị hủy bỏ, thì ngoài việc phải bồi thường thiệt hại cho bên kia (dĩ nhiên là bên bị thiệt hại có nghĩa vụ phải chứng minh – nhưng không phải lúc nào cũng có thể chứng minh được), việc bắt buộc bên vi phạm phải chịu phạt vi phạm do có hành vi “sát thủ hợp đồng” là điều dễ hiểu và có thể chấp nhận được, đặc biệt là nếu xét về mặt xử lý vi phạm cần mang tính răn đe, để bên không ngay tình không thể viện dẫn lý do này lý do khác để vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng (thiết nghĩ, nếu không có thỏa thuận phạt vi phạm giữa các bên trong hợp đồng thì có thể áp dụng ngay mức phạt vi phạm 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm như qui định tại Điều 301 Luật Thương Mại để xử lý, áp dụng chế tài). Và trong tương lai, thiết nghĩ khi bắt tay rà soát sửa đổi Luật Thương Mại, các nhà lập pháp cũng nên “luật hóa” những thực tiễn xét xử tiến bộ - tạm gọi là “án lệ” này - để thực tiễn có đầy đủ cơ sở văn bản giải quyết vấn đề “hủy bỏ do có vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng” [8].

6. Vấn đề bình luận thứ tư: “Hủy bỏ hợp đồng” nhìn từ góc độ luật so sánh
Trong pháp luật nhiều nước trên thế giới, bên cạnh phần điều chỉnh hợp đồng thông dụng (phần riêng về hợp đồng) cho phép hủy bỏ hợp đồng, phần chung về hợp đồng còn chứa đựng những điều khoản qui định một cách bao quát những trường hợp cho phép hủy bỏ hay chấm dứt hợp đồng khi một bên có vi phạm, nhất là khi lợi ích hợp pháp hay phần lớn lợi ích hợp pháp mà bên bị vi phạm mong đợi khi giao kết không thể đạt được. Điều 1184 Bộ luật dân sự Pháp là một ví dụ [9] . Tương tự, trong Luật hợp đồng năm 1999 của Trung Quốc, tại Điều 94 (phần chung) cũng thấy có qui định cho phép một bên hủy bỏ, đình chỉ hợp đồng khi hợp đồng không thể thực hiện được do một bên không thực hiện nghĩa vụ chủ yếu mặc dù bên kia đã cho thêm một thời hạn để thực hiện; do chậm thực hiện hợp đồng hay mọi vi phạm khác làm cho mục đích của hợp đồng không thể thực hiện được.

7. Kết luận:
Trên đây là phần bình luận bản án của tác giả về vấn đề “Hủy bỏ hay tiếp tục thực hiện hợp đồng khi một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng”. Chúng tôi hoàn toàn đồng tình với quan điểm của PGS.TS. Đỗ Văn Đại được viết trong cuốn sách “Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng trong Pháp luật Việt Nam” . Xin được trích dẫn quan điểm hết sức tiến bộ này để thay cho lời kết: “Hợp đồng sinh ra không phải để bị triệt tiêu (vô hiệu, đơn phương chấm dứt hay hủy bỏ) mà là để được thực hiện nhằm đem lại cho các bên lợi ích hợp pháp mà họ mong đợi. Chính vì vậy, trước việc không thực hiện đúng hợp đồng, chúng ta cần ưu tiên nghiên cứu và sử dụng những biện pháp cho phép hợp đồng được thực hiện đầy đủ để đem lại cho các bên lợi ích hợp pháp mà họ mong đợi như buộc tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng; những biện pháp làm triệt tiêu hợp đồng sẽ được nghiên cứu, và chỉ nên được sử dụng, như biện pháp cuối cùng”./.



[1]: TS.ĐỖ VĂN ĐẠI, Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án, Tập 2 - Tái bản lần thứ 3, Nxb Chính trị Quốc gia, 2011, tr.152 và tiếp theo.
[2]: TS.ĐỖ VĂN ĐẠI, Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án, Tập 2 - Tái bản lần thứ 3, Nxb Chính trị Quốc gia, 2011, tr.356 và tiếp theo.
[3]: Căn cứ để bên bị vi phạm tuyên bố hủy bỏ hợp đồng được quy định tại Khoản 4 Điều 312 Luật Thương Mại: chỉ được phép đơn phương tuyên bố hủy hợp đồng khi thuộc một trong hai trường hợp sau: a) Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để hủy bỏ hợp đồng; b) Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng.
[4]: Trong Bản án số 27/2011/KDTM-PT ngày 10/03/2011 của Tòa phúc thẩm, TANDTC tại Đà Nẵng, Tòa đã tuyên “… trong hợp đồng mua bán hàng hóa, thời hạn giao hàng là một điều khoản cơ bản của hợp đồng mà các bên phải cam kết thực hiện. Nhưng do Bên A không thực hiện đúng nghĩa vụ giao tàu theo thời hạn đã ký kết nên Bên B có quyền hủy bỏ hợp đồng theo quy định tại Điểm b, Khoản 4, Điều 312 Luật Thương Mại… Vì bị hủy bỏ hợp đồng nên Bên A phải thanh toán lại toàn bộ các khoản tiền đã nhận… Do Bên A không thực hiện đúng hợp đồng (giao hàng chậm) nên còn phải bị phạt theo qui định mà các bên đã thỏa thuận…”.
[5]: Trang 8, Bản án số 06/2010/KDTM-PT ngày 24/11/2010
[6]: Trang 2 và 3, Bản án số 27/2011/KDTM-PT ngày 10/03/2011
[7]: Trong bản án thứ hai, nội dung hợp đồng đóng mới tàu biển số 104/07/HĐ-ĐMTB-ĐN ngày 26/09/2007 giữa Công ty cho thuê tài chính II – Agribank và Công ty TNHH Một thành viên đóng tài Đà Nẵng ta thấy thực chất không hề có thỏa thuận phạt vi phạm mà đó chỉ là thỏa thuận “tiền lãi phạt hợp đồng” qui định tại khoản 1 điều 5 hợp đồng. Phải chăng trường hợp này Tòa án đã có sự nhầm lẫn giữa yêu cầu “tính tiền lãi” với yêu cầu “phạt vi phạm”?; Bởi, ngay từ đầu ta thấy ngoài việc đòi lại số tiền đã chuyển trả là 25.600.000.000 đồng, Nguyên đơn chỉ yêu cầu “tính tiền lãi phạt hợp đồng là 14.448.000.000 đồng tính từ ngày 31/03/2008 đến ngày 20/09/2010” chứ không đặt vấn đề gì về việc “phạt vi phạm” (thực tế, do nhận định số tiền này là “tiền phạt vi phạm” nên tòa Sơ thẩm đã áp dụng mức phạt 8% theo quy định của Luật thương mại và chấp nhận số tiền lãi tính từ ngày 31/03/2008 đến ngày 20/09/2010 tính trên số tiền 25.600.000.000 đồng là 2.048.000.000 đồng). Về vấn đề nhầm lẫn giữa “yêu cầu trả lãi” và “phạt vi phạm”, xem thêm bài viết “Phán quyết trọng tài không đúng có bị hủy?” đăng tại website http://luathoc5c.net/viewtopic.php?t=1256
[8] : Xem bài tham luận của PGS.TS.ĐỖ VĂN ĐẠI, “Hướng tới sự thống nhất pháp luật về xử lý vi phạm hợp đồng ở Việt Nam” tại hội thảo “Hoàn thiện các báo cáo rà soát Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư, Luật thương mại” do VCCI phối hợp với Văn phòng Chính phủ tổ chức tại Tp.HCM ngày 24/08/2011.
[9] : TS.ĐỖ VĂN ĐẠI, Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án, Tập 2 - Tái bản lần thứ 3, Nxb Chính trị Quốc gia, 2011, tr.374 và tiếp theo.
 

Kiện đòi nhà đóng án phí như thế nào?


Trong một vụ án, đương sự có thể phải đóng án phí từ 200.000 đồng đến vài trăm triệu đồng tùy thuộc vào việc tòa xác định vụ án có giá ngạch hay không.

Hiện nay giữa các tòa án địa phương đang có sự không thống nhất khi tính án phí dân sự sơ thẩm trong các vụ kiện đòi lại nhà: Tòa này tính án phí theo vụ án không có giá ngạch, tòa kia lại tính theo vụ án có giá ngạch dẫn tới sự chênh lệch rất lớn trong khoản tiền bên thua kiện phải nộp.
Tháng 2-2010, bà TTM mua một căn nhà của ông NVK tại TP Nha Trang (Khánh Hòa) với giá 2 tỉ đồng. Bà M. đã làm thủ tục sang tên và được UBND TP Nha Trang cấp giấy hồng.
Mỗi tòa tính một kiểu
Do thời điểm chuyển nhượng đã gần tết nên ông K. đề nghị bà M. cho ở nhờ một thời gian, khi nào bà M. cần thì ông sẽ chuyển đi nơi khác và trả lại nhà. Tuy nhiên, đến khi bà M. yêu cầu dọn đi thì ông K. không chịu. Không còn cách nào khác, bà M. đành nộp đơn khởi kiện lên TAND TP Nha Trang để đòi lại nhà.
Xác định đây là vụ kiện đòi tài sản thuộc trường hợp không có giá ngạch, tòa yêu cầu bà M. đóng tạm ứng án phí 200.000 đồng. Gần đây, TAND TP Nha Trang đã đưa vụ kiện xử, chấp nhận yêu cầu của bà M., buộc ông K. phải trả lại căn nhà. Về án phí, tòa buộc ông K. phải chịu nộp 200.000 đồng.
Trái ngược với vụ án trên, có tòa lại xác định một vụ kiện đòi nhà tương tự là vụ kiện có giá ngạch và tính án phí theo tỉ lệ % giá trị tài sản tranh chấp.
Cụ thể, bà TM (Việt kiều Canada) mua lại nhà của gia đình bà TTL. Giao dịch đã hoàn thành nhưng gia đình bà L. không chịu giao nhà nên bị bà M. khởi kiện ra TAND tỉnh Khánh Hòa. Thụ lý, TAND tỉnh Khánh Hòa tiến hành trưng cầu giám định và xác định giá trị của căn nhà là hơn 16 tỉ đồng. Ngày 16-11, tòa đưa vụ án ra xét xử, tuyên buộc bà L. phải giao trả nhà cho bà TM. Về án phí, tòa xác định đây là vụ kiện dân sự thuộc trường hợp có giá ngạch nên buộc các đồng bị đơn phải nộp hơn 120 triệu đồng.
Xác định sao mới đúng?
Theo Pháp lệnh số 10 ngày 27-2-2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án dân sự không có giá ngạch là 200.000 đồng. Còn án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án dân sự có giá ngạch thấp nhất là 200.000 đồng (tài sản tranh chấp từ 4 triệu đồng trở xuống), cao nhất là 112 triệu đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 4 tỉ đồng (tài sản tranh chấp từ trên 4 tỉ đồng).
Pháp lệnh cũng giải thích rõ vụ án dân sự không có giá ngạch là vụ án mà yêu cầu của đương sự không phải là tiền hoặc không xác định được giá trị bằng tiền. Còn vụ án dân sự có giá ngạch là vụ án mà trong đó yêu cầu của đương sự là một số tiền hoặc tài sản có thể xác định được bằng một số tiền cụ thể.
Theo luật sư Nguyễn Hồng Hà (Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh Khánh Hòa), các tranh chấp đòi lại nhà cho ở nhờ, cho mượn, cho thuê là vụ án dân sự không có giá ngạch vì các đương sự căn cứ vào Điều 256 BLDS về quyền đòi tài sản để khởi kiện. Ở đây, đương sự không hề tranh chấp quyền sở hữu nhà, chỉ đòi lại tài sản của mình đang bị người khác chiếm giữ, sử dụng bất hợp pháp mà thôi.
TS Nguyễn Văn Tiến (giảng viên ĐH Luật TP.HCM) cũng đồng tình với quan điểm này. Theo ông, trước tình hình một số cơ quan tố tụng, trong đó có tòa án vẫn chưa thống nhất về cách tính án phí như hiện nay, các cơ quan có thẩm quyền cần có hướng dẫn chính thức cũng như tập huấn nghiệp vụ cho các cán bộ tố tụng.
Tòa, viện bất đồng
Tháng 2-2010, ông H. mua một ngôi nhà ba tầng cùng mảnh đất rộng 65 m2 của bà B. tại xã Văn Lộc, Hậu Lộc (Thanh Hóa) với giá 600 triệu đồng, đã trả đủ tiền, được UBND xã Văn Lộc chứng thực. Do chưa có nhu cầu vào ở ngay, ông H. cho bà B. mượn nhà để ở tạm, thỏa thuận khi nào cần sẽ lấy lại. Sau đó, khi ông cần nhà thì bà B. không chịu giao, buộc lòng ông phải khởi kiện.
Xác định vụ kiện thuộc trường hợp không có giá ngạch, TAND huyện Hậu Lộc đã yêu cầu ông H. đóng 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí. Ngày 15-6, tòa xử sơ thẩm, tuyên buộc bà B. phải trả lại nhà đất tranh chấp cho ông H. Ngoài ra, bà B. còn phải đóng 200.000 đồng án phí.
Bản án trên đã bị VKSND tỉnh Thanh Hóa kháng nghị, cho rằng tòa sơ thẩm xác định sai mức án phí mà bà B. phải đóng. Theo VKS, đây là một vụ án dân sự có giá ngạch, tài sản tranh chấp trị giá 600 triệu đồng nên án phí dân sự sơ thẩm phải là 28 triệu đồng (20 triệu đồng + 4% của phần giá trị tài sản tranh chấp vượt quá 400 triệu đồng).
Không giá ngạch
Căn cứ vào quy định của Pháp lệnh số 10 thì kiện đòi tài sản là vụ án dân sự không có giá ngạch. Nếu là vụ kiện tranh chấp về quyền sở hữu tài sản thì đó mới là vụ kiện dân sự có giá ngạch.

Tính sai gây nhiều hậu quả
Trước đây, Nghị định số 70/1997 (về án phí, lệ phí tòa án) không hướng dẫn cụ thể thế nào là vụ án dân sự có giá ngạch, vụ án dân sự không có giá ngạch. Pháp lệnh số 10 ngày 27-2-2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thay thế Nghị định 70 đã quy định cụ thể vấn đề trên. Tuy nhiên, nhiều nơi vẫn chưa có sự thống nhất trong cách hiểu trường hợp nào là có giá ngạch, trường hợp nào không.
Theo quy định, những vụ án dân sự không có giá ngạch là “vụ án mà trong đó yêu cầu của đương sự không phải là một số tiền hoặc không thể xác định được giá trị bằng một số tiền cụ thể”. Như vậy, có thể hiểu nếu đương sự khởi kiện mà yêu cầu của họ là đòi lại tài sản vốn thuộc quyền sở hữu, quản lý hợp pháp đang bị người khác sử dụng, chiếm giữ bất hợp pháp thì đó là vụ án dân sự không có giá ngạch.
Theo tôi, TAND Tối cao cần có văn bản hướng dẫn cụ thể và tập huấn cho đội ngũ những người làm công tác xét xử để tránh sự sai sót khi xác định án phí của từng vụ án. Bởi lẽ nếu sai sót trong việc xác định án phí thì chẳng những quyền lợi chính đáng của đương sự bị xâm hại, pháp luật bị vận dụng sai mà nhiều khi còn làm thất thu tiền cho ngân sách.

Thứ Sáu, 4 tháng 1, 2013

VỀ CHẾ ĐỊNH “MIỄN TRỪ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ TRONG HỢP ĐỒNG”

Miễn trừ trách nhiệm dân sự trong hợp đồng là việc người có quyền trong hợp đồng dân sự cho phép bên chủ thể vi phạm nghĩa vụ gây thiệt hại không bị áp dụng một phần hoặc toàn bộ các chế tài nhằm khôi phục tình trạng ban đầu về tài sản và nhân thân cho bên chủ thể bị vi phạm.
 
Bản chất của miễn trừ trách nhiệm dân sự là việc bên chủ thể vi phạm nghĩa vụ đáng lẽ phải gánh chịu toàn bộ và đầy đủ trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bên bị vi phạm, tuy nhiên, vì thiệt hại xảy ra trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định mà bên vi phạm nghĩa vụ được miễn trừ toàn bộ hoặc một phần trách nhiệm bồi thường thiệt hại đó. Đây là một trong những vấn đề có ý nghĩa quan trọng của pháp luật dân sự, không chỉ bảo đảm quyền lợi của các bên giao kết hợp đồng, bảo đảm sự tự nguyện thỏa thuận của các bên mà còn là yếu tố hạn chế việc một bên lợi dụng quy định về miễn trừ trách nhiệm để trốn tránh trách nhiệm dân sự. Tuy nhiên, vấn đề này chưa được pháp luật dân sự quy định cụ thể và toàn diện dẫn tới việc áp dụng trong thực tế còn gặp nhiều khó khăn và thiếu thống nhất. Do vậy, trong quá trình nghiên cứu xây dựng dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật dân sự 2005, chúng tôi cho rằng cần nghiên cứu một số nội dung liên quan đến chế định này như sau:

1. Về các trường hợp miễn trừ trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng:
Thứ nhất, theo các quy định tại khoản 2, 3 Điều 302, khoản 6 Điều 402 Bộ luật dân sự 2005 thì có 03 trường hợp được miễn trừ trách nhiệm dân sự trong hợp đồng bao gồm: Sự kiện bất khả kháng, thiệt hại xảy ra là hoàn toàn do lỗi của bên bị vi phạm vàthỏa thuận của các bên chủ thể trong hợp đồng. Trong khi đó, khoản 1 Điều 294 Luật Thương mại 2005 lại quy định 04 căn cứ miễn trừ trách nhiệm dân sự trong hợp đồng, bao gồm: Thỏa thuận của các chủ thể trong hợp đồng, sự kiện bất khả kháng, hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia và hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng. Như vậy, giữa quy định của Bộ luật dân sự – bộ luật gốc, với quy định của Luật Thương mại liên quan tới vấn đề miễn trừ trách nhiệm dân sự trong hợp đồng có sự không thống nhất với nhau.
Thứ hai, Bộ luật dân sự 2005 chỉ quy định 03 căn cứ miễn trừ trách nhiệm dân sự trong hợp đồng đã nêu ở trên là chỉ mới quy định về các trường hợp miễn trừ toàn bộ trách nhiệm dân sự trong hợp đồng mà chưa có các quy định về các trường hợp miễn trừ một phần trách nhiệm dân sự trong hợp đồng. Đó là các trường hợp: bên vi phạm và bên bị vi phạm đều có lỗi gây thiệt hại; hai bên chủ thể trong hợp đồng có thỏa thuận về việc miễn trừ một phần trách nhiệm dân sự.
Thứ ba, tại khoản 3 Điều 302 Bộ luật dân sự 2005 cũng quy định một trường hợp được miễn trừ trách nhiệm dân sự là “bên có nghĩa vụ chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền”. Việc lỗi hoàn toàn do bên có quyền cũng đồng nghĩa với bên có nghĩa vụ không có lỗi. Do đó, việc bên có nghĩa vụ chứng minh lỗi hoàn toàn thuộc về bên có quyền suy cho cùng chỉ là một biện pháp nhằm chứng minh bên có nghĩa vụ không có lỗi. Vì vậy, bất kể lỗi hoàn toàn do bên có quyền hay do người thứ ba hoặc không bên nào có lỗi thì bên có nghĩa vụ cũng không phải chịu trách nhiệm dân sự. Pháp luật dân sự quy định như vậy là chưa bao quát được hết các trường hợp miễn trừ trách nhiệm dân sự khi bên có nghĩa vụ không có lỗi. Chúng tôi cho rằng nên sửa đổi căn cứ “bên có nghĩa vụ chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền” theo hướng “bên có nghĩa vụ chứng minh được mình  không có lỗi trong việc nghĩa vụ không thực hiện được”.
2. Về vấn đề thỏa thuận miễn trừ trách nhiệm dân sự trong hợp đồng:
Pháp luật dân sự quy định thỏa thuận của các bên trong hợp đồng cũng là căn cứ để miễn trách nhiệm dân sự của bên vi phạm nghĩa vụ. Tuy nhiên, để đảm bảo sự tôn trọng của các bên trong hợp đồng, vừa hạn chế được việc bên có lợi thế hơn trong giao kết hợp đồng lợi dụng căn cứ này để trốn tránh trách nhiệm dân sựthì cần phải đánh giá tính hợp lý của thỏa thuận đó. Do đó, một thỏa thuận về căn cứ miễn trừ trách nhiệm dân sự trong hợp đồng chỉ có giá trị pháp lý nếu như hành vi vi phạm hợp đồng không phải do lỗi cố ý.Bởi, nếu hành vi vi phạm là do lỗi cố ý thì sự vi phạm đó được coi là một vi phạm nặng và điều khoản về miễn trừ trách nhiệm theo thỏa thuận trong hợp đồng sẽ bị vô hiệu.Điều này cũng phù hợp với pháp luật một số nước trên thế giới, ví dụ như: án lệ Pháp cho phép các bên trong quan hệ dân sự có những thỏa thuận về miễn trừ trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp bên giao kết phạm lỗi cố ý hoặc vô ý nghiêm trọng thì thỏa thuận đó không có giá trị pháp lý. Tại khoản 4, Điều 401 Bộ luật dân sự Cộng hòa liên bang Nga cũng quy định về việc thỏa thuận trước về hạn chế hay miễn trừ trách nhiệm dân sự, và trong trường hợp bên vi phạm có lỗi cố ý thì thỏa thuận đó không có giá trị pháp lý,…  

3. Về trường hợp miễn trừ trách nhiệm dân sự do sự kiện bất khả kháng:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 161 Bộ luật dân sự thì “Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép”. Tuy nhiên nội dung này lại được quy định trong phần “Thời hiệu”, là căn cứ để xác định “…chủ thể có quyền khởi kiện, quyền yêu cầu không thể khởi kiện, yêu cầu trong phạm vi thời hiệu” chứ không thấy đề cập đến trong phần “Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự”. Điều này dẫn tới việc nhận thức không thống nhất trong việc áp dụng pháp luật giải quyết các vụ án liên quan, gây thiệt hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ dân sự.
Do đó, để được miễn trách nhiệm dân sự trong hợp đồng, pháp luật dân sự cần phải có quy định cụ thể, chặt chẽ về những điều kiện để áp dụng “sự kiện bất khả kháng” khi giải quyết tranh chấp hợp đồng. Những điều kiện đó là:
a)Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan, không thể dự liệu trước được và nằm ngoài ý chí của các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng. Đó có thể là các hiện tượng do thiên nhiên gây ra (thiên tai) như lũ lụt, hỏa hoạn, động đất, sóng thần,… cũng có thể là các hiện tượng xã hội như chiến tranh, bạo loạn, đảo chính, đình công, cấm vận, thay đổi chính sách chính phủ,… Ngoài ra, trong thực tiễn, các bên tham gia giao kết hợp đồng còn có thể đưa ra những sự kiện khác là những sự kiện bất khả kháng làm căn cứ để miễn trách nhiệm dân sự (hoặc kéo dài thời hạn thực hiện hợp đồng) như: thiếu nguyên liệu, mất điện, lỗi mạng vi tính, bên cung cấp chậm trễ giao hàng,… Những sự kiện này, về mặt lý luận thì không được coi là sự kiện bất khả kháng nếu các bên không có thỏa thuận; trong trường hợp các bên có thỏa thuận thì pháp luật ghi nhận và tôn trọng các thỏa thuận đó.
b)Sự kiện bất khả kháng phải xảy ra sau khi các bên giao kết hợp đồng;
c)Sự kiện bất khả kháng và hành vi vi phạm hợp đồng phải có mối quan hệ nhân quả. Trong đó, sự kiện bất khả kháng là nguyên nhân, còn hành vi vi phạm là kết quả. Bên vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng phải chứng minh được sự kiện bất khả kháng là nguyên nhân trực tiếp của việc vi phạm hợp đồng. Nếu không chứng minh được thì bên vi phạm nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm dân sự. Nghĩa vụ chứng minh của bên vi phạm hợp đồng nhằm bảo đảm lợi ích cho bên có quyền, tránh trường hợp bên có nghĩa vụ lợi dụng sự kiện bất khả kháng để thực hiện hành vi vi phạm hợp đồng, gây thiệt hại cho bên có quyền.
d)Các bên trong quan hệ hợp đồng đã dùng hết khả năng để khắc phục hậu quả nhưng không thể khắc phục được. Hợp đồng được giao kết bởi lợi ích mà các bên hướng tới, để bảo đảm cho lợi ích đó, các bên phải tận tâm, thiện chí thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Nếu bên có nghĩa vụ có khả năng khắc phục, hạn chế thiệt hại xảy ra mà lại không thực hiện, để mặc cho hậu quả xảy ra thì cho dù có sự kiện bất khả kháng, bên vi phạm hợp đồng cũng không được miễn trừ trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng. Để được miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng vì sự kiện bất khả kháng, bên vi phạm hợp đồng phải chứng minh được mình đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng sẵn có để khắc phục hậu quả xảy ra mà vẫn không thể khắc phục được và do việc không khắc phục được đó mà dẫn đến vi phạm hợp đồng. Quy định này nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của bên có nghĩa vụ trong việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng.
e) Các bên tham gia giao kết hợp đồng không có thỏa thuận khác trong hợp đồng. Tự do, bình đẳng, thỏa thuận là những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, do đó, thỏa thuận của các bên chủ thể trong hợp đồng không trái với pháp luật, đạo đức xã hội luôn được Nhà nước tôn trọng. Chính vì vậy, nếu các bên có thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng phải chịu trách nhiệm dân sự kể cả trong trường hợp sự kiện bất khả kháng thì bên vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng không được miễn trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng
Thêm nữa, nếu khi ký kết hợp đồng, các bên đã tiên liệu trước các sự kiện bất khả kháng sẽ xảy ra thì khi bên có nghĩa vụ vi phạm hợp đồng do sự kiện bất khả kháng đó cũng sẽkhông được miễn trừ trách nhiệm dân sự. Bởi nếu đã biết trước sự kiện bất khả kháng sẽ xảy ra mà vẫn giao kết hợp đồng nghĩa là các bên đã có biện pháp bảo đảm cho hợp đồng được thực hiện hoặc là bên có nghĩa vụ chấp nhận rủi ro.
Ngoài ra, cần phải có quy định cụ thể về việc bên vi phạm có nghĩa vụ phải thông báo cho bên bị vi phạm hợp đồng biết về sự kiện bất khả kháng. Việc thông báo về sự kiện bất khả kháng cho bên bị vi phạm cũng đã là một trong những căn cứ để chứng minh bên vi phạm thực sự gặp phải sự kiện bất khả kháng đó.

4. Về trường hợp cả hai bên chủ thể hợp đồng cùng có lỗi:
Bộ luật dân sự 2005 không có quy định về trường hợp thiệt hại xẩy ra do lỗi của cả hai bên, do đó thiếu cơ sở pháp lý khi giải quyết tranh chấp, trong khi đây là trường hợp khá phổ biến trong thực tiễn xét xử các vụ án tranh chấp do vi phạm hợp đồng. Khi gặp các trường hợp này, Tòa án sẽ xem xét cụ thể mức độ lỗi của các bên vi phạm nghĩa vụ để quyết định mức độ bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, Bộ luật dân sự 2005 cũng chỉ quy định lỗi cố ý và lỗi vô ý (Điều 308) mà chưa có quy định cụ thể về các hình thức lỗi (cố ý trực tiếp hay cố ý gián tiếp; vô ý vì cẩu thả hay vô ý vì quá tự tin). Các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật dân sự cũng không đề cập đến nội dung này, cũng không đưa ra các tiêu chí để xác định mức độ lỗi. Do đó, việc xem xét mức độ bồi thường thiệt hại hay mức giảm bồi thường thiệt hại sẽ phụ thuộc vào ý chí chủ quan của Tòa án hoặc các cơ quan tài phán khác. 
Để giải quyết các vướng mắc nêu trên về chế định miễn trừ trách nhiệm dân sự trong hợp đồng, Bộ luật dân sự sửa đổi tới đây nên quy định cụ thể vấn đề miễn trừ trách nhiệm dân sự trong hợp đồng và sự kiện bất khả kháng thành những điều luật riêng theo hướng thống nhất các quy định của các văn bản pháp luật hiện hành về vấn đề này. Theo chúng tôi, những điều luật có thể được quy định như sau:
“Điều… Các trường hợpmiễn trừ trách nhiệm dân sự trong hợp đồng .
1. Các trường hợp miễn trừ một phần trách nhiệm dân sự:
- Các bên có thỏa thuận trong hợp đồng;
- Cả hai bên chủ thể hợp đồng cùng có lỗi.
2. Các trường hợp miễn trừ toàn bộ trách nhiệm dân sự:
- Các bên có thỏa thuận trong hợp đồng;
- Sự kiện bất khả kháng;
- Bên vi phạm nghĩa vụ không có lỗi;
- Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng.
3. Thỏa thuận giữa các bên chủ thể giao kết hợp đồng về miễn trừ trách nhiệm dân sự trong hợp đồng chỉ có giá trị pháp lý nếu như hành vi vi phạm hợp đồng không phải do lỗi cố ý.
4. Trường hợp cả hai bên cùng có lỗi thì mỗi bên phải chịu trách nhiệm dân sự tương ứng với mức độ thiệt hại do lỗi của mình gây ra.”
và
“Điều…: Sự kiện bất khả kháng”[1]
1. Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.
2. Sự kiện bất khả kháng được coi là căn cứ miễn trừ trách nhiệm dân sự trong hợp đồng khi có đủ các điều kiện: Xảy ra một cách khách quan, không thể dự liệu trước được và nằm ngoài ý chí của các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng; xảy ra sau khi các bên giao kết hợp đồng; sự kiện bất khả kháng và hành vi vi phạm hợp đồng phải có mối quan hệ nhân quả; các bên trong quan hệ hợp đồng đã dùng hết khả năng để khắc phục hậu quả nhưng không thể khắc phục được và các bên tham gia giao kết hợp đồng không có thỏa thuận khác trong hợp đồng.
Khi xảy ra sự kiện bất khả kháng, bên có nghĩa vụ phải kịp thời thông báo cho bên có quyền trong hợp đồng dân sự.”

[1] Chuyển khái niệm về sự kiện bất khả kháng quy định tại khoản 1 Điều 161 BLDS 2005 về khoản 1 của Điều luật

Nguồn: CÔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ LIÊN ĐOÀN LUẬT SƯ VIỆT NAM

Thứ Ba, 27 tháng 11, 2012

Hướng dẫn khởi kiện tranh chấp kinh tế - thương mại


I. Trình tự thủ tục 
- Người khởi kiện nộp Đơn khởi kiện (theo mẫu hướng dẫn) tại Tòa án có thẩm quyền giải quyết.
- Tòa án thụ lý đơn, xem xét đúng thẩm quyền, đúng quy định pháp luật ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí gửi người khởi kiện. Người khởi kiện nộp án phí tại Cơ quan thi hành án và nộp biên lai nộp tiền tạm ứng án phí lại cho Tòa án. Tòa án thụ lý vụ án và ra thông báo thụ lý vụ án và vụ án chính thức được Tòa án giải quyết.

II. Hồ sơ khởi kiện
- Đơn khởi kiện (theo mẫu hướng dẫn);
- Hợp đồng kinh tế hoặc văn bản, tài liệu giao dịch có giá trị như hợp đồng kinh tế;
- Biên bản bổ sung, phụ lục, phụ kiện hợp đồng (nếu có);
- Tài liệu về bảo đảm thực hiện hợp đồng như: cầm cố, thế chấp, tài sản (nếu có);
- Tài liệu về việc thực hiện hợp đồng như giao nhận hàng, các biên bản nghiệm thu, các chứng từ thanh toán, biên bản thanh lý hợp đồng, các biên bản làm việc về công nợ tồn đọng; 
- Tài liệu về tư cách pháp lý của người khởi kiện, của các đương sự và người có liên quan khác như: giấy phép, quyết định thành lập doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; điều lệ hoạt động, quyết định bổ nhiệm hoặc cử người đại diện doanh nghiệp;
- Các tài liệu giao dịch khác (nếu thấy cần thiết); 
- Bản kê các tài liệu nộp kèm theo đơn kiện (ghi rõ số bản chính, bản sao).
Lưu ý: 
• Bản sao là bản sao chứng thực tại UBND cấp phường/xã.
• Các tài liệu nêu trên là văn bản, tài liệu tiếng nước ngoài đều phải được dịch sang tiếng Việt Nam do cơ quan, tổ chức có chức năng dịch thuật, kèm theo bản gốc. 

III. Thẩm quyền giải quyết
- Tòa án nhân dân có thẩm quyền nhận đơn khởi kiện giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các tranh chấp kinh tế - kinh doanh thương mại nơi bị đơn cư trú, làm việc (bị đơn là cá nhân) hoặc bị đơn có trụ sở (bị đơn là cơ quan tổ chức).
- Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Toà án nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp.
- Nguyên đơn được lựa chọn nộp đơn khởi kiện tại Tòa án, nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết;
b) Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết;
c) Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết;
d) Nếu tranh chấp về bồi th¬ờng thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết;
đ) Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết;
h) Nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;
i) Nếu tranh chấp bất động sản mà bất động sản có ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi có một trong các bất động sản giải quyết.

IV. Thời hiệu khởi kiện
- Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Thời hiệu khởi kiện các tranh chấp thương mại là 02 năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, trừ trường hợp sau khi bị khiếu nại, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không nhận được thông báo về việc bị kiện tại Trọng tài hoặc Tòa án trong thời hạn 09 tháng kể từ ngày giao hàng.
- Đối với vụ tranh chấp mà trong văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thời hiệu khởi kiện thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật đó như: Bộ luật hàng hải Việt Nam, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật giao thông đường thủy nội địa, Luật hàng không dân dụng Việt Nam, Luật các công cụ chuyển nhượng, …

V. Án phí
1/ Án phí kinh tế bao gồm án phí kinh tế sơ thẩm và án phí kinh tế phúc thẩm.
2/ Mức án phí kinh tế sơ thẩm đối với các vụ án kinh tế không có giá ngạch là 2.000.000 đồng.
3/ Mức án phí kinh tế sơ thẩm đối với các vụ án kinh tế có giá ngạch được quy định như sau:
Giá trị tranh chấpMức án phí
a) từ 40.000.000 đồng trở xuống2.000.000 đồng
b) Từ trên 40.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng5% của giá trị tranh chấp
c) Từ trên 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng20.000.000 đồng+ 4% của phần giá trị tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng
d) Từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tranh chấp vượt quá 800.000.000 đồng
đ) Từ trên 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tranh chấp vượt quá 2.000.000.000 đồng
e) Từ trên 4.000.000.000 đồng112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tranh chấp vượt quá 4.000.000.000 đồng.
Tiền tạm ứng án phí sơ thẩm
Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có liên quan, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong các vụ án kinh tế phải nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo thông báo của Toà án với mức tạm ứng là 50% theo quy định trên, trừ trường hợp được miễn tiền tạm ứng án phí, miễn nộp án phí.

VI. Thời gian giải quyết
Thời hạn chuẩn bị xét xử: từ 2 đến 3 tháng kể từ ngày Tòa án thụ lý
Thời hạn mở phiên tòa: từ 1 đến 2 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử
Liên hệ để được tư vấn về thủ tục khởi kiện

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ MINH LONG
Địa chỉ: số 078 phố Đốc Ngữ, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
Luật sư: Phan Khắc Nghiêm - 0988 505 572 - 0913 579 801
Email: minhlonglawfirm@gmail.com/ phannghiemlawyer@gmail.com