Thứ Năm, 25 tháng 4, 2013

Ngân hàng nào đang trong tầm ngắm M&A?


Stoxplus dự báo, cùng với xu hướng mua bán và sáp nhập đang diễn ra rầm rộ thời gian qua, số lượng các ngân hàng thương mại sẽ được giảm từ 39 hiện nay về 13-15 vào năm 2017.

Sẽ chỉ còn 13-15 ngân hàng

Báo cáo triển vọng M&A Việt Nam 2013 của Stoxplus nhận xét, khác với các năm trước đây, hoạt động M&A trong ngành ngân hàng chủ yếu là các thương vụ đầu tư cổ phần thiểu số bởi các tập đoàn tài chính nước ngoài.
Năm 2012 có lẽ là năm sôi động nhất về M&A trong ngành ngân hàng Việt Nam khi có tới hai thương vụ thâu tóm thù địch liên quan đến Sacombank (Eximbank và bầu Kiên) và Ngân hàng Phương Nam (gia đình ông Trầm Bê), hai thương vụ đầu tư chiến lược trong nước (DOJI vào Tiên Phong Bank và Viettel vào MB Bank), một thương vụ thâu tóm của Tập đoàn Thiên Thanh mua lại TrustBank và một thương vụ từ nước ngoài lớn nhất trong lịch sử M&A Việt Nam (BTMU vào Vietinbank).
Đầu năm 2013, sau một thời gian dài kín tiếng, mặc dù giao dịch đã được thực hiện một phần, PVFC cũng đã chính thức công bố sáp nhập với Ngân hàng Phương Tây.
Đầu tháng 3/2013, Chính phủ cũng đã đồng ý cho Ngân hàng Thương mại Sài gòn (SCB) được phép bán cổ phần cho cổ đông cá nhân nước ngoài.
Diễn biến sôi động của ngành ngân hàng xuất phát từ thực tế là có tới 9 trên tổng số 39 ngân hàng thương mại nằm trong diện kiểm soát đặc biệt bởi Ngân hàng Nhà nước do tỷ lệ nợ xấu quá lớn, có vấn đề về thanh khoản và cần phải được sáp nhập hoặc mua lại.
Hiện nay đã có 6 ngân hàng trong nhóm này thực hiện tái cấu trúc thành công bao gồm: 3 ngân hàng đã hợp nhất là Đệ Nhất, Tín Nghĩa và Sài Gòn; Habubank - đã sáp nhập vào SHB; TienPhongBank đã tự tái cơ cấu và ngân hàng Phương Tây sáp nhập vào PVFC. Tiến trình này nằm trong kế hoạch tái cấu trúc ngành ngân hàng với mục tiêu đến năm 2017 sẽ giảm số lượng ngân hàng thương mại về con số 13-15.
Stoxplus nhận định, M&A trong ngành ngân hàng dự báo sẽ vẫn sôi động trong các năm tiếp theo do nằm trong lộ trình tái cấu trúc ngành Ngân hàng Việt Nam. Số lượng các ngân hàng thương mại sẽ được giảm từ 39 hiện nay về 13-15 vào năm 2017.
Chính phủ cũng đã có tiền lệ cho phép nhà đầu tư nước ngoài sở hữu chi phối ngân hàng cổ phần và chắc chắn các ngân hàng nhỏ nhưng có năng lực nhất định về dịch vụ phi tín dụng truyền thông bao gồm tín dụng tiêu dùng, thẻ, thanh toán sẽ là tầm ngắm của nhiều định chế tài chính nước ngoài lớn từ Nhật, Úc và Canada – vốn chưa có sự hiện diện tại Việt Nam.

Triển vọng rõ ràng

Stoxplus tiết lộ, trong tổng số 39 ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay đã có 15 đơn vị đã có đối tác chiến lược cùng ngành. Hơn nữa, hiện vẫn còn 3 ngân hàng nằm trong diện cần được tiếp tục tính tới phương án sáp nhập hoặc chuyển nhượng cho đối tác nước ngoài cùng ngành.Do đó, Stoxplus cho rằng, hoạt động M&A trong ngành ngân hàng của Việt Nam sẽ tiếp tục diễn ra sôi động trong năm 2013 và các năm tiếp theo.
Hơn nữa, để đối tác nước ngoài có thể kiểm soát một ngân hàng trong nước, Chính phủ đã có chủ trương nâng hạn mức sở hữu nước ngoài trên 30% và thực tế đã có tiền lệ cho trường hợp của SCB. Do đó, các trường hợp khác cũng sẽ được thực hiện. Xét ở góc độ nhu cầu của các tập đoàn tài chính nước ngoài, nhu cầu để mua lại một ngân hàng ở Việt Nam là rõ ràng ví dụ như trường hợp của một số định chế tài chính lớn của Nhật, Úc, Canada, v.v.
Các định chế này đều có định hướng chiến lược không chỉ khai thác hoạt động tín dụng doanh nghiệp mà còn nhắm đến tín dụng cá nhân, tài chính tiêu dùng, hoạt động thẻ, v.v. vốn còn nhiều tiềm năng đối với Việt Nam. Các ngân hàng có năng lực nhất định về phi tín dụng truyền thống bao gồm tài chính tiêu dùng, hoạt động thẻ, thanh toán chắc chắn sẽ là tầm ngắm của các tập đoàn tài chính nước ngoài.
Năm 2012, thị trường mua bán và sáp nhập (M&A) Việt Nam suy giảm đáng kể so với năm 2011. Tổng quy mô thị trường đạt 4,9 tỷ USD với 157 thương vụ trong năm 2012 (năm 2011 là 267 thương vụ, tổng trị giá 6,3 tỷ USD).
(Theo Báo đầu tư)

Thứ Ba, 16 tháng 4, 2013

Muốn từ con: Không dễ!


Có nhiều trường hợp bất khả kháng cha mẹ phải từ bỏ quyền nuôi con, tuy nhiên hiện luật không quy định điều này nên tòa không thể thụ lý giải quyết.
Theo hồ sơ, do công việc làm ăn, anh T. thường xuyên qua Đức công tác. Tại đây, anh T. phát sinh tình cảm với chị H. và đến năm 2010, chị H. sinh một bé trai.
Tòa không giải quyết
Ít lâu sau, anh T. về nước, còn chị H. ở Đức một mình nuôi con. Nhiều lần trao đổi qua lại, anh H. đồng ý từ bỏ quyền nuôi con. Chị H. cũng không dây dưa thêm. Tuy nhiên, một mình nơi xứ người, chị không đủ sức nuôi con nên làm thủ tục cho con nhập tịch và xin trợ cấp của chính phủ Đức để trang trải cuộc sống hai mẹ con. Ngoài việc nộp các giấy tờ chứng minh hoàn cảnh thực tế, chính phủ Đức yêu cầu chị phải có quyết định của tòa án tại Việt Nam về việc anh T. từ chối nuôi con.
Trước yêu cầu này, chị về nước liên hệ với tòa án nơi anh T. sinh sống để làm thủ tục. Tuy nhiên, tòa đã từ chối vì không thuộc thẩm quyền giải quyết và pháp luật Việt Nam cũng không có quy định về vấn đề này.
Hoàn cảnh trên của chị H. hiện không phải là trường hợp cá biệt bởi thực trạng hiện nay cũng có rất nhiều trường hợp người làm cha, làm mẹ từ con từ khi mới sinh, đồng ý cho bên còn lại nuôi con. Tuy nhiên, tòa đã từ chối giải quyết như trường hợp của chị H. nêu trên.
Làm sao để bảo vệ quyền lợi trẻ?
Trao đổi về vấn đề này, luật sư Trần Hải Đức (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho biết Luật Hôn nhân và Gia đình hiện nay không có chế định từ con. Người làm cha, làm mẹ không thể từ chối nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con cái vì thế yêu cầu của chị H. tòa không thể thụ lý giải quyết.
Tuy nhiên, luật sư Đức cho biết thêm ở đây có sự xung đột pháp lý giữa nước ta với Đức. Luật nước Đức lại cho phép cha mẹ có thể từ con, từ chối nghĩa vụ nuôi con.
Luật gia Đặng Đình Thịnh (Giám đốc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Hội Luật gia Việt Nam) phân tích đây là vấn đề nan giải do có sự xung đột pháp lý giữa hai nước. Vì thế để gỡ vướng thì một trong hai hệ thống pháp luật phải có sự điều chỉnh.
Theo luật gia Thịnh, do đứa trẻ đang được nuôi dưỡng tại nước ngoài và cần chính sách hỗ trợ của nhà nước này nên chăng cần sự điều chỉnh pháp luật nước đó. Chị H. có thể liên lạc với nước sở tại hỏi lại thủ tục trong trường hợp không có quyết định của tòa án Việt Nam như yêu cầu thì có thể có cách khác không. Chẳng hạn như giấy xác nhận chị một mình nuôi con hoàn cảnh khó khăn... Trong trường hợp này, chị H. nên yêu cầu sự hỗ trợ của lãnh sự quán nước ta tại Đức. Còn việc điều chỉnh pháp luật nước ta cho vấn đề này e khó thực hiện. Bởi lẽ nếu sửa luật là cùng lúc phải sửa Luật Hôn nhân và Gia đình, luật dân sự và luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, về lâu dài nên chăng có việc điều chỉnh luật trong một phạm vi nhất định để giải quyết cho những trường hợp trẻ đang sinh sống ngoài lãnh thổ như con chị H.
Nên khởi kiện để linh hoạt xử lý
Một thẩm phán Tòa Dân sự TAND TP.HCM bàn thêm, tập quán và đạo lý nước ta cũng như pháp luật không cho phép việc từ chối nghĩa vụ nuôi dưỡng con. Trong trường hợp chị H. có thể linh hoạt bằng cách khởi kiện ra tòa yêu cầu anh T. cấp dưỡng nuôi con. Căn cứ vào lý do nào đó như anh T. đang mất khả năng lao động không có thể cấp dưỡng nuôi con tại thời điểm hiện tại.... tòa bác yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chứ tòa không thể ra quyết định khước từ quyền nuôi dưỡng con của người cha được.
Nên đẩy mạnh ký hiệp định tương trợ tư pháp
Hiện nước ta và Đức chưa có hiệp định tương trợ tư pháp nên linh động giải quyết những trường hợp như trên là bất khả kháng. Chúng ta nên đẩy mạnh việc ký hiệp định tương trợ tư pháp với nhiều nước nhằm bảo đảm quyền lợi cho công dân nước ta sinh sống tại nước ngoài.
Luật gia ĐẶNG ĐÌNH THỊNH, Giám đốc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Hội Luật gia Việt Nam
Cần điều chỉnh luật để bảo vệ trẻ nhỏ
Trong trường hợp này, chiếu theo Luật Hôn nhân và Gia đình thì VKS không thể kiến nghị tòa ra quyết định để đảm bảo quyền lợi cho trẻ nhỏ bởi mẹ bé là người đủ năng lực hành vi dân sự. Tuy nhiên, theo tôi về lâu dài cần chỉnh sửa luật sao cho bảo vệ quyền lợi của công dân nhỏ của chúng ta ở nước ngoài. Có thể là điều chỉnh Luật Hôn nhân và Gia đình hoặc Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao ra nghị quyết hướng dẫn giải quyết các trường hợp thực tế này.
Một kiểm sát viên cao cấp Viện Phúc thẩm III, VKSND Tối cao
NGUỒN:  TẠP CHÍ PHÁP LUẬT

Thứ Năm, 11 tháng 4, 2013

Xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thi hành án dân sự

Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp nói chung, trong hoạt động thi hành án dân sự nói riêng là một trong những chế định quan trọng của pháp luật nhằm đấu tranh phòng và chống các vi phạm hành chính, giữ vững an ninh, trật tự an toàn xã hội, góp phần đưa các bản án, quyết định có hiệu lực của Toàn án được thực thi trên thực tế, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Tuy nhiên, trên thực tế việc xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thi hành án dân sự vẫn chưa thực sự đi vào đời sống xã hội, chưa đáp ứng được mục tiêu đặt ra là răn đe, phòng ngừa vi phạm để từ đó nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước. Cho đến nay, số lượng chấp hành viên, Trưởng thi hành án của các địa phương thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động tư pháp chưa nhiều; cơ quan thanh tra chuyên ngành tư pháp còn rất ít khi thực hiện thẩm quyền đó. Thực tiễn, khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động thi hành án dân sự, một số người có thẩm quyền còn nhiều lúng túng khi vận dụng các quy định của pháp luật để xử phạt. Trong khi đó, ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận lớn những người phải thi hành án và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các hoạt động thi hành án dân sự còn chưa cao; tại nhiều địa  phương, đã để xảy ra tình trạng chống đối cơ quan thi hành án bằng nhiều hình thức từ những việc như cố tình không nhận giấy báo, giấy triệu tập của cơ quan thi hành án ... đến những hành vi nghiêm trọng hơn như phân tán hoặc làm hư hỏng tài sản thuộc diện kê biên để không thực hiện nghĩa vụ thi hành án, thậm chí là phá huỷ niêm niêm phong, huỷ hoại tài sản đã kê biên... Thực tế đó đã chứng tỏ vi phạm hành chính trong lĩnh vực này không những chưa giảm mà còn có xu hướng ngày càng nhiều hơn và phức tạp hơn.
Để góp phần đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn công tác thi hành án dân sự trên toàn quốc; đưa những quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thi hành án dân sự vào thực tiễn đời sống xã hội, chuyên đề này sẽ đưa ra, thảo luận và phân tích một số nội dung cơ bản của việc xử phạt hành chính trong hoạt động thi hành án dân sự như: cơ sở pháp lý, đối tượng xử phạt, nguyên tắc xử phạt, hành vi vi phạm hành chính và mức xử phạt, thẩm quyền xử phạt, thủ tục xử phạt cũng như cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực này.
1. Cơ sở pháp lý
Vào những năm đầu của thập kỷ 90, các quy định của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1995 và các văn bản pháp luật có liên quan mới chỉ dừng lại ở mức quy định có tính chất định hướng cho việc xử phạt vi phạm hành chính. Thời điểm đó, chưa có quy định chi tiết và hướng dẫn cụ thể để tiến hành xử phạt các vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp nói chung, trong hoạt động thi hành án dân sự nói riêng. Sau khi Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh) ra đời, thay thế Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1995, Nghị định số 134/2003/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh được ban hành và đặc biệt là Nghị định số 173/2004/NĐ-CP ngày 30 tháng 9 năm 2004 của Chính phủ quy định về thủ tục, cưỡng chế và xử phạt vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự (sau đây gọi tắt là Nghị định số 173/2004/NĐ-CP) cũng được ban hành. Đó chính là những cơ sở pháp lý cụ thể, chi tiết đầu tiên cho việc tiến hành xử phạt các hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động thi hành án dân sự. Sau đó, Nghị định số 76/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp (sau đây gọi tắt là Nghị định số 76/2006/NĐ-CP) được ban hành và có hiệu lực đã thay thế toàn bộ những quy định có liên quan tại Nghị định số 173/2004/NĐ-CP. Đây là văn bản tạo cơ sở pháp lý chi tiết, cụ thể nhất và trực tiếp nhất hiện nay cho việc tiến hành xử phạt các hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động thi hành án dân sự.
Ngoài ra, còn phải kể đến một loạt các văn bản quan trọng khác liên quan đến những quy định về xử phạt vi phạm hành chính như Luật Thanh tra năm 2004,  Nghị định số 74/2006/NĐ-CP quy định về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Tư pháp; Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 và các văn bản có liên quan khác.
 2. Đối tượng xử phạt
Theo quy định tại khoản 1, Điều 2 và Điều 7 Nghị định 76, đối tượng có thể bị xử phạt hành chính trong hoạt động thi hành án dân sự là rất rộng, bao gồm  các cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực THADS mà không phải là tội phạm. Tuy nhiên, không phải bất cứ hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực THADS của các cá nhân, tổ chức mà không phải là tội phạm đều là đối tượng bị xử phạt. Cần nhấn mạnh rằng hành vi vi phạm hành chính phải được pháp luật quy định. Cụ thể trong hoạt động thi hành án dân sự, chỉ có những hành vi được quy định từ khoản 1 đến hết khoản 3, Điều 7 của Nghị định số 76/2006/NĐ-CP mới bị xem xét, xử phạt theo quy định của pháp luật.
Đối với cá nhân, tổ chức nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì cũng bị xử phạt theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên có quy định khác thì thực hiện theo điều ước quốc tế đó.
Một điểm quan trọng, cần lưu ý nữa là những hành vi vi phạm chế độ công vụ của chấp hành viên, cán bộ thi hành án, thanh tra viên tư pháp và những cán bộ, công chức có liên quan khác trong khi thi hành nhiệm vụ được giao trong lĩnh vực thi hành án dân sự mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, chứ không bị xử phạt như các cá nhân, tổ chức đề cập ở trên.
3. Nguyên tắc xử phạt
Nguyên tắc 1,xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thi hành án dân sự trước hết phải tuân theo quy định tại khoản 1, Điều 3 của Pháp lệnh: "Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện kịp thời và phải bị đình chỉ ngay. Việc xử lý vi phạm hành chính phải được tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để; mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo quy định của pháp luật". Đây là quy định mang tính kế thừa của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1995, thể hiện sự nhất quán trong chính sách xử lý hành chính của Đảng và Nhà nước ta từ trước đến nay, đó là nguyên tắc chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh đối với mọi hành vi vi phạm hành chính, khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra. Theo đó, khi phát hiện vi phạm hành chính trong hoạt động thi hành án dân sự, công việc đầu tiên mà người có thẩm quyền xử phạt phải thực hiện là đình chỉ ngay hành vi vi phạm hành chính đó.
Việc xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thi hành án dân sự đồng thời cũng phải tuân theo các nguyên tắc quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 3 của Pháp lệnh và  được cụ thể hoá tại Điều 3 Nghị định số 134/2003/NĐ-CP.
Nguyên tắc 2,Cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định.
Đây là quy định tại khoản 1, Điều 3 Nghị định số 134/2003/NĐ-CP. Theo đó, cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính được quy định cụ thể trong các văn bản luật của Quốc hội, pháp lệnh của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và nghị định của Chính phủ. Các văn bản do Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ban hành để chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện xử lý vi phạm hành chính theo thẩm quyền không được quy định hành vi vi phạm hành chính và hình thức, mức xử phạt.
Nguyên tắc 3,một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt hành chính một lần (khoản 2, Điều 3 Nghị định số 134/2003/NĐ-CP). Nguyên tắc này đưa ra 03 trường hợp cụ thể sau đây:
- Một hành vi vi phạm đã được người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định xử phạt hoặc đã lập biên bản để xử phạt thì không được lập biên bản, ra quyết định xử phạt lần thứ hai đối với chính hành vi đó nữa. Trong trường hợp hành vi vi phạm vẫn tiếp tục được thực hiện mặc dù đã bị người có thẩm quyền xử phạt ra lệnh đình chỉ thì bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 8 Điều 9 của Pháp lệnh;
- Một hành vi vi phạm hành chính đã được người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định xử phạt thì không đồng thời áp dụng biện pháp xử lý hành chính khác quy định tại Điều 22 của Pháp lệnh đối với hành vi đó;
- Trong trường hợp hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm bị chuyển hồ sơ đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự mà trước đó đã có quyết định xử phạt vi phạm hành chính thì người đã quyết định xử phạt phải huỷ bỏ quyết định xử phạt; nếu chưa ra quyết định xử phạt thì không xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi đó.
Nguyên tắc 4,nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt về hành vi đó và người có thẩm quyền xử phạt căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân người vi phạm, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà ra quyết định xử phạt đối với từng người cùng thực hiện vi phạm hành chính (khoản 3, Điều 3 Nghị định số 134/2003/NĐ-CP).
Nguyên tắc 5,một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm theo quy định tại khoản 2 Điều 56 của Pháp lệnh (khoản 4, Điều 3 Nghị định số 134/2003/NĐ-CP).
4. Hành vi vi phạm và hình thức xử phạt
Hành vi vi phạm hành chính là hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước do cá nhân, tổ chức thực hiện và vi phạm này không phải là tội phạm, tức là chưa đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, trong đó yếu tố có tính chất quyết định là mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm hành chính. Tương tự như hành vi phạm tội, hành vi vi phạm hành chính cũng là hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước và thường là phạm vào các điều cấm của pháp luật, song tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của vi phạm hành chính thấp hơn tội phạm. Đồng thời như đã trình bày ở trên, một trong những nguyên tắc cơ bản của xử lý vi phạm hành chính là hành vi vi phạm hành chính phải được pháp luật quy định, nói cách khác hành vi nào không được pháp luật về vi phạm hành chính quy định thì không bị coi là vi phạm hành chính.
Trong hoạt động thi hành án dân sự, các hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt những hành vi vi phạm hành chính đó đã được quy định cụ thể tại Điều 7 của Nghị định số 76/2006/NĐ-CP. Theo quy định đó, hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động thi hành án dân sự không áp dụng hình thức xử phạt bổ sung mà chỉ áp dụng hình thức xử phạt chính, gồm hình thức phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền (thấp nhất là 50.000 đồng và cao nhất là 1.000.000 đồng) và biện pháp khắc phục hậu quả. Căn cứ vào tính chất nguy hiểm, phức tạp của các hành vi vi phạm, mức xử phạt tương ứng được chia thành 03 cấp độ như sau:
Thứ nhất,phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong hai hành vi sau đây:
- Người phải thi hành án cố tình không nhận giấy báo, giấy triệu tập của cơ quan thi hành án, quyết định của Toà án. Hiện nay, chưa có những quy định cụ thể của pháp luật hướng dẫn những hành vi nào được coi là "cố tình không nhận giấy báo, giấy triệu tập của cơ quan thi hành án, quyết định của Toà án", nhưng thực tiễn hành vi này diễn ra rất đa dạng và phức tạp, chỉ xin nêu ra đây một số ví dụ để chúng ta cùng tham khảo như: người phải thi hành án từ chối không nhận giấy báo, giấy triệu tập; tránh gặp người đưa giấy báo, giấy triệu tập; hoặc khi gặp chấp hành viên đến nhà đưa giấy báo, giấy triệu tập thi bỏ chạy; thậm chí có người còn xé giấy báo, giấy triệu tập ngay trước mặt chấp hành viên...;
- Hành vi thứ hai được quy định dành cho những người phải thi hành án mặc dù đã nhận giấy báo, giấy triệu tập đến lần thứ hai nhưng không đến địa điểm ghi trong giấy báo, giấy triệu tập để thực hiện việc thi hành án mà không có lý do chính đáng. Câu hỏi đặt ra là những lý do nào thi được coi là chính đáng, lý do nào thi không thể chấp nhận được? Theo chúng tôi, lý do chính đáng là những nguyên nhân khách quan, bất khả kháng đối với người phải thi hành án như trên đường đến địa điểm ghi trong giấy báo thì bị tai nạn giao thông, bị ốm không thể đi được (có giấy xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền) hoặc có đám hiếu, đám hỷ của người ruột thịt trong gia đình...
Thứ hai,phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong năm hành vi sau đây:
- Người phải thi hành án cố tình không thực hiện quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án hoặc bản án như biện pháp niêm phong, cấm dịch chuyển tài sản, kê biên tài sản...; hoặc người phải thi hành án không thực hiện quyết định phải thi hành ngay theo quyết định thi hành án;
- Người phải thi hành án không thực hiện công việc buộc phải làm như phải tháo dỡ công trình trên đất người khác hoặc không chấm dứt thực hiện công việc mà bản án, quyết định của Toà án tuyên không được chẳng hạn như trong bản án, quyết định của Toà án tuyên một người phải dừng ngay việc khai thác, sử dụng hay xây dựng công trình trên đất..., nhưng người đó đã không thực hiện....;
- Người phải thi hành án có điều kiện thi hành án nhưng không thực hiện nghĩa vụ thi hành án mà không có lý do chính đáng. Thực tiễn công tác thi hành án dân sự cho thấy có nhiều vụ việc người phải thi hành án cố ý không thi hành án và viện dẫn rất nhiều lý do khác nhau cho sự trì hoãn đó. Tuy nhiên, khi chấp hành viên đi xác minh thì lại thấy rằng người đó có đủ điều kiện thi hành và những lý do người đó đưa ra là hoàn toàn không chính đáng. Trong những trường hợp đó, cần thiết phải áp dụng xử phạt để đảm bảo sự tôn nghiêm của pháp luật;
- Người phải thi hành án không thực hiện yêu cầu của Chấp hành viên về việc giao các giấy tờ liên quan đến tài sản xử lý để thi hành án mà không có lý do chính đáng như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy đăng ký xe...;
- Hành vi vi phạm hành chính cuối cùng của người phải thi hành án được pháp luật quy định áp dụng mức phạt cảnh  cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng là người phải thi hành án không thực hiện đúng cam kết đã thoả thuận theo quyết định công nhận sự thoả thuận của Toà án.
Thứ ba,khác các hành vi vi phạm hành chính thuộc hai loại vừa nêu ra và phân tích ở trên là chỉ áp dụng đối với người phải thi hành án, loại cấp độ thứ ba này không áp dụng phạt cảnh cáo, mức tiền phạt cũng tăng lên đến từ 500.000 đồng đến 1.000.000; đặc biệt là đối tượng áp dụng được hiểu không chỉ còn là người phải thi hành án mà đã được mở rộng ra những đối tượng khác, có thể là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hay bất cứ cá nhân nào thực hiện những hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật như đã phân tích tại mục 2 (đối tượng xử phạt) của chuyên đề này. Các hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động thi hành án dân sự thuộc loại thứ ba bao gồm:
- Phân tán hoặc làm hư hỏng tài sản thuộc diện kê biên để không thực hiện nghĩa vụ thi hành án hoặc để trốn tránh việc kê biên tài sản để thi hành án;
- Sử dụng trái phép, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc thay đổi tình trạng tài sản đã kê biên;
- Phá huỷ niêm phong hoặc huỷ hoại tài sản đã kê biên;
- Không chấp hành quyết định của Chấp hành viên về việc khấu trừ tiền từ tài khoản, trừ vào thu nhập, thu hồi giấy tờ có giá của người phải thi hành án.
5. Thẩm quyền xử phạt
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính là một trong những vấn đề quan trọng của pháp luật xử phạt vi phạm hành chính nói chung, pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động THADS nói riêng. Đây là vấn đề có nội dung tương đối phức tạp và nhạy cảm, bởi nó trực tiếp liên quan đến sự phân cấp trong quản lý hành chính nhà nước; đặc biệt trong bối cảnh hiện nay nó còn động chạm đến cái gọi là "quyền anh, quyền tôi" trong hoạt động chấp hành, điều hành, quản lý nhà nước, quản lý xã hội, xử lý vi phạm.
"Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính" được hiểu là quyền của cá nhân, tổ chức được pháp luật xử phạt vi phạm hành chính quy định trong việc áp dụng các hình thức xử phạt chính, bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật. Theo quy định của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002, thì hiện có 74 chức danh có thẩm quyền  xử phạt.
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thi hành án dân sự hiện nay được quy định cụ thể từ Điều 36 đến Điều 40 của Nghị định 76/2006/NĐ-CP bao gồm: cơ quan thanh tra chuyên ngành Tư pháp, cơ quan thi hành án dân sự, Uỷ ban nhân dân các cấp, và các cơ quan khác theo quy định của pháp luật.
Thứ nhất, chủ thể giữ một vai trò quan trọng trong việc xử phạt các vi phạm hành chính trong hoạt động thi hành án dân sự trước hết phải kể đến đó là cơ quan thanh tra chuyên ngành Tư pháp. Vì vậy, Nghị định 76/NĐ-CP đã dành hẳn một Điều 37 quy định về thẩm quyền xử phạt của cơ quan này như sau:
"Điều 37. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của cơ quan thanh tra chuyên ngành Tư pháp
1. Thanh tra viên chuyên ngành Tư pháp đang thi hành công vụ có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 200.000 đồng;
c) Tịch thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị đến 2.000.000 đồng;
d) Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Chương II Nghị định này.
2. Chánh thanh tra Sở Tư pháp có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 20.000.000 đồng;
c) Tịch thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính;
d) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thẩm quyền;
đ) Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Chương II Nghị định này.
3. Chánh thanh tra Bộ Tư pháp có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến mức tối đa quy định tại Nghị định này;
c) Tịch thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính;
d) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thẩm quyền;
đ) Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Chương II Nghị định này."
Từ những quy định tại khoản 2 và 3 Điều  này có thể thấy rằng trong cơ quan thanh tra chuyên ngành Tư pháp thì có 2 chức danh có thẩm quyền xử phạt mà không bắt buộc phải trực tiếp phát hiện hành vi vi phạm, đó là: Chánh Thanh tra có quyền áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền để xử lý hành vi vi phạm pháp luật khi cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm được quy định trong Nghị định 76/2006/NĐ-CP; Phó Chánh Thanh tra có quyền áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền để xử lý hành vi vi phạm pháp luật khi cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm được quy định trong Nghị định 76/2006/NĐ-CP và được Chánh Thanh tra uỷ quyền.
Riêng đối với Thanh tra viên chuyên ngành Tư pháp, ngoài thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong khi thi hành công vụ như quy định tại khoản 1 Điều 37 Nghị định số 76 này thì Điều 21,Nghị định 74/2006/NĐ-CP còn quy định thẩm quyền của Thanh tra viên trong trường hợp khẩn cấp: "Trường hợp khẩn cấp cần ngăn chặn, xử lý ngay hành vi vi phạm, Thanh tra viên được áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền để xử lý hành vi vi phạm pháp luật, đồng thời báo cáo ngay với Chánh Thanh tra và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các biện pháp xử lý của mình.”.
Quy định trên có thể được hiểu là trong trường hợp khẩn cấp, Thanh tra viên Tư pháp có thẩm quyền xử phạt hoặc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác theo quy định của pháp luật để xử lý các vi phạm hành chính. Mặc dù hiện nay chưa có quy định chi tiết nào về "trường hợp khẩn cấp", tuy nhiên theo chúng tôi  "trường hợp khẩn cấp ở đây có thể được hiểu như sau:
- Thanh tra viên là thành viên Đoàn Thanh tra đang tiến hành thanh tra chuyên ngành theo Quyết định và kế hoạch thanh tra của người có thẩm quyền;
- Thanh tra viên được Chánh Thanh tra phân công độc lập tiến hành thanh tra chuyên ngành tại một cơ quan, tổ chức có hoạt động trong lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý của ngành Tư pháp;
- Thanh tra viên đang thực hiện nhiệm vụ không có liên quan đến lĩnh vực có hành vi vi phạm hành chính nhưng phát hiện cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm được quy định trong Nghị định 76/2006/NĐ-CP ngày 02/8/2006 quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực Tư pháp thì có quyền xử phạt tại chỗ theo thẩm quyền, sau đó phải báo cáo ngay với Chánh Thanh tra;
- Thanh tra viên của Thanh tra Tư pháp khi tham gia Đoàn thanh tra liên ngành mà phát hiện cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm được quy định trong Nghị định 76/2006/NĐ-CP;
- Trong trường hợp Thanh tra viên được Chánh Thanh tra phân công thực hiện nhiệm vụ không có liên quan đến lĩnh vực có hành vi vi phạm hành chính nhưng có tin báo khẩn cấp về việc cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm được quy định trong Nghị định 76/2006/NĐ-CP thì báo cáo Chánh Thanh tra và đến ngay hiện trường để xem xét, xác minh nguồn tin. Nếu xác định được hành vi vi phạm thì xử phạt theo thẩm quyền và báo cáo Chánh Thanh tra;
- Trường hợp Thanh tra viên đang giải quyết việc riêng mà phát hiện có hành vi vi phạm được quy định trong Nghị định 76/2006/NĐ-CP thì tiến hành lập biên bản tại chỗ và báo cáo ngay Chánh Thanh tra qua điện thoại để xin ý kiến chỉ đạo;
Thứ hai,trong hoạt động thi hành án dân sự thì cơ quan thi hành án dân sự là cơ quan thường xuyên và trực tiếp phải xử lý những vi phạm hành chính của người phải thi hành án và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác. Chính vì vậy, Điều 38, Nghị định 76/2006/NĐ-CP quy định:
"1. Chấp hành viên thi hành án dân sự đang thi hành công vụ có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 200.000 đồng.
2. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có quyền phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 500.000 đồng.
3. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan thi hành án quân khu và cấp tương đương có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 1.000.000 đồng."
Từ những quy định này có thể thấy rằng cũng giống như thủ trưởng và phó thủ trưởng cơ quan thanh tra chuyên ngành, thủ trưởng và phó thủ trưởng  (nếu được uỷ quyền) cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật mà không bắt buộc phải trực tiếp phát hiện vi phạm.
Thứ ba,một cơ quan có thẩm quyền chung cũng có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thi hành án dân sự đó là Uỷ ban nhân dân các cấp được quy định tại Điều 39, Nghị định 76/2006/NĐ-CP. Một trong những mục đích của quy định này là để xử phạt các trường hợp vượt quá thẩm quyền của cơ quan chuyên ngành cơ sở, tránh trường hợp tồn đọng, chậm trễ trong việc giải quyết xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thi hành án dân sự.
Tuy nhiên, để hạn chế cái gọi là "quyền anh, quyền tôi" khi việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Tư pháp nói chung, trong hoạt động thi hành án dân sự nói riêng, Nghị định76/2006/NĐ-CP đã quy định tại Điều 39 như sau:
"1. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện việc xử phạt đối với các vi phạm hành chính trong các lĩnh vực thuộc phạm vi địa phương mình quản lý theo thẩm quyền cụ thể quy định tại Điều 36 Nghị định này.
2. Thanh tra chuyên ngành tư pháp xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính quy định tại Chương II Nghị định này và các hành vi vi phạm hành chính khác liên quan đến lĩnh vực tư pháp quy định tại các nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước theo thẩm quyền cụ thể quy định tại Điều 37 Nghị định này.
Chánh Thanh tra và Thanh tra viên chuyên ngành Sở Tư pháp không xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính quy định tại Mục 5 Chương II Nghị định này.
3. Cơ quan thi hành án dân sự xử phạt theo thẩm quyền quy định tại Điều 38 của Nghị định này đối với các vi phạm hành chính trong hoạt động thi hành án dân sự.
4. Trong trường hợp vi phạm hành chính quy định tại Nghị định này thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều cơ quan thì việc xử phạt do cơ quan thụ lý đầu tiên thực hiện."
6. Thủ tục xử phạt
Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thi hành án dân sự phải tuân theo quy định tại Chương VI Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002, Chương IV Nghị định 134/2003/NĐ-CP và Chương IV Nghị định 76/2006/NĐ-CP. Theo đó, thủ tục xử phạt được chia làm 02 loại: thủ tục đơn giản và thủ tục lập biên bản. Ý nghĩa của việc chia thủ tục làm hai loại là ở chỗ: đối với việc đơn giản thì người có thẩm quyền xử phạt có thể ra quyết định xử phạt ngay; cá nhân, tổ chức bị xử phạt có thể nộp tiền tại chỗ; vụ việc được giải quyết nhanh chóng, đơn giản, tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan nhà nước, công chức khi thi hành công vụ và cho cả cá nhân, tổ chức vi phạm.
6.1 Thủ tục đơn giản
Theo quy định tại Điều 54 Pháp lệnh, Điều 19 Nghị định 134 và khoản 1, Điều 43 Nghị định 76/2006/NĐ-CP thì thủ tục đơn giản là loại thủ tục được áp dụng trong trường hợp xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức xử phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 100.000 đồng và người có thẩm quyền xử phạt có thể ra quyết định xử phạt ngay mà không phải lập biên bản. Nội dung quyết định xử phạt theo thủ tục đơn giản, ngắn gọn hơn so với thủ tục lập biên bản, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo những thông tin sau đây: họ, tên, địa chỉ của người vi phạm, hành vi vi phạm, địa điểm xảy ra vi phạm, điều, khoản, tên văn bản được áp dụng để xử phạt; ngày, tháng, năm ra quyết định, họ, tên, chức vụ người ra quyết định. Trong trường hợp phạt tiền thì trong quyết định phải ghi rõ mức tiền phạt.Người ra quyết định xử phạt phải giao cho người bi xử phạt quyết định xử phạt.
6.2 Thủ tục lập biên bản
Thủ tục xử phạt phải lập biên bản trong hoạt động thi hành án dân sự được quy định trực tiếp tại khoản 3, Điều 42, Nghị định 76/2006/NĐ-CP Quy định này dẫn chiếu tới các quy định tại Điều 55 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và Điều 20 của Nghị định 134. Từ những quy định này có thể khái quát thủ tục lập biên bản như sau:
Một là,khi phát hiện vi phạm hành chính trong hoạt động thi hành án dân sự, người có thẩm quyền xử phạt phải ra lệnh bằng văn bản hoặc bằng miệng, yêu cầu đình chỉ ngay hành vi vi phạm, đồng thời lập biên bản về hành vi vi phạm. Biên bản phải có những nội dung chính sau đây: ngày, tháng, năm, địa điểm lập biên bản; họ, tên, địa chỉ người vi phạm; ngày, tháng, năm, địa điểm xảy ra vi phạm; hành vi vi phạm, tang vật, phương tiện vi phạm (nếu có). Biên bản phải được lập làm 02 bản, có chữ ký của người lập biên bản, của cá nhân, tổ chức vi phạm, của người làm chứng (nếu có); nếu cá nhân, tổ chức vi phạm từ chối ký thì người có thẩm quyền xử phạt hoặc người lập biên bản phải ghi rõ lý do vào biên bản. Trong trường hợp biên bản có nhiều tờ thì người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm phải ký vào từng tờ biên bản.
Hai là,xem xét, quyết định xử phạt theo quy định tại Điều 56 Pháp lệnh và Điều 21 nghị định 134. Theo đó, đối với những vi phạm bình thường thì thời hạn để ra quyết định xử phạt là 10 ngày kể từ ngày lập biên bản, đối với những vụ việc phức tạp, thì thời hạn để ra quyết định xử phạt là 30 ngày; trong trường hợp cần xác minh, thu thập thêm chứng cứ thì người có thẩm quyền phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp bằng văn bản để ra hạn. Việc gia hạn thêm phải bằng văn bản và thời gian ra hạn thêm là 30 ngày. Nội dung quyết định xử phạt phải tuân theo quy định tại khoản 3, Điều 56 Pháp lệnh, bao gồm: ngày, tháng, năm ra quyết định; họ, tên, chức vụ người ra quyết định; họ, tên, địa chỉ, nghề nghiệp người vi phạm hoặc tổ chức vi phạm; hành vi vi phạm, điều khoản, tên văn bản được áp dụng, hình thức xử phạt chính và bổ sung, các biện pháp khắc phục hậu quả.
Đối với vụ vi phạm không thuộc thẩm quyền thì người lập biên bản chuyển biên bản đó cho người có thẩm quyền để quyết định xử phạt.
 Ba là, thi hành quyết định xử phạt. Theo quy định tại Điều 64 của Pháp lệnh, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày được giao quyết định xử phạt, cá nhân, tổ chức vi phạm phải thi hành quyết định xử phạt. Quá thời hạn quy định mà cá nhân, tổ chức không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành.
Hoãn thi hành quyết định xử phạt:Trong trường hợp cá nhân vi phạm chưa thể thi hành quyết định xử phạt không phải do họ chây ỳ mà do chưa có điều kiện thi hành như đang gặp khó khăn đặc biệt về kinh tế; đồng thời mức bị xử phạt tiền từ 500.000 đồng trở lên, thì có thể được tạm hoãn thi hành quyết định xử phạt. Thời hạn tạm hoãn thi hành quyết định xử phạt không quá 03 tháng kể từ khi có quyết định tạm hoãn. Người có thẩm quyền quyết định phạt tiền, có quyền quyết định tạm hoãn. Để được hoãn, cá nhân, tổ chức vi phạm phải làm đơn đề nghị có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan.
7. Một số lưu ý khác về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thi hành án dân sự
7.1 Tình tiết tăng năng, giảm nhẹ
Một trong những yêu cầu cơ bản của việc xử lý vi phạm hành chính là việc xử lý phải tương xứng với tính chất mức độ của hành vi vi phạm và nhân thân người vi phạm. Đó cũng chính là một trong những cơ sở cho việc ban hành các quy định về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trong xử lý vi phạm hành chính. Tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trong xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thi hành án dân sự được quy định tại khoản 2, Điều 3, Nghị định số 76/2006/NĐ-CP và dẫn chiếu đến Điều 8, Điều 9 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và Điều 6 Nghị định số 134/2003/NĐ-CP.
-  Theo quy định tại Điều 8 Pháp lệnh, có bảy (07) tình tiết giảm nhẹ, bao gồm: (1) Người vi phạm hành chính đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của vi phạm hoặc tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại; (2) Người vi phạm hành chính đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi; (3) Vi phạm trong tình trạng bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người khác gây ra; (4) Vi phạm do bị ép buộc hoặc bị lệ thuộc về vật chất hoặc tinh thần; (5) Người vi phạm là phụ nữ có thai, người già yếu, người có bệnh hoặc tàn tật làm hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình; (6) Vi phạm vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không do mình gây ra; và (7) Vi phạm do trình độ lạc hậu.
- Theo quy định tại Điều 9 Pháp lệnh, có chín (09) tình tiết tăng năng, bao gồm: (1) Vi phạm có tổ chức; (2) Vi phạm nhiều lần trong cùng lĩnh vực hoặc tái phạm trong cùng lĩnh vực; (3) Xúi giục, lôi kéo người chưa thành niên vi phạm, ép buộc người bị lệ thuộc vào mình về vật chất, tinh thần vi phạm; (4) Vi phạm trong tình trạng say do dùng rượu, bia hoặc các chất kích thích khác; (5) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vi phạm; (6) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, hoàn cảnh thiên tai hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để vi phạm; (7) Vi phạm trong thời gian đang chấp hành hình phạt của bản án hình sự hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính; (8) Tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm hành chính mặc dù người có thẩm quyền đã yêu cầu chấm dứt hành vi đó; và (9) Sau khi vi phạm đã có hành vi trốn tránh, che giấu vi phạm hành chính.
Cần phải lưu ý rằng, chỉ có chín tình tiết này mới là tình tiết tăng nặng, không ai có thể đặt ra bất cứ một tình tiết tăng nặng nào ngoài những tình tiết này để xử phạt nặng thêm cho công dân.
7.2 Thời hiệu xử phạt
Theo quy định tại khoản 1, Điều 4, Nghị định số 76/2006/NĐ-CP, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp nói chung, trong hoạt động thi hành án dân sự nói riêng là một năm, kể từ ngày vi phạm hành chính được thực hiện. Nếu quá thời hiệu nói trên mà vi phạm hành chính mới bị phát hiện thì không tiến hành xử phạt nhưng vẫn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Nghị định này. Trong trường hợp quá thời hiệu xử phạt mà lỗi thuộc về người có thẩm quyền xử phạt thì người có thẩm quyền xử phạt bị xử lý theo quy định tại Điều 121 của Pháp lệnh như sau : "Người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính mà sách nhiễu, dung túng, bao che, không xử lý hoặc xử lý không kịp thời, không đúng mức, xử lý vượt thẩm quyền quy định thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.".
Khoản 2, Điều 4, Nghị định số 76/2006/NĐ-CP cũng quy định "Đối với cá nhân đã bị khởi tố, truy tố hoặc có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự mà có quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án thì bị xử phạt vi phạm hành chính nếu hành vi của người đó có dấu hiệu vi phạm hành chính; trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án, người đã ra quyết định phải gửi quyết định cho người có thẩm quyền xử phạt; trong trường hợp này, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là ba tháng, kể từ ngày người có thẩm quyền xử phạt nhận được quyết định đình chỉ và hồ sơ vụ vi phạm.".
Trong thời hạn được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 4, Nghị định số 76/2006/NĐ-CP này, nếu người vi phạm thực hiện vi phạm hành chính mới trong hoạt động thi hành án dân sự hoặc cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì không áp dụng thời hiệu xử phạt như quy định ở trên mà thời hiệu xử phạt được tính lại kể từ thời điểm thực hiện vi phạm hành chính mới hoặc thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt.
 Theo quy định tại Điều 6, Nghị định số 76/2006/NĐ-CP vấn đề "thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính" đã được quy định cụ thể. Theo đó, cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thi hành án dân sự, nếu qua một năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt (tức là kể từ ngày thực hiện xong các nghĩa vụ, yêu cầu ghi trong quyết định xử phạt hoặc từ ngày quyết định xử phạt được cưỡng chế thi hành) hoặc kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt mà không tái phạm thì được coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
7.3 Khiếu nại, tố cáo
Khiếu nại, tố cáo về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thi hành án dân sự được quy định tại Chương V của nghị định 76 và dẫn chiếu đến quy định tại Điều 118 của Pháp lệnh. Theo đó, có thể hiểu rằng chủ thể khiếu nại về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động THADS là cá nhân, tổ chức bị xử phạt; chủ thể thực hiện quyền tố cáo là mọi công dân. Thẩm quyền, thủ tục, thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo. Nội dung này chúng tôi sẽ trình bày cụ thể, chi tiết tại chuyên đề "Giải quyết khiếu nại, tố cáo về công tác thi hành án dân sự".
Trên đây là một số nội dung cơ bản của việc xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thi hành án dân sự nhằm giúp cho Thanh tra viên Tư pháp, đặc biệt là các Chấp hành viên nghiên cứu, tham khảo và áp dụng trong thực tiễn để đạt hiệu quả tốt hơn trong công tác thi hành án dân sự. Nếu đồng chí nào muốn hỏi thêm chi tiết hoặc góp ý hoàn thiện chuyên đề, xin liên hệ địa chỉ: Đồng chí Hoàng Quốc Hùng - Phó Chánh Thanh tra Bộ Tư pháp, số máy: 04.8231127 hoặc 0913001513. Chúng tôi xin ghi nhận, lắng nghe, tham khảo, tổng hợp để bổ sung, cập nhật và chỉnh sửa  để góp phần đưa những quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thi hành án dân sự đi vào thực tế đời sống xã hội./.

Thứ Tư, 10 tháng 4, 2013

Về cơ chế chống chuyển giá trong Luật sửa đổi, bổ sung Luật Quản lý thuế

Chính sách quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá trong giai đoạn vừa qua đã có những bước thay đổi tích cực cả về mặt pháp lý và thực tế ứng dụng. Tuy nhiên, để phù hợp với tình hình mới, dựa vào Chiến lược cải cách thuế giai đoạn 2011-2020 đã được phê duyệt, Bộ Tài chính đã soạn thảo Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế.

Thỏa thuận xác định giá trước và khả năng áp dụng trong hoạt động quản lý thuế
Chính sách quản lý thuế  đối với hoạt động chuyển giá trong giai đoạn vừa qua đã có những bước thay đổi tích cực cả về mặt pháp lý và thực tế ứng dụng. Về cơ bản, các quy định về xác định giá thị trường đối với sản phẩm trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết được dựa trên hướng dẫn của OECD, phù hợp với thông lệ quốc tế và phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Cụ thể, Thông tư 66/2010/TT-BTC ngày 22/4/2010 của Bộ Tài chính (Thông tư 66) về cơ bản đã điều chỉnh được các hành vi chuyển giá của doanh nghiệp liên kết. Việc quy định các bên liên kết đã rõ ràng, cụ thể hơn các quy định trước đây. Đặc biệt, nguồn thông tin, dữ liệu được phép sử dụng để phân tích, so sánh về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu xác định giá thị trường của doanh nghiệp và cơ quan thuế, như: (i) quy định về khác biệt trọng yếu trong so sánh giao dịch liên kết với giao dịch độc lập đã được lượng hóa, không chỉ mang tính định tính như quy định trước đây, đảm bảo cho việc hiểu và áp dụng thống nhất giữa cơ quan thuế với người nộp thuế và giữa nội bộ cơ quan thuế với nhau; (ii) hướng dẫn về xác định giá thị trường đã được quy định riêng đối với trường hợp mua và trường hợp bán, đảm bảo thống nhất giữa nguyên tắc chung với việc hướng dẫn cụ thể về xác định giá thị trường; (iii) mẫu biểu kê khai thông tin giao dịch liên kết được quy định cụ thể, rõ ràng hơn, thuận tiện co việc kê khai của người nộp thuế…
Việc ban hành và thực hiện Thông tư 66 đã góp phần nâng cao hiệu quả Quản lý thuế, tăng cường thu cho ngân sách nhà nước, góp phần bảo vệ lợi ích và quyền đánh thuế của quốc gia và đảm bảo công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế giữa các doanh nghiệp. “Nhờ có Thông tư 66, trong năm 2011, ngành thuế đã kiểm tra và truy thu khoảng 6.009 tỷ đồng tiền thuế…”.
Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn hạn chế quyền hạn của cơ quan thuế, hình thức xử lý đối với doanh nghiệp có hành vi chuyển giá tránh thuế còn quá nhẹ, quy định xác định giá thị trường chưa được linh hoạt đối với một số doanh nghiệp có giao dịch liên kết, quá trình thực hiện của người nộp thuế cũng như cơ quan thuế chưa thực sự thuận tiện. Các biểu hiện cụ thể là:
- Việc quản lý giá giao dịch chuyển giao sản phẩm giữa các bên liên kết chưa được quy định một cách cụ thể trong luật hiện hành;
- Hành vi chuyển giá tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng tinh vi, phức tạp, do vậy thời gian để xử lý giải quyết cho một vụ việc chuyển giá thường bị kéo dài. Một trong những khó khăn lớn, đó là căn cứ xử lý về ấn định giá vì cơ quan thuế rất khó xác định giá giao dịch thông thường trên thị trường (giá thỏa thuận khách quan giữa các bên không có quan hệ liên kết). Hiện nay, việc xác định quan hệ liên kết rất khó khăn, sự mua, bán có thể diễn ra qua các khâu trung gian (ngoài các đối tượng liên kết theo quy định tại Thông tư 66) theo sự chỉ định của nhà đầu tư mà cơ quan quản lý Nhà nước chưa có văn bản để chế tài. Mặt khác, hàng hóa lại rất đa dạng, giá cả còn tùy thuộc vào uy tín nhãn hiệu, thị hiếu người tiêu dùng… Do đó, việc quy định cùng mặt hàng trong việc xác định giá cả là chưa phù hợp, cần phải có tiêu chí xác định cho từng ngành nghề cụ thể…
- Mức độ xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế đối với các trường hợp chuyển giá còn quá nhẹ, quy định chung với các hành vi vi phạm khác về thuế (quy định tại Luật Quản lý thuế hiện hành, tại Nghị định số 98/2007/NĐ-CP và Thông tư số 61/2007/TT-BTC) mà chưa có hình thức xử phạt riêng, nghiêm khắc hơn nên chưa đủ sức răn đe đối với người nộp thuế có hành vi chuyển giá tránh thuế (trường hợp cơ quan thuế thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp liên kết, thực hiện điều chỉnh giá làm giảm lỗ của doanh nghiệp thì cũng không có chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế đối với doanh nghiệp; trường hợp cơ quan thuế thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp liên kết, thực hiện điều chỉnh giá làm tăng số thuế thu nhập doanh nghiệp thì cũng chỉ xử phạt kê khai sai (10%) và phạt chậm nộp (0,05%/1 ngày chậm nộp). Các trường hợp chuyển giá dẫn tới số lỗ lũy kế bằng hoặc vượt số vốn chủ sở hữu thì cũng chưa có quy định bắt buộc người nộp thuế không được hoàn thuế giá trị gia tăng hoặc phải giải thể doanh nghiệp;
- Thanh tra thuế đối với hoạt động chuyển giá là lĩnh vực quản lý khó, phức tạp, tốn nhiều thời gian và nguồn lực để thu thập thông tin, phân tích, so sánh, loại trừ khác biệt ảnh hưởng đến đơn giá sản phẩm được chuyển giao, lựa chọn và áp dụng phương pháp xác định giá thị trường… Tuy nhiên, theo quy định của Luật Thanh tra hiện hành, không quy định riêng thời gian thanh tra thuế đối với hoạt động chuyển giá mà quy định chung như thời gian thanh tra thuế đối với các trường hợp thông thường khác. Hạn chế này đã dẫn tới các hiệu qủa thanh tra về giá chuyển nhượng trong giai đoạn vừa qua chưa cao;
- Hành vi chuyển giá của các doanh nghiệp liên kết tại Việt Nam ngày càng phổ biến, tinh vi và phức tạp. Để Quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá đạt hiệu quả cao, cơ quan thuế cần thiết có quyền điều tra để xác định hành vi chuyển giá của người nộp thuế. Tuy nhiên, tại các văn bản pháp quy hiện hành không quy định cơ quan thuế có quyền điều tra;
- Chưa cho phép áp dụng cơ chế thỏa thuận trước giữa cơ quan thuế và người nộp thuế về giá giao dịch liên kết của người nộp thuế trong tương lai (APA);
- Quy định về kê khai thông tin giao dịch liên kết chưa thực sự giảm thiểu gánh nặng thực hiện nghĩa vụ thuế đối với doanh nghiệp: nếu doanh nghiệp có hành vi chuyển giá thông qua các giao dịch liên kết có giá trị nhỏ sẽ ảnh hưởng không đáng kể đến số thu ngân sách nhà nước và lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp. Tuy nhiên, theo quy định hiện hành của Việt Nam, doanh nghiệp vẫn phải xác định giá thị trường và kê khai đối với giao dịch liên kết có giá trị nhỏ trong khi chi phí và thời gian xác định giá thị trường, kê khai với cơ quan thuế là đáng kể và không thấp hơn đối với việc xác định giá thị trường và kê khai giao dịch lớn.
Những hạn chế trên về Quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá như nêu trên có thể do các nguyên nhân như sau:
- Việt Nam đã có quy định về việc doanh nghiệp tự tính thuế, tự khai thuế và tự chịu trách nhiệm trong việc chấp hành, tuy nhiên, ý thức tuân thủ về xác định giá thị trường của doanh nghiệp trong giai đoạn 2006-2009 rất thấp. Việc không tuân thủ kê khai thông tin giao dịch liên kết là lý do chính của việc doanh nghiệp chưa phát hiện vướng mắc về chính sách để kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung chính sách QLT được kịp thời;
- Việc Quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá trong giai đoạn vừa quan của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chưa được coi là nhiệm vụ cấp bách, cơ quan thuế chưa có đội ngũ công chức chuyên nghiệp, chuyên sâu về lĩnh vực giá chuyển nhượng và có kinh nghiệm thực tiễn trong việc thanh tra, kiểm tra, lập hồ sơ xác định giá thị trường đối với giao dịch liên kết. Đây là nguyên nhân hạn chế trong việc rà soát vướng mắc, đề xuất sửa đổi, bổ sung chính sách Quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá kịp thời.
Một số điều khoản mới trong Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế
Từ các nguyên nhân gây ra các hạn chế trên, dựa vào Chiến lược cải cách thuế giai đoạn 2011-2020 đã được phê duyệt, Bộ Tài chính đã soạn thảo Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật QLT (Dự thảo). Bản Dự thảo có một số điều khoản mới và quan trọng như:
- Các quy định áp dụng cơ chế xác định trước về giá tính thuế (APA).
- Cơ quan thuế được quyền ấn định thuế dựa trên doanh thu trong trường hợp vi phạm pháp luật về thuế.
- Doanh nghiệp phát sinh lỗ có thể bị kiểm tra định kỳ, thu hồi giấy phép kinh doanh và mã số thuế.
- Cơ quan thuế Việt Nam được phép thu thập các thông tin từ cơ quan thuế của những nước có ký kết hiệp định thuế với Việt Nam.
- Cơ quan thuế được trao quyền điều tra hình sự đối với vi phạm pháp luật về thuế.
Cơ chế xác định trước về giá tính thuế (Advance Pricing Arrangement –APA)
Hiện tại, pháp luật thuế của Việt Nam chưa có quy định cho phép cơ quan thuế và người nộp thuế ký kết thực hiện APA. Dự thảo bổ sung một số điều khoản tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng cơ chế xác định trước về giá tính thuế tại Việt Nam. APA là một thỏa thuận có hiệu lực thi hành trong một khoảng thời gian không quá 05 năm, xác định các căn cứ tính thuế và phương pháp xác định giá thị trường của các giao dịch liên kết do cơ quan Quản lý thuế xác định trước khi doanh nghiệp nộp tờ khai Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và tờ khai hải quan có liên quan.
Thực tế APA là vấn đề mới nên Bộ Tài chính đang triển khai thực hiện thí điểm cho phép một vài doanh nghiệp lớn hoạt động tại Việt Nam được ký kết và áp dụng để Bộ Tài chinh có kinh nghiệm và cơ sở lựa chọn những phương án phù hợp trước khi ban hành các quy định hướng dẫn thực hiện APA (đang thí điểm tại tập đoàn Samsung).
Ấn định thuế TNDN dựa trên doanh thu
Dự thảo cho phép cơ quan thuế được quyền ấn định thuế khi người nộp thuế vi phạm pháp luật về thuế (bao gồm cả quy định về xác định giá thị trường) theo phương pháp dựa trên doanh thu sử dụng tỷ lệ giá trị gia tăng hoặc tỷ suất lợi nhuận do Bộ Tài chính quy định áp dụng đối với từng ngành nghề và hoạt động kinh doanh cho từng thời kỳ nhất định.
Kiểm tra định kỳ và thu hồi giấy phép kinh doanh đối với các doanh nghiệp phát sinh lỗ
Dự thảo đề xuất đưa những doanh nghiệp có số lỗ chiếm từ 50% trở lên nhưng chưa vượt quá số vốn chủ sở hữu vào diện phải kiểm tra thuế định kỳ, thu hồi giấy phép kinh doanh, vô hiệu hoá mã số thuế và đình chỉ việc sản xuất kinh doanh.
Mở rộng thu thập thông tin về người nộp thuế từ nguồn ở nước ngoài
Dự thảo cho phép cơ quan Quản lý thuế thu thập, xử lý thông tin bao gồm cả việc thu thập và sử dụng các thông tin do cơ quan thuế của những nước đã ký kết hiệp định với Việt Nam về tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với thu nhập, nhằm phục vụ cho công tác Quản lý thuế, trong đó có quản lý vấn đề chuyển giá.
Giao chức năng điều tra hình sự cho cơ quan thuế
Theo quy định của Dự thảo, cơ quan thuế được quyền điều tra hình sự về hành vi vi phạm pháp luật về thuế. Theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam, nếu trốn thuế từ 100 triệu đồng Việt Nam trở lên (khoảng 4.900 Đô la Mỹ) thì người nộp thuế có thể bị điều tra và xử lý hình sự.
Thỏa thuận xác định giá trước
Từ những dự kiến sửa đổi, bổ sung một số quy định về thuế và xác định giá thị trường, Luật Quản lý thuế sẽ có nội dung về thỏa thuận định giá trước. Theo đó, cơ quan thuế sẽ tham khảo và tính toán, đưa ra mức thuế rồi trao đổi với nhà đầu tư trước khi đầu tư. Khi phương thức thỏa thuận giá định trước được tuân thủ nghiêm ngặt, nguy cơ điều chỉnh chuyển giá sẽ được loại trừ. Doanh nghiệp liên quan cũng sẽ giảm bớt được thủ tục giấy tờ và tiết kiệm chi phí vì thời gian thực hiện một cuộc thanh tra chuyển giá rất dài và phải chuẩn bị rất nhiều tài liệu để xác định giá thị trường. Hơn nữa, việc dự kiến ban hành quy định về APA sẽ giúp cải thiện tính minh bạch về quy trình Quản lý thuế thông qua việc tham gia của cả cơ quan thuế và người nộp thuế vào một thỏa thuận ràng buộc và giúp hai bên kiểm soát và theo dõi tốt hơn các vấn đề về xác định giá thị trường. APA không chỉ tạo điều kiện giúp cho doanh nghiệp tuân thủ tốt hơn các quy định về xác định giá thị trường mà còn làm tăng khả năng chắc chắn của việc tuân thủ thông qua việc giảm thiểu hoặc tránh nguy cơ bị thanh tra về chuyển giá trong thời hạn áp dụng APA. APA cũng giúp ngăn ngừa việc đánh thuế trùng.
Điều kiện áp dụng thỏa thuận xác định giá trước
Để hiểu rõ hơn APA và việc đưa APA vào luật Quản lý thuế có gì ưu việt hơn so với các cuộc thanh tra giá chuyển nhượng, chúng ta sẽ so sánh giữa APA và thanh tra giá chuyển nhượng.
- Cả APA và thanh tra giá chuyển nhượng đều nhằm mục đích xác định giá thị trường của giao dịch liên kết giữa các bên có quan hệ liên kết, nhưng thanh tra giá chuyển nhượng là xác định giá thị trường cho các năm trước còn APA là thỏa thuận giá thị trường cho các năm tiếp theo. Thanh tra giá chuyển nhượng do cơ quan thuế ấn định một mức giá thị trường cụ thể để tính thuế và người nộp thuế có nghĩa vụ chứng minh, còn APA thì có sự thỏa thuận giữa cơ quan thuế và người nộp thuế và thường sử dụng một khoảng giá để tính toán, điều này phù hợp với thông lệ quốc tế.
- Trong việc lựa chọn số liệu so sánh, thanh tra giá chuyển nhượng có thể sử dụng số liệu không công khai, số liệu được cập nhập từ hệ thống dữ liệu của ngành thuế và chỉ ngành thuế được khai thác, nhưng khi thỏa thuận xác định giá trước, đối tượng nộp thuế chỉ có thể sử dụng những thông tin được công khai và số liệu thông tin nội bộ.
Như vậy, khi so sánh APA và thanh tra giá chuyển nhượng, chúng ta dễ dàng thấy, APA được thỏa thuận trong khuôn khổ đàm phán, vì vậy nó sẽ tránh đánh thuế hai lần ngay từ đầu; đẩy nhanh quá trình hoàn tất thủ tục; tạo thuận lợi cho việc đánh thuế trên giá chuyển nhượng; giảm bớt gánh nặng về hành chính công cho doanh nghiệp; bảo đảm khả năng tiên liệu về thuế cho ban lãnh đạo công ty; cơ quan thuế chủ động hơn trong việc thu thuế vì APA có sự đảm bảo nhất định về khả năng thu.
_________________
Tài liệu tham khảo:
Báo cáo của Bộ Tài chính tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XIII, ngày 24/11/2011.
Tổng cục Thuế, Báo cáo kết quả khảo sát “Thực trạng QLT đối với hoạt động chuyển giá giữa doanh nghiệp Việt Nam với các bên liên kết giai đoạn 2006-2010”, 2011, Hà Nội.

Thứ Hai, 8 tháng 4, 2013

Bảo đảm nguyên tắc "suy đoán vô tội" và tính thống nhất giữa Hiến pháp với Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự


1. Nguyên tắc “suy đoán vô tội” và sự cần thiết phải bảo đảm tính thống nhất giữa Hiến pháp với Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự
 “Suy đoán vô tội” là sự thể hiện quan điểm của Nhà nước trong việc tôn trọng các giá trị cao quý của con người (nhân phẩm, danh dự) trong xã hội và coi một người có đủ tư cách công dân với các quyền, nghĩa vụ do Hiến pháp và pháp luật quy định, khi người đó chưa bị Tòa án (cơ quan có thẩm quyền xét xử) kết tội bằng một bản án có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, để loại trừ, ngăn ngừa sự tùy tiện, lộng quyền, áp đặt hay vi phạm pháp luật từ phía cơ quan tiến hành tố tụng (THTT), người THTT mà Hiến pháp và Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS) Việt Nam đã quy định rõ các hoạt động TTHS phải tuân thủ nghiêm chỉnh nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN) “Mọi hoạt động TTHS của cơ quan THTT, người THTT và người tham gia tố tụng phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật này” (Điều 3 Bộ luật TTHS năm 2003).
Thuật ngữ “suy đoán vô tội” chưa được Hiến pháp và pháp luật Việt Nam sử dụng và ghi nhận chính thức. Tuy nhiên, trên cơ sở những tư tưởng tiến bộ trong Điều 11 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 “Một người bị buộc tội về hình sự, đều có quyền được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội theo pháp luật, tại một phiên tòa xét xử công khai, nơi người đó được bảo đảm những điều kiện cần thiết để bào chữa cho mình...” và Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 của Liên hiệp quốc “Người bị cáo buộc là phạm tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi hành vi phạm tội của người đó được chứng minh theo pháp luật...”, thì nội dung của nguyên tắc này đã được đề cập trong Hiến pháp Việt Nam năm 1992, sửa đổi năm 2001 (Điều 72), Bộ luật TTHS năm 1988 (các điều 10, 11) và Bộ luật TTHS năm 2003 (các điều 9, 10). Cho nên, xét dưới góc độ tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân, yêu cầu của nguyên tắc “suy đoán vô tội” đòi hỏi tất cả các chủ thể, trước hết là các cơ quan THTT, người tiến hành TTHS phải tôn trọng danh dự, nhân phẩm của công dân, sau đến những người khác, cơ quan, tổ chức, báo chí, truyền thông... cũng phải đối xử và tôn trọng họ khi chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật. Còn khi họ đã có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật, thì Nhà nước đã quy định các quyền và nghĩa vụ của họ với tư cách là người đã bị kết án.
Điều 72 Hiến pháp năm 1992, sửa đổi năm 2001 quy định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đó có hiệu lực pháp luật.
Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh”.
Điều 9 Bộ luật TTHS năm 2003 nhắc lại và đặt tên nguyên tắc “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” quy định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”.
Ngoài ra, Điều 32 Dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 (Điều 72) ngày 23/11/2012 quy định: “1. Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
2. Người bị buộc tội có quyền được Tòa án xét xử. Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm.
3. Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử có quyền sử dụng trợ giúp pháp lý của người bào chữa.
4. Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam, điều tra, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật”.
Nghiên cứu Điều luật này trong Dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992, chúng tôi nhận thấy, nội dung liên quan đến nguyên tắc “suy đoán vô tội” và một số điểm hạn chế, tồn tại của Điều 72 Hiến pháp hiện hành đã được Ban soạn thảo hoàn thiện như sau:
Một là, đã bỏ đi cụm từ “và phải chịu hình phạt” trong khoản 1 để bảo đảm tính thống nhất và chặt chẽ với Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999, sửa đổi năm 2009 về miễn hình phạt (Điều 54) vì phải bao quát hai trường hợp có hậu quả pháp lý khác nhau:
a) Một người phạm tội và đến khi xét xử, trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án, người đó bị coi là có tội và bị áp dụng hình phạt;
b) Một người phạm tội nhưng đến khi xét xử, trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án, người đó bị coi là có tội nhưng không bị áp dụng hình phạt mà được miễn hình phạt.
Hai là, đã bổ sung nội dung “Người bị buộc tội có quyền được Tòa án xét xử. Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm” để bảo đảm nguyên tắc pháp chế XHCN và quyền được xét xử công bằng được ghi nhận trong Điều 10 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 “Mọi người đều bình đẳng về quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án độc lập và khách quan để xác định các quyền và nghĩa vụ của họ, cũng như bất cứ sự buộc tội nào đối với họ” và Điều 11 (đã dẫn ở trên), cũng như Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 của Liên hiệp quốc. Hơn nữa, logic đương nhiên là “người bị buộc tội” mới cần được “suy đoán vô tội”. Ngoài ra, Điều 32 Dự thảo đã bổ sung nội dung “Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử có quyền sử dụng trợ giúp pháp lý của người bào chữa” cho bảo đảm tương thích với các Công ước quốc tế (đã dẫn), cũng như tôn trọng quyền bào chữa và trợ giúp pháp lý của những người bị buộc tội tương ứng với các giai đoạn TTHS, thậm chỉ bao gồm cả người bị tình nghi (người bị bắt).
Ba là, đã bổ sung cho chính xác trong các giai đoạn tố tụng và thuật ngữ thống nhất trong Bộ luật TTHS về người bị bắt và các người tham gia tố tụng (người bị tạm giữ, tạm giam) về việc tôn trọng quyền con người của những người này. Khi họ bị điều tra, truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Còn người nào làm trái pháp luật trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam, điều tra, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật.
2. Kiến nghị sửa đổi, bổ sung Điều 32 Dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992, Điều 9 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003, Điều 293, 294 Bộ luật Hình sự hiện hành
Từ nội dung Điều 32 Dự thảo Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung Điều 72 Hiến pháp hiện hành), chúng tôi xin đóng góp thêm để hoàn thiện Điều luật này, cũng như bảo đảm tính thống nhất giữa Hiến pháp với BLHS và Bộ luật TTHS như sau:
Một là, về cơ bản, chúng tôi nhất trí với những đề xuất của Ban soạn thảo sửa đổi Hiến pháp về Điều 32 Dự thảo lần này, tuy nhiên, có ba điểm nên sửa đổi, bổ sung bao gồm:
- Khoản 1 Điều 32 Dự thảo quy định: “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Sau khi đã bỏ đi cụm từ “và phải chịu hình phạt” nội dung khoản này đã rất đầy đủ. Mặc dù vậy, để bảo đảm nội dung nguyên tắc “suy đoán vô tội” và thống nhất với quy định của Bộ luật TTHS, cũng như tương ứng với các chức năng cơ bản trong TTHS, khoản này nên bổ sung thêm nội dung: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan THTT. Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội”.
- Khoản 2 Điều 32 Dự thảo quy định: “Người bị buộc tội có quyền được Tòa án xét xử. Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm” nên sửa đổi, bổ sung thành: “Người bị buộc tội có quyền được Tòa án xét xử. Không ai bị Tòa án kết án hai lần về một tội phạm mà người đó đã bị kết án” cho bảo đảm đầy đủ nội dung (logic là thẩm quyền kết án chỉ do duy nhất Tòa án, đồng thời không thể bị kết án hai lần về một tội phạm mà người đó đã bị kết án), đồng thời phù hợp với khoản 7 Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 của Liên hiệp quốc, cũng như nguyên tắc pháp chế XHCN trong Hiến pháp và pháp luật.
- Khoản 3 Điều 32 Dự thảo quy định: “Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử có quyền sử dụng trợ giúp pháp lý của người bào chữa” nên sửa đổi, bổ sung thêm cả “những người khác theo quy định của pháp luật” (cùng với người bào chữa). Bởi lẽ, Bộ luật TTHS năm 2003 quy định người bào chữa có thể là: luật sư; người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa viên nhân dân (Điều 56), nhưng Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 còn quy định cả Trợ giúp viên pháp lý cũng được coi là người bào chữa thực hiện các nhiệm vụ như: tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện theo pháp luật... (điểm b khoản 3 Điều 21); hoặc dự phòng sau này có thể có thêm chủ thể nào đó được pháp luật quy định có quyền này.
- Khoản 4 Điều 32 Dự thảo quy định: “Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam, điều tra, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật” nên sửa đổi, bổ sung cho ngắn gọn và thống nhất với Điều 29 Bộ luật TTHS năm 2003, cũng như cần phục hồi cả các quyền lợi khác cho họ ngoài việc bồi thường, khôi phục danh dự (chức vụ, lương bổng...) như sau: “Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự, quyền lợi. Người làm trái pháp luật trong các hoạt động tố tụng đó gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh theo các quy định củapháp luật”.
Như vậy, Điều 32 Dự thảo Hiến pháp nên sửa đổi, bổ sung như sau:
 
Điều 72 Hiến pháp hiện hành
Điều 32 Dự thảo
Hiến pháp sửa đổi
Kiến nghị sửa đổi
Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đó có hiệu lực pháp luật.
Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh.
1. Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
2. Người bị buộc tội có quyền được Tòa án xét xử. Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm.
3. Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử có quyền sử dụng trợ giúp pháp lý của người bào chữa.
4. Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam, điều tra, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật.
1. Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan THTT. Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.
Người bị buộc tội có quyền được Tòa án xét xử. Không aibị kết án hai lần về một tội phạm mà người đó đã bị kết án.
3. Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử có quyền sử dụng trợ giúp pháp lý của người bào chữa và của những người khác theo quy định của pháp luật.
4. Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự, quyền lợi. Người làm trái pháp luật trong các hoạt động tố tụng đó gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lýnghiêm minh theo các quy định của pháp luật.
Hai là, thông qua việc hoàn thiện Điều 32 Dự thảo Hiến pháp sửa đổi, chúng tôi cho rằng, các bộ luật, luật dưới Hiến pháp phải phù hợp và thống nhất với Hiến pháp, vì Hiến pháp là đạo luật cơ bản. Nếu không phù hợp, mâu thuẫn với Hiến pháp phải sửa đổi, bổ sung. Do đó, liên quan đến nội dung về “suy đoán vô tội”, Điều 9 Bộ luật TTHS năm 2003 đã gián tiếp thể hiện ởnguyên tắc: “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”, còn Điều 10 quy định nguyên tắc: “Xác định sự thật vụ án” nhưng nội dung thứ hai của Điều 10 “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan THTT. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội” lại phản ánh nội dung của nguyên tắc “suy đoán vô tội”. Vì vậy, có ba nội dung cần sửa đổi, bổ sung như sau:
- Sửa đổi tên gọi Điều 9 “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” thành tên gọi “suy đoán vô tội” để tránh trùng lặp với nội dung của Điều luật này.
- Nội dung Điều 9 nêu: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” cần sửa đổi vấn đề liên quan đến vế thứ hai “và phải chịu hình phạt…” cho bảo đảm phù hợp với các quy định của BLHS và thực tiễn xét xử, cũng như thống nhất với Điều 32 Dự thảo Hiến pháp sửa đổi (đã nêu) với hai trường hợp tương ứng khác nhau.
- Chuyển nội dung thứ hai trong Điều 10 Bộ luật TTHS năm 2003 (đã nêu) đưa vào Điều 9 cho phù hợp và phản ánh nội dung của nguyên tắc “suy đoán vô tội” (còn Điều 10 chỉ còn một nội dung). Việc bổ sung này hoàn toàn phù hợp với các tư tưởng tiến bộ trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 của Liên hiệp quốc (đã nêu). Ngoài ra, việc bổ sung này còn bảo đảm trách nhiệm của các cơ quan, người THTT trong việc chứng minh tội phạm và người phạm tội, tránh làm oan người vô tội. Hơn nữa, điều này còn tương thích với pháp luật TTHS nhiều nước (ví dụ: Điều 14 Bộ luật TTHS Liên bang Nga cũng quy định về nguyên tắc “suy đoán vô tội”). Đặc biệt, Điều 48 Bộ luật TTHS có quy định về người tham gia TTHS là “Người bị tạm giữ” - cũng là một chủ thể cần được suy đoán vô tội, do đó, nên bổ sung thêm chủ thể này đầy đủ hơn.
Như vậy, Điều 9 Bộ luật TTHS năm 2003 nên sửa đổi, bổ sung như sau:
Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành
Kiến nghị sửa đổi
Điều 9. Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Điều 9. Suy đoán vô tội
1. Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
2. Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan THTT. Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.
3. Mọi sự nghi ngờ về tội phạm của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, nếu không được loại trừ theo trình tự, thủ tục do Bộ luật TTHS quy định thì các cơ quan THTT, người THTT phải giải thích theo hướng có lợi cho họ.

Ba là, tương tự, để bảo đảm tính thống nhất giữa Hiến pháp với BLHS và Bộ luật TTHS, Điều 293 về “Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội” và Điều 294 về “Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội” trong BLHS năm 1999, sửa đổi năm 2009 nên sửa tên tội và nội dung thay cụm từ “có tội” thành cụm từ “phạm tội” cho đúng với bản chất của hành vi phạm tội do chủ thể có thẩm quyền thực hiện trong từng giai đoạn tương ứng khác nhau (điều tra, truy tố, xét xử).  
Hiện trong khoa học luật hình sự, BLHS và thực tiễn xét xử tồn tại hai khái niệm “người phạm tội” và “người có tội” nên cần có sự phân biệt rạch ròi, chỉ rõ tư cách tham gia tố tụng nhằm bảo đảm quyền lợi và sinh mệnh chính trị cho họ. Thuật ngữ “người phạm tội” dùng để chỉ một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm. Nói một cách khác, hành vi do người đó thực hiện đã thỏa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm nào đó được quy định trong Phần các tội phạm BLHS và người thực hiện hành vi đó bị coi là chủ thể của tội phạm (phạm tội là động từ). Trong khi đó, thuật ngữ “người có tội” cũng được sử dụng để xác định một người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm, nhưng thu hẹp hơn với người phạm tội - với họ đã có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án (có tội là tính từ). Cho nên, thời điểm phát sinh cơ sở của trách nhiệm hình sự là thời điểm một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm, nhưng có thể trách nhiệm hình sự sẽ không được thực hiện trên thực tế, nếu có những điều kiện để miễn trách nhiệm hình sự cho người đó theo quy định của pháp luật hình sự trên những cơ sở chung.
Như vậy, nhằm thực hiện đầy đủ và nghiêm minh các quy định của Hiến pháp và Bộ luật TTHS, chúng tôi cho rằng, tên tội danh và nội dung trong hai điều luật trên trong BLHS nên sửa đổi, bổ sung như sau:
Bộ luật Hình sự hiện hành
Kiến nghị sửa đổi
Điều 293 - Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội
1. Người nào có thẩm quyền mà truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là không có tội, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.
......
Điều 294 - Tội không truy cứu trách nhiệmhình sự người có tội
1. Người nào có thẩm quyền mà không truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là có tội, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
......
Điều 293 - Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không phạm tội
1. Người nào có thẩm quyền mà truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là không phạm tội, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.
......
Điều 294 - Tội không truy cứu trách nhiệmhình sự người phạm tội
1. Người nào có thẩm quyền mà không truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là phạm tội, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
......

Tóm lại, suy đoán vô tội là một nguyên tắc văn minh, tiến bộ trên thế giới và trong pháp luật của nhiều quốc gia. Việc hoàn thiện các nội dung cơ bản của nó và bảo đảm tính thống nhất liên thông trong Hiến pháp, BLHS và Bộ luật TTHS không chỉ có ý nghĩa chính trị, xã hội và pháp lý quan trọng, mà còn là “lá chắn thép” trong việc phòng chống oan sai, tôn trọng và bảo vệ các giá trị cao quý của con người. Đặc biệt, qua đó còn đề cao trách nhiệm của các cơ quan THTT, người THTT trước số phận chính trị, danh dự, nhân phẩm và quyền lợi của công dân, họ vẫn có quyền và nghĩa vụ do Hiến pháp và pháp luật quy định cho đến khi có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án./.

Nguồn: Tạp chí nghiên cứu lập pháp