Hiển thị các bài đăng có nhãn suy đoán vô tội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn suy đoán vô tội. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 8 tháng 4, 2013

Bảo đảm nguyên tắc "suy đoán vô tội" và tính thống nhất giữa Hiến pháp với Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự


1. Nguyên tắc “suy đoán vô tội” và sự cần thiết phải bảo đảm tính thống nhất giữa Hiến pháp với Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự
 “Suy đoán vô tội” là sự thể hiện quan điểm của Nhà nước trong việc tôn trọng các giá trị cao quý của con người (nhân phẩm, danh dự) trong xã hội và coi một người có đủ tư cách công dân với các quyền, nghĩa vụ do Hiến pháp và pháp luật quy định, khi người đó chưa bị Tòa án (cơ quan có thẩm quyền xét xử) kết tội bằng một bản án có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, để loại trừ, ngăn ngừa sự tùy tiện, lộng quyền, áp đặt hay vi phạm pháp luật từ phía cơ quan tiến hành tố tụng (THTT), người THTT mà Hiến pháp và Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS) Việt Nam đã quy định rõ các hoạt động TTHS phải tuân thủ nghiêm chỉnh nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN) “Mọi hoạt động TTHS của cơ quan THTT, người THTT và người tham gia tố tụng phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật này” (Điều 3 Bộ luật TTHS năm 2003).
Thuật ngữ “suy đoán vô tội” chưa được Hiến pháp và pháp luật Việt Nam sử dụng và ghi nhận chính thức. Tuy nhiên, trên cơ sở những tư tưởng tiến bộ trong Điều 11 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 “Một người bị buộc tội về hình sự, đều có quyền được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội theo pháp luật, tại một phiên tòa xét xử công khai, nơi người đó được bảo đảm những điều kiện cần thiết để bào chữa cho mình...” và Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 của Liên hiệp quốc “Người bị cáo buộc là phạm tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi hành vi phạm tội của người đó được chứng minh theo pháp luật...”, thì nội dung của nguyên tắc này đã được đề cập trong Hiến pháp Việt Nam năm 1992, sửa đổi năm 2001 (Điều 72), Bộ luật TTHS năm 1988 (các điều 10, 11) và Bộ luật TTHS năm 2003 (các điều 9, 10). Cho nên, xét dưới góc độ tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân, yêu cầu của nguyên tắc “suy đoán vô tội” đòi hỏi tất cả các chủ thể, trước hết là các cơ quan THTT, người tiến hành TTHS phải tôn trọng danh dự, nhân phẩm của công dân, sau đến những người khác, cơ quan, tổ chức, báo chí, truyền thông... cũng phải đối xử và tôn trọng họ khi chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật. Còn khi họ đã có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật, thì Nhà nước đã quy định các quyền và nghĩa vụ của họ với tư cách là người đã bị kết án.
Điều 72 Hiến pháp năm 1992, sửa đổi năm 2001 quy định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đó có hiệu lực pháp luật.
Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh”.
Điều 9 Bộ luật TTHS năm 2003 nhắc lại và đặt tên nguyên tắc “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” quy định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”.
Ngoài ra, Điều 32 Dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 (Điều 72) ngày 23/11/2012 quy định: “1. Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
2. Người bị buộc tội có quyền được Tòa án xét xử. Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm.
3. Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử có quyền sử dụng trợ giúp pháp lý của người bào chữa.
4. Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam, điều tra, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật”.
Nghiên cứu Điều luật này trong Dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992, chúng tôi nhận thấy, nội dung liên quan đến nguyên tắc “suy đoán vô tội” và một số điểm hạn chế, tồn tại của Điều 72 Hiến pháp hiện hành đã được Ban soạn thảo hoàn thiện như sau:
Một là, đã bỏ đi cụm từ “và phải chịu hình phạt” trong khoản 1 để bảo đảm tính thống nhất và chặt chẽ với Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999, sửa đổi năm 2009 về miễn hình phạt (Điều 54) vì phải bao quát hai trường hợp có hậu quả pháp lý khác nhau:
a) Một người phạm tội và đến khi xét xử, trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án, người đó bị coi là có tội và bị áp dụng hình phạt;
b) Một người phạm tội nhưng đến khi xét xử, trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án, người đó bị coi là có tội nhưng không bị áp dụng hình phạt mà được miễn hình phạt.
Hai là, đã bổ sung nội dung “Người bị buộc tội có quyền được Tòa án xét xử. Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm” để bảo đảm nguyên tắc pháp chế XHCN và quyền được xét xử công bằng được ghi nhận trong Điều 10 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 “Mọi người đều bình đẳng về quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án độc lập và khách quan để xác định các quyền và nghĩa vụ của họ, cũng như bất cứ sự buộc tội nào đối với họ” và Điều 11 (đã dẫn ở trên), cũng như Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 của Liên hiệp quốc. Hơn nữa, logic đương nhiên là “người bị buộc tội” mới cần được “suy đoán vô tội”. Ngoài ra, Điều 32 Dự thảo đã bổ sung nội dung “Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử có quyền sử dụng trợ giúp pháp lý của người bào chữa” cho bảo đảm tương thích với các Công ước quốc tế (đã dẫn), cũng như tôn trọng quyền bào chữa và trợ giúp pháp lý của những người bị buộc tội tương ứng với các giai đoạn TTHS, thậm chỉ bao gồm cả người bị tình nghi (người bị bắt).
Ba là, đã bổ sung cho chính xác trong các giai đoạn tố tụng và thuật ngữ thống nhất trong Bộ luật TTHS về người bị bắt và các người tham gia tố tụng (người bị tạm giữ, tạm giam) về việc tôn trọng quyền con người của những người này. Khi họ bị điều tra, truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Còn người nào làm trái pháp luật trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam, điều tra, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật.
2. Kiến nghị sửa đổi, bổ sung Điều 32 Dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992, Điều 9 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003, Điều 293, 294 Bộ luật Hình sự hiện hành
Từ nội dung Điều 32 Dự thảo Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung Điều 72 Hiến pháp hiện hành), chúng tôi xin đóng góp thêm để hoàn thiện Điều luật này, cũng như bảo đảm tính thống nhất giữa Hiến pháp với BLHS và Bộ luật TTHS như sau:
Một là, về cơ bản, chúng tôi nhất trí với những đề xuất của Ban soạn thảo sửa đổi Hiến pháp về Điều 32 Dự thảo lần này, tuy nhiên, có ba điểm nên sửa đổi, bổ sung bao gồm:
- Khoản 1 Điều 32 Dự thảo quy định: “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Sau khi đã bỏ đi cụm từ “và phải chịu hình phạt” nội dung khoản này đã rất đầy đủ. Mặc dù vậy, để bảo đảm nội dung nguyên tắc “suy đoán vô tội” và thống nhất với quy định của Bộ luật TTHS, cũng như tương ứng với các chức năng cơ bản trong TTHS, khoản này nên bổ sung thêm nội dung: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan THTT. Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội”.
- Khoản 2 Điều 32 Dự thảo quy định: “Người bị buộc tội có quyền được Tòa án xét xử. Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm” nên sửa đổi, bổ sung thành: “Người bị buộc tội có quyền được Tòa án xét xử. Không ai bị Tòa án kết án hai lần về một tội phạm mà người đó đã bị kết án” cho bảo đảm đầy đủ nội dung (logic là thẩm quyền kết án chỉ do duy nhất Tòa án, đồng thời không thể bị kết án hai lần về một tội phạm mà người đó đã bị kết án), đồng thời phù hợp với khoản 7 Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 của Liên hiệp quốc, cũng như nguyên tắc pháp chế XHCN trong Hiến pháp và pháp luật.
- Khoản 3 Điều 32 Dự thảo quy định: “Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử có quyền sử dụng trợ giúp pháp lý của người bào chữa” nên sửa đổi, bổ sung thêm cả “những người khác theo quy định của pháp luật” (cùng với người bào chữa). Bởi lẽ, Bộ luật TTHS năm 2003 quy định người bào chữa có thể là: luật sư; người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa viên nhân dân (Điều 56), nhưng Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 còn quy định cả Trợ giúp viên pháp lý cũng được coi là người bào chữa thực hiện các nhiệm vụ như: tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện theo pháp luật... (điểm b khoản 3 Điều 21); hoặc dự phòng sau này có thể có thêm chủ thể nào đó được pháp luật quy định có quyền này.
- Khoản 4 Điều 32 Dự thảo quy định: “Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam, điều tra, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật” nên sửa đổi, bổ sung cho ngắn gọn và thống nhất với Điều 29 Bộ luật TTHS năm 2003, cũng như cần phục hồi cả các quyền lợi khác cho họ ngoài việc bồi thường, khôi phục danh dự (chức vụ, lương bổng...) như sau: “Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự, quyền lợi. Người làm trái pháp luật trong các hoạt động tố tụng đó gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh theo các quy định củapháp luật”.
Như vậy, Điều 32 Dự thảo Hiến pháp nên sửa đổi, bổ sung như sau:
 
Điều 72 Hiến pháp hiện hành
Điều 32 Dự thảo
Hiến pháp sửa đổi
Kiến nghị sửa đổi
Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đó có hiệu lực pháp luật.
Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh.
1. Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
2. Người bị buộc tội có quyền được Tòa án xét xử. Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm.
3. Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử có quyền sử dụng trợ giúp pháp lý của người bào chữa.
4. Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam, điều tra, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật.
1. Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan THTT. Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.
Người bị buộc tội có quyền được Tòa án xét xử. Không aibị kết án hai lần về một tội phạm mà người đó đã bị kết án.
3. Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử có quyền sử dụng trợ giúp pháp lý của người bào chữa và của những người khác theo quy định của pháp luật.
4. Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự, quyền lợi. Người làm trái pháp luật trong các hoạt động tố tụng đó gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lýnghiêm minh theo các quy định của pháp luật.
Hai là, thông qua việc hoàn thiện Điều 32 Dự thảo Hiến pháp sửa đổi, chúng tôi cho rằng, các bộ luật, luật dưới Hiến pháp phải phù hợp và thống nhất với Hiến pháp, vì Hiến pháp là đạo luật cơ bản. Nếu không phù hợp, mâu thuẫn với Hiến pháp phải sửa đổi, bổ sung. Do đó, liên quan đến nội dung về “suy đoán vô tội”, Điều 9 Bộ luật TTHS năm 2003 đã gián tiếp thể hiện ởnguyên tắc: “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”, còn Điều 10 quy định nguyên tắc: “Xác định sự thật vụ án” nhưng nội dung thứ hai của Điều 10 “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan THTT. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội” lại phản ánh nội dung của nguyên tắc “suy đoán vô tội”. Vì vậy, có ba nội dung cần sửa đổi, bổ sung như sau:
- Sửa đổi tên gọi Điều 9 “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” thành tên gọi “suy đoán vô tội” để tránh trùng lặp với nội dung của Điều luật này.
- Nội dung Điều 9 nêu: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” cần sửa đổi vấn đề liên quan đến vế thứ hai “và phải chịu hình phạt…” cho bảo đảm phù hợp với các quy định của BLHS và thực tiễn xét xử, cũng như thống nhất với Điều 32 Dự thảo Hiến pháp sửa đổi (đã nêu) với hai trường hợp tương ứng khác nhau.
- Chuyển nội dung thứ hai trong Điều 10 Bộ luật TTHS năm 2003 (đã nêu) đưa vào Điều 9 cho phù hợp và phản ánh nội dung của nguyên tắc “suy đoán vô tội” (còn Điều 10 chỉ còn một nội dung). Việc bổ sung này hoàn toàn phù hợp với các tư tưởng tiến bộ trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 của Liên hiệp quốc (đã nêu). Ngoài ra, việc bổ sung này còn bảo đảm trách nhiệm của các cơ quan, người THTT trong việc chứng minh tội phạm và người phạm tội, tránh làm oan người vô tội. Hơn nữa, điều này còn tương thích với pháp luật TTHS nhiều nước (ví dụ: Điều 14 Bộ luật TTHS Liên bang Nga cũng quy định về nguyên tắc “suy đoán vô tội”). Đặc biệt, Điều 48 Bộ luật TTHS có quy định về người tham gia TTHS là “Người bị tạm giữ” - cũng là một chủ thể cần được suy đoán vô tội, do đó, nên bổ sung thêm chủ thể này đầy đủ hơn.
Như vậy, Điều 9 Bộ luật TTHS năm 2003 nên sửa đổi, bổ sung như sau:
Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành
Kiến nghị sửa đổi
Điều 9. Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Điều 9. Suy đoán vô tội
1. Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
2. Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan THTT. Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.
3. Mọi sự nghi ngờ về tội phạm của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, nếu không được loại trừ theo trình tự, thủ tục do Bộ luật TTHS quy định thì các cơ quan THTT, người THTT phải giải thích theo hướng có lợi cho họ.

Ba là, tương tự, để bảo đảm tính thống nhất giữa Hiến pháp với BLHS và Bộ luật TTHS, Điều 293 về “Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội” và Điều 294 về “Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội” trong BLHS năm 1999, sửa đổi năm 2009 nên sửa tên tội và nội dung thay cụm từ “có tội” thành cụm từ “phạm tội” cho đúng với bản chất của hành vi phạm tội do chủ thể có thẩm quyền thực hiện trong từng giai đoạn tương ứng khác nhau (điều tra, truy tố, xét xử).  
Hiện trong khoa học luật hình sự, BLHS và thực tiễn xét xử tồn tại hai khái niệm “người phạm tội” và “người có tội” nên cần có sự phân biệt rạch ròi, chỉ rõ tư cách tham gia tố tụng nhằm bảo đảm quyền lợi và sinh mệnh chính trị cho họ. Thuật ngữ “người phạm tội” dùng để chỉ một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm. Nói một cách khác, hành vi do người đó thực hiện đã thỏa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm nào đó được quy định trong Phần các tội phạm BLHS và người thực hiện hành vi đó bị coi là chủ thể của tội phạm (phạm tội là động từ). Trong khi đó, thuật ngữ “người có tội” cũng được sử dụng để xác định một người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm, nhưng thu hẹp hơn với người phạm tội - với họ đã có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án (có tội là tính từ). Cho nên, thời điểm phát sinh cơ sở của trách nhiệm hình sự là thời điểm một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm, nhưng có thể trách nhiệm hình sự sẽ không được thực hiện trên thực tế, nếu có những điều kiện để miễn trách nhiệm hình sự cho người đó theo quy định của pháp luật hình sự trên những cơ sở chung.
Như vậy, nhằm thực hiện đầy đủ và nghiêm minh các quy định của Hiến pháp và Bộ luật TTHS, chúng tôi cho rằng, tên tội danh và nội dung trong hai điều luật trên trong BLHS nên sửa đổi, bổ sung như sau:
Bộ luật Hình sự hiện hành
Kiến nghị sửa đổi
Điều 293 - Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội
1. Người nào có thẩm quyền mà truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là không có tội, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.
......
Điều 294 - Tội không truy cứu trách nhiệmhình sự người có tội
1. Người nào có thẩm quyền mà không truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là có tội, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
......
Điều 293 - Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không phạm tội
1. Người nào có thẩm quyền mà truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là không phạm tội, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.
......
Điều 294 - Tội không truy cứu trách nhiệmhình sự người phạm tội
1. Người nào có thẩm quyền mà không truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là phạm tội, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
......

Tóm lại, suy đoán vô tội là một nguyên tắc văn minh, tiến bộ trên thế giới và trong pháp luật của nhiều quốc gia. Việc hoàn thiện các nội dung cơ bản của nó và bảo đảm tính thống nhất liên thông trong Hiến pháp, BLHS và Bộ luật TTHS không chỉ có ý nghĩa chính trị, xã hội và pháp lý quan trọng, mà còn là “lá chắn thép” trong việc phòng chống oan sai, tôn trọng và bảo vệ các giá trị cao quý của con người. Đặc biệt, qua đó còn đề cao trách nhiệm của các cơ quan THTT, người THTT trước số phận chính trị, danh dự, nhân phẩm và quyền lợi của công dân, họ vẫn có quyền và nghĩa vụ do Hiến pháp và pháp luật quy định cho đến khi có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án./.

Nguồn: Tạp chí nghiên cứu lập pháp

Thứ Ba, 18 tháng 12, 2012

Có cần ghi nhận nguyên tắc “suy đoán vô tội” ?


Trong thời gian vừa qua, trong các cuộc hội thảo, hội nghị, khi góp ý sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự 2003, nhiều chuyên gia kiến nghị: Bộ luật tố tụng hình sự nên chính thức ghi nhận một tư tưởng pháp lý tiến bộ, đó là “Nguyên tắc suy đoán vô tội”. Việc ghi nhận nguyên tắc này nhằm chống lại sự truy cứu chủ quan, duy ý chí của cơ quan tố tụng.
Vấn đề đặt ra là, phải chăng Bộ luật tố tụng hình sự nước ta không quy định nguyên tắc “suy đoán vô tội” đã làm cho việc khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử không khách quan, mà hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức chủ quan của người tiến hành tố tụng ? Và, nếu Bộ luật tố tụng hình sự quy định nguyên tắc “suy đoán vô tội” có cải thiện được tình hình hình “kết tội chủ quan” hay không ?
Theo số liệu thống kê của các cơ quan tiến hành tố tụng thì từ khi có Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 02-1-2002 của Bộ Chính trị đến nay, tỷ lệ các vụ án hình sự bị khởi tố, truy tố, xét xử oan hầu như rất thấp; riêng đối với ngành Toà án thì việc kết án oan hầu như không còn (theo báo cáo tổng kết công tác xét xử hàng năm); đúng ra thì hàng năm các Toà án xét xử án hình sự chưa phát hiện được người bị kết án bị oan, còn sau một thời gian, có thể một năm, hai năm, ba năm... mà phát hiện được việc kết án oan người vô tội thì chưa được thống kê. Cứ cho rằng, việc khởi tố, truy tố, xét xử còn một tỷ lệ “oan sai” nhất định thì cũng không vì thế mà đổ tại Bộ luật tố tụng hình sự không quy định nguyên tắc “suy đoán vô tội” mà nguyên nhân của oan sai lại do chính từ việc không tuân thủ các quy định, các nguyên tắc của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành.
Bản chất của nguyên tắc “suy đoán vô tội” có phải là cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng luôn luôn không được coi bị can, bị cáo là người có tội nếu như người đó chưa bị Toà án kết án hoặc tuy đã bị kết án nhưng bản án đó chưa có hiệu lực pháp luật ? Nếu đúng như vậy thì dù Bộ luật tố tụng hình sự chưa quy định nguyên tắc “suy đoán vô tội” thì cũng đã có những quy định tương tự như: “không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật” (Điều 9) và “trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội” (Điều 10) và nhiều quy định khác của Bộ luật hình sự cũng quy định cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng phải khởi tố, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, nghiên cứu pháp luật của một số nước có quy định nguyên tắc “suy đoán vô tội” thì bản chất của nguyên tắc này không phải như thế, mà nguyên tắc này được giải thích là: trong mọi trường hợp nếu một người thực hiện một hành vi mà hành vi đó còn ý kiến khác nhau về việc định tội thì phải áp dụng nguyên tắc có lợi cho người có hành vi đó, tức là không được kết tội người có hành vi; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử nếu bên “buộc tội” không đưa ra được những bằng chứng xác đáng mà “gỡ tội” lại đưa ra được những bằng chứng phản ảnh bị can, bị cáo không phạm tội thì không được truy cứu người có hành vi đó. Nguyên tắc “suy đoán vô tội” xét về mặt nào đó thì đối lập với nguyên tắc: “xác định sự thật của vụ án”. Sự thật nó thế nào thì phải chứng minh, đi tìm, chứ không được “suy đoán” theo bất cứ hướng nào. Nếu ghi nhận nguyên tắc “suy đoán vô tội” cũng tức là không cần đến nguyên tắc “xác định sự thật của vụ án”. Và như vậy, bản chất pháp luật của nước ta cũng sẽ bị thay đổi.
Nguyên tắc “suy đoán vô tội” cũng không đồng nghĩa với một số nguyên tắc tố tụng đã quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự như: Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa (Điều 3); bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật (Điều 5); bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án (Điều 19).
Thực ra, nguyên tắc “suy đoán vô tội” chỉ để giải quyết vấn đề “được-thua” giữa Luật sư với Kiểm sát viên khi tranh tụng tại phiên toà, cũng như buộc Hội đồng xét xử phải chấp nhận “thắng-thua” giữa Kiểm sát viên với Luật sư mà không cần đến sự thật.
Về lý luận cũng như thực tiễn xét xử, để khởi tố, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật thì cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng phải luôn luôn khách quan, tránh suy xét chủ quan, duy ý chí. Trong bất cứ trường hợp nào cũng phải tìm cho được sự thật của vụ án là gì. Cũng chính vì vậy, Bộ luật tố tụng hình sự quy định “trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội”
 Tuy nhiên, có nhiều trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã xem xét rất khách quan nhưng vì trình độ có hạn nên xác định sai sự thật, xác định sai tội danh, áp dụng điều luật không đúng.v.v... Vì vậy, để khởi tố, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật thì không chỉ yêu cầu người tham gia tố tụng phải khách quan mà còn phải có một trình độ pháp luật uyên thâm (phải giỏi) thì mới đáp ứng yêu cầu. Bộ luật tố tụng hình sự cũng còn những quy định cho việc chứng minh tội phạm trong trường hợp hết thời hạn điều tra mà chưa chứng minh được tội phạm thì phải đình chỉ điều tra (Điều 164). Cũng phải nói ngay rằng, không phải nước nào cũng có quy định này, mà chỉ có quy định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, chứ không quy định thời hạn điều tra, truy tố, xét xử như ở nước ta.
Cũng phải thừa nhận một thực tế là, do tố tụng của ta là tố tụng thẩm vấn, chứ không phải là tố tụng tranh tụng, mọi diễn biến vụ án đã được “viết lại” bằng hồ sơ vụ án, khi đọc hồ sơ vụ án người tiến hành tố tụng đã bị chi phối bởi các tình tiết của vụ án được “tường thuật” mà các tình tiết này có thể là sự thật và cũng có thể không phải là sự thật, nhưng nói chung các tình tiết của vụ án được thu thập theo một trình tự do pháp luật quy định nên tư duy của người tiến hành tố tụng nước ta đã hằn vào tâm trí là: bị can, bị cáo là người có tội. Tư duy này đúng là biểu hiện của sự không khách quan, là sự yếu kém của người tiến hành tố tụng, muốn sửa phải có thời gian, phải học tập, rèn luyện chứ không chỉ quy định nguyên tắc “suy đoán vô tội” trong Bộ luật tố tụng hình sự thì tư duy này cũng biến mất. Điều tra viên, Viện kiểm sát, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân lúc nào cũng nghĩ bị can, bị cáo không phải là người thực hiện hành vi phạm tội thì chứng minh làm gì nữa. Cần nhớ rằng, Bộ luật hình sự nước ta có hai khái niệm để mô tả hành vi nguy hiểm cho xã hội, đó là: tội phạm (Điều 8) và phạm tội (quy định trong các điều luật cụ thể), còn Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự quy định “không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật” là một nguyên tắc tố tụng nói lên bản chất của hành vi phạm tội. Tội phạm, phạm tội và có tội là các khái niệm hoàn toàn khác nhau. Rất tiếc, khi giải quyết vụ án trong các giai đoạn tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và có cả người tham gia tố tụng (chủ yếu là Luật sư bào chữa cho bị can, bị cáo) đã không phân biệt các khái niệm này với nhau, dẫn đến những hành vi tố tụng hoặc những yêu cầu không đúng pháp luật. Ví dụ: Tại phiên toà, Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị chủ toạ phiên toà cho mở “còng số 8” cho bị cáo vì Luật sư nói rằng, theo Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự thì bị cáo chưa bị coi là có tội, nên phải được cư xử như người bình thường. Có phiên toà chủ toạ xử lý lúng túng, không biết giải quyết thế nào. Nếu Thẩm phán nắm chắc quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì việc có mở “còng số 8” hay không không phải căn cứ vào Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự mà phải căn cứ vào tình hình an ninh, trật tự của phiên toà mà quyết định việc có mở “còng số 8” cho bị cáo hay không ?
Mục đích của nguyên tắc “suy đoàn vô tội” phải chăng là đi tìm sự thật hoặc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng hay tính công bằng giữa những người tham gia tố tụng với người tiến hành tố tụng, giữa người bào chữa (Luật sư) với Kiểm sát viên tham gia phiên toà ?... Nếu đúng như vậy, thì Bộ luật tố tụng hình sự nước ta có quá nhiều quy định bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng, dân chủ giữa người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng. Chúng ta không phủ nhận một thực tế là mặc dù Bộ luật tố tụng hình sự đã quy định tương đối đầy đủ, nhưng về phía cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng vẫn chưa thực hiện tốt các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự đối với các quyền của người tham gia tố tụng; vẫn còn tư duy cũ coi người bị khởi tố, truy tố là người đã có tội, nên từ việc xưng hô đến việc đối xử với bị can, bị cáo như là một “kẻ tội phạm", vi phạm nguyên tắc dân chủ, bình đằng, vô tư trong tố tụng hình sự; không tôn trọng và bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo; gây khó dễ cho Luật sư khi làm thủ tục bào chữa cho bị can, bị cáo.v.v...
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo. Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, là một nguyên  mà không phải quốc gia nào cũng có, nó thể hiện bản chất của Nhà nước, chứ không chỉ là sự tôn trọng sự thật. Các nước theo luật “án lệ” và tố tụng “tranh tụng” cũng quan tâm đến sự thật, nhưng “sự thật” có thể bị chôn vùi vì những quy định khắt khe khác của tố tụng, như Công tố viên “thua” Luật sư tại phiên toà. Ví dụ: Có vụ án giết người chứng cứ đã rõ, người bị truy tố đúng là thủ phạm nhưng tại phiên toà Luật sư cãi hay quá đã thuyết phục được Bồi thẩm đoàn nên Thẩm phán buộc phải tuyên bố không đủ chứng cứ buộc tội, tha bổng bị cáo, để rồi sau đó dùng quyền kiến nghị lên Toà án cấp trên xem xét lại. Ở những nước đó, còn có chế độ “Luật sư công”, tức là đối với những công tố viên yếu về trình độ hoặc chưa có kinh nghiệm xét xử thì phải mời Luật sư để giúp công tố viên buộc tội bị cáo; có khi có Luật sư rồi mà công tố vẫn thua. Công tố ở những nước như vậy chỉ gọi là “bên nguyên”, còn bị cáo là “bên bị”. Phải chăng, ở nước ta có cho phép Kiểm sát viên “thua” như vậy không ? Thực tiễn xét xử đã có trường hợp, tại phiên toà khi Luật sư đề nghị Kiểm sát viên tranh luận với mình về các chứng cứ gỡ tội mà Luật sư đưa ra để bào chữa cho bị cáo nhưng Kiểm sát viên không đủ lý lẽ để đối đáp với Luật sư nên chỉ nói một câu: “vẫn giữ nguyên ý kiến” Đã có trường hợp Luật sư bức xúc bỏ về, vì Kiểm sát viên không “thèm” đối đáp ! Việc Kiểm sát viên của ta tại phiên toà có lúc “thua” Luật sư nhưng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì Toà án còn có nhiệm vụ chứng minh tội phạm; có thể Kiểm sát viên không đối đáp nổi với Luật sư, nhưng nếu Hội đồng xét xử thấy có đủ chứng cứ buộc tội bị cáo thì sẽ được phân tích trong phần xét thấy của bản án và vấn kết án bị cáo được. Từ thực tế này, trong nhiều hội nghị, hội thảo các Luật sư đề nghị: nếu Kiểm sát viên “thua” thì Hội đồng xét xử (Toà án) phải tuyên bố bị cáo không phạm tội. Cá biệt gần đây khi thảo luận sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự cũng có nhiều ý kiến, trong đó có cả ý kiến của những người có trách nhiệm trong ngành kiểm sát cho rằng, Toà án không phải chứng minh tội phạm mà chỉ thực hiện chức năng xét xử, tức là điều khiển phiên toà để các bên tranh tụng, rồi phán quyết. Nếu quan điểm này được chấp thuận thì bản chất tố tụng của ta sẽ phải thay đổi nguyên tắc “Xác định sự thật của vụ án” cũng không cần quy định là một nguyên tắc; đồng thời phải sửa đổi, bổ sung rất nhiều quy định sao cho bản chất của tố tụng nước ta là tố tụng “tranh tụng” hoặc ít ra nó cũng “na ná” tố tụng tranh tụng như của một số nước theo luật “án lệ”. Khi Toà án không cần phải chứng minh tội phạm nữa mà việc chứng minh tội phạm hoàn toàn do Viện kiểm sát (công tố viên), thì Toà án chỉ còn mỗi việc ngồi nghe và “phán” ai nói hay, nói giỏi thì chấm cho người đó thắng, chẳng cần sự thật vụ án đó như thế nào, ai là thủ phạm nữa. Khi Toà án biết  chắc chắn một người là thủ phạm gây án nhưng vì quy định của pháp luật mà phải tuyên bố họ vô tội thì bản chất nhà nước ta liệu có còn là nhà nước của dân, do dân, vì dân nữa không ?! bản chất của xét xử và cũng là mục đích của việc xét xử ở nước ta là: Đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, còn nói như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng khi đến thăm Toà án tối cao thì còn phải được sự đồng tình của nhân dân nữa. Hiểu “được sự đồng tình của nhân dân” là phải làm cho mọi người tâm phục, khẩu phục. Thực tiễn xét xử cho thấy có nhiều vụ án Toà án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nhưng không được nhân dân đồng tình, vì cách điều khiển phiên toà, cũng như lập luận trong bản án thiếu tính thuyết phục, bị những người dự phiên toà phản ứng gay gắt, thậm chí có trường hợp tấn công Hội đồng xét xử. Ở nước ta mà xét xử theo kiểu biết chắc ai là thủ phạm rồi mà vẫn bảo là không đủ căn cứ buộc tội thì liệu có tâm phục, khẩu phục hay không ?
Công  bằng mà nói, từ năm 1975 đến nay, Toà án nước ta đã có nhiều tiến bộ vượt bậc, từ chỗ Thẩm phán và cán bộ Toà án chủ yếu là cán bộ chính trị, bộ đội chuyển ngành, tình độ pháp luật cao nhất cũng chỉ có trình độ cao đẳng Toà án, xét xử theo kiểu Toà án cách mạng thời chiến tranh thì nay đội ngũ Thẩm phán và cán bộ Toà án hầu hết đã có trình độ đại học luật, được đào tạo cơ bản và cũng không thiếu những chuyên gia giỏi về các lĩnh vực hình sự, dân sự, kinh tế, hành chính, lao động; việc xét xử đã từng bước bảo đảm “Bảo đảm tranh tụng dân chủ với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác...; việc phán quyết của Toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà”. như Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 02-1-2002 của Bộ Chính trị đã đề ra. Tuy nhiên, so với yêu cầu của cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì còn phải phấn đấu nhiều.
Sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự theo tinh thần cái cách tư pháp mà Nghị quyết số 49NQ/TW, ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị đã đề ra là việc làm cần thiết; bởi lẽ có nhiều quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 không còn phù hợp nữa, các quy định hiện hành còn nhiều mâu thuẫn, chồng chéo, nhiều vấn đề thực tiễn xét xử đặt ra chưa được thể hiện trong Bộ luật tố tụng hình sự, cần bổ sung. Ví dụ: Toà án cấp phúc thẩm có quyền chuyển án tù treo thành án tù giam hay không; người bị hại có quyền kháng cáo toàn bộ bản án Toà án cấp sơ thẩm hay không hay chỉ có quyền kháng cáo tăng hình phạt và tăng mức bồi thường ? Đại diện hợp pháp cho bị can, bị cáo là người chưa thành niên là ai ? Bào chữa viên viên nhân dân là người như thế nào ? Ai là người có quyền quyết định, huỷ bỏ, thay đổi biện pháp ngăn chặn đối với người phạm tội trong trường hợp Toà án cấp phúc thẩm chưa thụ lý hồ sơ vụ án, mà Toà án cấp sơ thẩm đã hết thẩm quyền? Toà án cấp tính có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm nữa hay không ? Thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thấm của các Toà thuộc Toà án tối cao như thế nào ? v.v... Chúng ta có nhiều việc phải làm trong công cuộc cải cách tư pháp, nhưng phải bảo đảm các nguyên tắc, mục tiêu, yêu cầu mà Nghị quyết số 49NQ/TW, ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị đề ra.
Loại trừ những động cơ khác, nếu Bộ luật tố tụng hình sự quy định nguyên tắc “suy đoán vô tội” cùng với nguyên tắc “tranh tụng” thay cho tố tụng thẩm vấn thì không chỉ phải “gỡ bỏ toàn bộ Bộ luật tố tụng hình sự để viết lại, mà toàn bộ hệ thống pháp luật của nước ta, từ Hiến pháp đến các đạo luật, từ việc tổ chức Bộ máy nhà nước đến các thiết chế thượng tầng kiến trúc cũng phải thay đổi. Và như vậy, định hướng xã hội chủ nghĩa cũng khó lòng mà giữ được.

Nguồn: Tòa án nhân dân Tối cao