Hiển thị các bài đăng có nhãn tố tụng hình sự. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tố tụng hình sự. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2013

Hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về nhập hoặc tách vụ án hình sự để tiến hành điều tra


I. Bộ luật tố tụng hình sự 2003 (BLTTHS) đã có quy định về các trường hợp nhập hoặc tách vụ án hình sự để tiến hành điều tra. Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng pháp luật của các cơ quan tư pháp ở địa phương cho thấy, quy định hiện hành của BLTTHS còn chung chung, thiếu rõ ràng; trong khi đó, các văn bản dưới luật chưa có hướng dẫn cụ thể về nội dung này, dẫn đến việc hiểu và áp dụng pháp luật của các cơ quan tư pháp không thống nhất với nhau.
Về vấn đề nhập hoặc tách vụ án hình sự để điều tra được quy định tại Điều 117 Bộ luật Tố tụng hình sự như sau:
Điều 117. Nhập hoặc tách vụ án hình sự để tiến hành điều tra
1. Cơ quan điều tra có thể nhập để tiến hành điều tra trong cùng một vụ án những trường hợp bị can phạm nhiều tội, nhiều bị can cùng tham gia một tội phạm hoặc cùng với bị can còn có những người khác che giấu tội phạm hoặc không tố giác tội phạm quy định tại Điều 313 và Điều 314 của Bộ luật hình sự.
2. Cơ quan điều tra chỉ được tách vụ án trong những trường hợp thật cần thiết khi không thể hoàn thành sớm việc điều tra đối với tất cả các tội phạm và nếu việc tách đó không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan và toàn diện của vụ án.
3. Quyết định nhập hoặc tách vụ án hình sự phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định.
Với các quy định đó, chủ thể tiến hành nhập và tách vụ án hình sự để điều tra chính là Cơ quan điều tra. Cơ quan điều tra có thể nhập vụ án hình sự để điều tra trong 3 trường hợp: 1. Bị can phạm nhiều tội; 2. Nhiều bị can cùng tham gia một tội phạm; 3. Cùng với bị can còn có những người khác che giấu tội phạm hoặc không tố giác tội phạm quy định tại Điều 313 và Điều 314 của Bộ luật hình sự.
Để tách vụ án hình sự để điều tra, Cơ quan điều tra cần đảm bảo đồng thời các điều kiện sau: 1. Không thể hoàn thành sớm việc điều tra đối với tất cả các tội phạm; 2. Việc tách đó không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan và toàn diện của vụ án.
Có thể thấy quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về việc tách vụ án hình sự để điều tra mang tính tùy nghi, mang tính định tính, dẫn đến các Cơ quan tiến hành tố tụng có thể hiểu việc nhập vụ án hình sự là hoạt động tố tụng tùy nghi, có thể nhập hoặc không nhập. Vấn đề tách vụ án hình sự cũng được quy định bằng những thuật ngữ chung chung như “thật cần thiết”, “không ảnh hưởng”…gây hiểu nhầm và không thống nhất trong việc áp dụng pháp luật. Ngoài ra, quyết định nhập hoặc tách vụ án hình sự phải được gửi cho Viện kiểm sát, nhưng để làm gì, phê chuẩn hay kiểm sát việc nhập, tách vụ án hình sự thì Bộ luật Tố tụng hình sự cũng chưa quy định rõ ràng.
Những quy định chưa đầy đủ và rõ ràng đó của Bộ luật Tố tụng hình sự cùng với việc chưa có văn bản dưới luật hướng dẫn về vấn đề này đã dẫn đến tình trạng không thống nhất và gặp nhiều khó khăn trong thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về nhập hoặc tách vụ án hình sự để điều tra.
II. Một số vướng mặc trong thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về nhập hoặc tách vụ án hình sự để điều tra:
1. Về vấn đề nhập vụ án hình sự để điều tra, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự có một số vấn đề sau:
Thứ nhất, trường hợp một bị can thực hiện nhiều tội phạm nhưng ở những địa bàn khác nhau do các Cơ quan điều tra khác nhau có thẩm quyền điều tra.
Đây là trường hợp một bị can thực hiện một loại tội phạm nhưng phạm tội nhiều lần và ở những địa bàn khác nhau. Cơ quan điều tra phát hiện tội phạm đầu tiên tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can và tiến hành tố tụng đối với vụ án đó. Tuy nhiên, các Cơ quan điều tra khác khi phát hiện tội phạm (sau) cũng tiến hành các hoạt động tố tụng tương tự. Mặc dù nhận được yêu cầu nhập vụ án hình sự để điều tra nhưng có trường hợp các Cơ quan điều tra phát hiện tội phạm (sau) cố tình không nhập vụ án mà độc lập khởi tố, điều tra vụ án đó. Cũng có trường hợp Cơ quan điều tra phát hiện tội phạm (sau) chậm trễ trong việc phối hợp để nhập vụ án hình sự, dẫn đến việc hết thời hạn điều tra và Cơ quan điều tra phát hiện tội phạm (trước) phải hoàn thiện hồ sơ, chuyển cho Viện kiểm sát để đề nghị truy tố mà không thể đợi để nhập vụ án.
Vụ án xảy tại Thành phố Hồ Chí Minh: Năm 2000, Lê Thành Trung lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại quận 7 (TP.HCM) rồi bỏ trốn nên bị Công an quận 7 truy nã. Trung trốn sang quận 3, lại lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản rồi bỏ trốn nên cũng bị Công an quận 3 truy nã. Trung trốn tiếp về Duyên Hải (Trà Vinh) rồi bị bắt vì chiếm đoạt một chiếc xe máy. Sau đó, Trung được di lý về Công an quận 7.
Các cơ quan tố tụng quận 7 đã nhiều lần thông báo cho quận 3 phối hợp nhập vụ án để giải quyết chung nhưng không được hồi đáp. Vì thế, TAND quận 7 đã đưa Trung ra xét xử về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, phạt Trung hai năm tù. Năm 2003, vừa chấp hành án xong trở về, Trung lại bị Công an quận 3 bắt theo lệnh truy nã để điều tra về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Sau đó, Trung tiếp tục bị TAND quận 3 phạt án tù.
Một vụ án khác, khoảng 2 giờ ngày 23-11-2010, tại đường Phạm Thế Hiển, quận 8 (TP.HCM), Nguyễn Văn Minh, Phan Văn Tùng, Đinh Thanh Vũ và Trần Văn Hồi đã chặn xe máy của một phụ nữ bắt đưa tiền. Khi nạn nhân từ chối, Tùng rút dao đâm thủng yên xe thị uy, Minh và Vũ cũng rút dao kề cổ nạn nhân, làm nạn nhân sợ hãi phải vét sạch túi được 1,3 triệu đồng nộp cho chúng.
Bị Công an quận 8 bắt, bốn gã này khai nhận chỉ trong vòng 2 tiếng trước, chúng đã thực hiện liên tiếp hai vụ cướp tại một quận giáp ranh là quận 7. Cụ thể, khoảng 0 giờ ngày 23-11, chúng đã dùng dao khống chế cướp điện thoại di động của một người đàn ông. 1 tiếng sau, chúng lại dùng dao khống chế cướp 400.000 đồng của một cặp vợ chồng.
Công an quận 8 đã gửi công văn yêu cầu Công an quận 7 phối hợp điều tra. Tuy nhiên, Công an quận 7 đã không phối hợp ngay mà độc lập khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Đầu năm 2011, khi hồ sơ vụ án được chuyển sang VKSND quận 7, cơ quan này mới làm công văn chuyển hồ sơ cho Công an quận 8 để phối hợp giải quyết. Về phần mình, do trước đó phải chờ đợi quá lâu nên cơ quan điều tra Công an quận 8 đã ra quyết định từ chối nhập vụ án, tự giải quyết riêng.
Có thể khái quát các trường hợp trên như sau: A  gây 2 vụ án ở 2 huyện khác nhau là B và C thuộc tỉnh H. Ở mỗi huyện này, A gây ra 1 vụ “trộm cắp tài sản”. Cơ quan điều tra huyện B khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với A về tội “trộm cắp tài sản” xảy ra ở địa phương mình. Cơ quan điều tra huyện C cũng tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với A về tội nêu trên (đối với hành vi phạm tội ở huyện C). Mặc dù được yêu cầu phối hợp nhập vụ án để điều tra, nhưng Cơ quan điều tra huyện C do nhiều lí do (chủ quan và khách quan) đã không (hoặc chậm trễ) phối hợp để nhập vụ án hình sự. Dẫn đến hết thời hạn điều tra nên Cơ quan điều tra huyện B kết thúc điều tra, đề nghị Viện kiểm sát truy tố bị can A. Sau đó, huyện C tiến hành truy tố, xét xử độc lập đối với A.
Với trường hợp trên, có quan điểm cho rằng, căn cứ Điều 117 BLTTHS thì các vụ án trên phải được nhập lại để cơ quan tư pháp huyện B tiến hành điều tra, truy tố, xét xử toàn bộ các hành vi của A ở cả hai huyện. Khi đó, bị cáo A chỉ bị tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần” mà không phải bị xử lý bằng 2 lần, 2 bản án sẽ không phải chịu hình phạt nặng. Điều này cũng phù hợp với nguyên tắc có lợi cho bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự.
Cũng có ý kiến cho rằng Điều 117 BLTTHS cũng không có quy định bắt buộc phải nhập vụ án của hai địa phương khác nhau để tiến hành điều tra. Trong vụ án này, các bị can thực hiện các hành vi phạm tội độc lập ở những địa phương khác nhau, nên có thể xử lý độc lập. Việc không nhập vụ án nêu trên là không trái pháp luật.
Theo chúng tôi, việc Cơ quan điều tra không tiến hành nhập vụ án trên để điều tra là trái pháp luật. Bởi lẽ, Điều 117, Bộ luật Tố tụng hình sự quy định rõ đây là trường hợp bị can phạm nhiều tội, có thể nhập vụ án hình sự để điều tra mà không phụ thuộc vào địa bàn thực hiện tội phạm. Điều này cũng phù hợp với nguyên tắc có lợi cho bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự. Khi nhập vụ án hình sự để điều tra, bị cáo A chỉ bị tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần” mà không phải bị xử lý bằng 2 lần, 2 bản án sẽ không phải chịu hình phạt nặng. Việc quy định bắt buộc phải nhập vụ án trong trường hợp này cũng góp phần hạn chế tiêu cực trong tố tụng hình sự, tránh oan, sai trong tố tụng hình sự. Trao đổi với nhiều điều tra viên ở địa phương, có nhiều trường hợp các Cơ quan điều tra còn cố tình không nhập vụ án để điều tra nhằm tăng hình phạt đối với bị can, bị cáo (phạm tội chuyên nghiệp, lưu manh, côn đồ…). Điều này vi phạm các nguyên tắc tố tụng hình sự.
Xảy ra tình trạng có nhiều quan điểm khác nhau về việc nhập vụ án trong trường hợp này là do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định chưa chặt chẽ về trường hợp nhập vụ án nếu bị can thực hiện tội phạm ở nhiều địa bàn khác nhau. Cần phải bổ sung các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về trường hợp này theo hướng quy định rõ Cơ quan điều tra nào có quyền yêu cầu Cơ quan điều tra khác nhập vụ án, thời hạn nhập vụ án, trách nhiệm đối với trường hợp chậm trễ trong việc nhập vụ án.
Thứ hai, trường hợp những bị can khác nhau phạm các tội khác nhau nhưng liên quan chặt chẽ với nhau cả về thời gian và không gian hoặc trường hợp một người vừa là bị can, vừa là người bị hại.
Trong thực tiễn tố tụng hình sự, có nhiều trường hợp các bị can khác nhau phạm các tội khác nhau nhưng các tội này lại liên quan chặt chẽ với nhau. Chẳng hạn bị can A thực hiện hành vi “cướp tài sản” để lấy tài sản đem bán cho B. A bị khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội “cướp tài sản” được quy định tại khoản 1, Điều 133 – Bộ luật Hình sự. Cơ quan điều tra cũng khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với B về tội “chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự.
Trong một trường hợp khác, tháng 5-2010, Phạm Văn Trường gặp Trương Hồng Hào ở một quán cà phê tại huyện Châu Thành (Hậu Giang). Vốn xích mích từ trước, Trường dùng ly thủy tinh đập vào đầu Hào khiến Hào bị thương tật 14%. Hào cầm một cục gạch ống ném trúng trán Trường gây thương tật 31%. Sau đó, Hào yêu cầu Công an huyện Châu Thành khởi tố Trường. Thấy vậy, Trường cũng yêu cầu công an huyện khởi tố Hào.
Mới đây, Công an huyện Châu Thành đã ra quyết định khởi tố Trường về hành vi cố ý gây thương tích. Đối với Hào, dù xác định có dấu hiệu phạm tội cố ý gây thương tích nhưng cơ quan điều tra lại lúng túng, không biết nên nhập hành vi ném gạch của Hào vào chung một vụ án với Trường để xử lý hay tách ra thành một vụ án độc lập khác.
Trong những trường hợp này, có quan điểm cho rằng: Cơ quan điều tra phải nhập vụ án hình sự để điều tra và việc nhập vụ án nêu trên là đúng pháp luật và trường hợp trên không thể xử lý độc lập. Bởi lẽ, tính liên quan ở các hành vi của các vụ án nêu trên là chặt chẽ, khăng khít nhau cả về mặt thời gian và không gian. Nếu giải quyết độc lập hai vụ án sẽ gây khó khăn, phức tạp trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử.
Ý kiến thứ hai cho rằng: Quyết định nhập vụ án nêu trên của cơ quan điều tra là trái pháp luật. Bởi vì, theo quy định tại khoản 1 Điều 117 BLTTHS thì chỉ được nhập vụ án khi cùng một vụ án những trường hợp bị can phạm nhiều tội, nhiều bị can cùng tham gia một tội phạm hoặc cùng với bị can còn có những người khác che giấu tội phạm hoặc không tố giác tội phạm quy định tại Điều 313 và Điều 314 của BLHS. Trong trường hợp thứ hai, từng bị can A, B không phạm nhiều tội; B bị khởi tố về tội “chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là độc lập với tội mà cơ quan điều tra đã khởi tố trước đó với A. Trường hợp B phạm vào tội độc lập thì chỉ nhập vụ án khi B phạm tội “che giấu tội phạm” hoặc “không tố giác tội phạm” quy định tại Điều 313, 314 BLHS.
Theo chúng tôi, trong trường hợp này nếu đối chiếu với quy định tại khoản 1 Điều 117 Bộ luật Tố tụng hình sự thì rõ ràng việc nhập vụ án hình sự để điều tra là trái pháp luật. Vì rõ ràng theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Tố tụng hình sự thì đây là những trường hợp “không thể” nhập vụ án hình sự để điều tra.
Trong trường hợp này có thể các vụ án có liên quan với nhau nhưng đây vẫn là những vụ án hoàn toàn độc lập cả về người phạm tội và tội phạm. Tính liên quan ở đây cũng chỉ được xác định một cách tương đối, không có căn cứ cụ thể thể xác định mức độ liên quan của những vụ án độc lập này.
Mặc dù việc tách vụ án hình sự có thể gây một số khó khăn cho hoạt động tố tụng như tốn kém công sức, lực lượng tố tụng, điều tra viên không thuận lợi trong hoạt động hỏi cung, lấy lời khai…nhưng việc không nhập vụ án là phù hợp với các quy định của pháp luật. Ngoài ra, việc không nhập vụ án trong giai đoạn điều tra cũng đảm bảo cho các Cơ quan tiến hành tố tụng khác hoạt động được thuận lợi. Rõ ràng Tòa án phải xử trường hợp trên thành 2 vụ án riêng lẻ. Không thể trong cùng một phiên tòa mà một người vừa là bị cáo, vừa là người bị hại.
2. Về vấn đề tách vụ án hình sự để điều tra, khoản 2 Điều 117 BLTTHS quy định: Cơ quan điều tra chỉ được tách vụ án trong những trường hợp thật cần thiết khi không thể hoàn thành sớm việc điều tra đối với tất cả các tội phạm và nếu việc tách đó không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan và toàn diện của vụ án. Cũng tương tự như trường hợp nhập vụ án được nêu ở phần trên, trong thực tiễn áp dụng pháp luật vẫn còn có những tranh cãi về điều khoản này.
Trong một vụ án hình sự, 3 bị can A, B và C là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định và nơi cư trú rõ ràng cùng thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản. Cơ quan điều tra đã khởi tố cả ba đối tượng trên về cùng tội danh trên, trong đó A, B bị tạm giam còn C thì bỏ trốn (đã có lệnh truy nã). Khi hết thời hạn tạm giam đối với A và B (bao gồm cả thời hạn đã gia hạn), thì thời hạn điều tra vẫn còn nhưng không xác định được C đang ở đâu. Do không thể áp dụng biện pháp ngăn chặn khác đối với A và B, Cơ quan điều tra đã kết thúc điều tra đề nghị truy tố A và B.
Có quan điểm cho rằng vụ án này cần tách vụ án đối với bị can C, để sau khi thời hạn điều tra đã hết mà vẫn không bắt được C thì cơ quan điều tra căn cứ Khoản 1 Điều 160 BLTTHS để ra quyết định tạm đình chỉ điều tra đối với C.
Quan điểm thứ hai cho rằng, không thể tách hành vi của C ra thành 1 vụ án riêng. Bởi vì tách như vậy sẽ ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, vì thực tế A, B và C cùng thực hiện một hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm tổ chức hoặc thực hành. Theo quan điểm này thì Cơ quan điều tra có thể ra quyết định tạm đình chỉ  điều tra đối với C ngay khi kết luận điều tra với A, B vì thời hạn điều tra (không tính thời hạn gia hạn) đối với C đã hết.
Theo chúng tôi, đây là trường hợp Cơ quan điều tra không thể hoàn thành sớm việc điều tra đối với tất cả các tội phạm (vì C đang trốn), và việc tách C ra để xử lý riêng cũng không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật vụ án. Do vậy, đối chiếu với quy định tại Điều 117 Bộ luật Tố tụng hình sự, vụ án trên cần được tách ra để đảm bảo việc truy tố đối với A và B khi hết thời hạn tạm giam đối với A và B. Đồng thời, sau khi hết thời hạn điều tra vụ án mà vẫn không xác định được C đang ở đâu thì Cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ vụ án theo quy định tại Điều 160 BLTTHS.
III. Hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự về nhập và tách vụ án hình sự để điều tra:
Từ những quy định chưa rõ ràng và thống nhất của Bộ luật Tố tụng hình sự về nhập, tách vụ án hình sự để điều tra cũng như từ những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định này, chúng tôi đề xuất một số vấn đề nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về nhập và tách vụ án hình sự để điều tra như sau:
Một là, tránh dùng những thuật ngữ chung chung trong quy định của điều luật quy định về nhập và tách vụ án hình sự để điều tra vì sẽ dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau hoặc hiểu tùy nghi. Khoản 1 Điều 117 quy định: “Cơ quan điều tra có thể nhập để tiến hành điều tra trong cùng một vụ án…”. Quy định này dẫn đến việc tư duy cho rằng việc nhập vụ án để điều tra là quyền, chứ không phải là nghĩa vụ của Cơ quan điều tra, và rằng đây là một quy phạm tùy nghi, Cơ quan điều tra nếu xét thấy thuận lợi cho hoạt động điều tra thì có thể nhập vụ án, không nhập cũng không sao (mặc dù thuộc các trường hợp mà khoản 1 Điều 117 quy định). Điều này dẫn đến việc áp dụng không thống nhất, mà nhiều trường hợp việc nhập hay không nhập vụ án ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị can. Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 117 quy định: “Được tách vụ án trong những trường hợp thật cần thiết… và nếu việc tách đó không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan và toàn diện của vụ án.”. Thế nào là “trường hợp thật cần thiết” và “không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan và toàn diện của vụ án” hoàn toàn thuộc nhận định cảm tính của từng Cơ quan tố tụng khi mà hiện nay chưa có văn bản nào hướng dẫn. Điều này cũng dẫn đến cách áp dụng khác nhau của các Cơ quan tiến hành tố tụng.
Hai là, Bộ luật Tố tụng hình sự cần quy định rõ ràng hơn theo phương pháp liệt kê, loại trừ từng trường hợp cần tách hoặc nhập vụ án. Và cũng quy định rõ ràng là chỉ được nhập hoặc tách vụ án hình sự để điều tra trong những trường hợp đó mà thôi, tránh trường hợp các Cơ quan điều tra nhập và tách vụ án trong những trường hợp mà Bộ luật Tố tụng hình sự không quy định như hiện nay.
Ba là, Bộ luật Tố tụng hình sự cần quy định rõ chủ thể tiến hành nhập, tách vụ án hình sự để điều tra trong trường hợp bị can thực hiện tội phạm ở nhiều địa bàn khác nhau theo hướng Cơ quan điều tra phát hiện tội phạm đầu tiên là Cơ quan điều tra có quyền yêu cầu các Cơ quan điều tra khác tiến hành nhập vụ án hình sự để điều tra. Việc nhập vụ án hình sự giữa các Cơ quan điều tra khác nhau phải thông qua Viện kiểm sát. Liên quan đến quy định này cần quy định rõ thời hạn nhập vụ án hình sự từ khi có yêu cầu, trình tự, thủ tục nhập vụ án hình sự…
Bốn là, quy định rõ về thời hạn điều tra và thời hạn tạm giam để điều tra trong trường hợp nhập và tách vụ án hình sự để không gây bất lợi cho bị can trong quá trình điều tra vụ án hình sự.
Năm là, trong  thời gian chờ Bộ luật Tố tụng hình sự sửa đổi cần phải có một thông tư liên tịch giữa ba ngành Công an, Viện kiểm sát, Tòa án hướng dẫn cụ thể về việc tách, nhập vụ án để áp dụng thống nhất.
Theo chúng tôi, Điều 117 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được sửa đổi như sau:
“Điều 117. Nhập hoặc tách vụ án hình sự để tiến hành điều tra
1. Cơ quan điều tra nhập để tiến hành điều tra trong cùng một vụ án những trường hợp bị can phạm nhiều tội, nhiều bị can cùng tham gia một tội phạm hoặc cùng với bị can còn có những người khác che giấu tội phạm hoặc không tố giác tội phạm quy định tại Điều 313 và Điều 314 của Bộ luật hình sự.
2. Cơ quan điều tra tách vụ án trong trường hợp không thể hoàn thành sớm việc điều tra đối với tất cả các tội phạm hoặc các bị can trong vụ án và việc tách đó không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan và toàn diện của vụ án.
3. Cơ quan điều tra đầu tiên tiến hành tố tụng đối với vụ án đó theo thẩm quyền có quyền yêu cầu các Cơ quan điều tra cùng cấp nhập vụ án để điều tra. Trong thời hạn 3 ngày kể từ khi nhận được yêu cầu nhập vụ án, Cơ quan điều tra nhận được yêu cầu phải tiến hành nhập vụ án.
4. Quyết định nhập hoặc tách vụ án hình sự phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định để kiểm sát việc nhập hoặc tách vụ án hình sự.”./.
 Nguồn: www.moj.gov.vn

Thứ Ba, 18 tháng 12, 2012

Có cần ghi nhận nguyên tắc “suy đoán vô tội” ?


Trong thời gian vừa qua, trong các cuộc hội thảo, hội nghị, khi góp ý sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự 2003, nhiều chuyên gia kiến nghị: Bộ luật tố tụng hình sự nên chính thức ghi nhận một tư tưởng pháp lý tiến bộ, đó là “Nguyên tắc suy đoán vô tội”. Việc ghi nhận nguyên tắc này nhằm chống lại sự truy cứu chủ quan, duy ý chí của cơ quan tố tụng.
Vấn đề đặt ra là, phải chăng Bộ luật tố tụng hình sự nước ta không quy định nguyên tắc “suy đoán vô tội” đã làm cho việc khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử không khách quan, mà hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức chủ quan của người tiến hành tố tụng ? Và, nếu Bộ luật tố tụng hình sự quy định nguyên tắc “suy đoán vô tội” có cải thiện được tình hình hình “kết tội chủ quan” hay không ?
Theo số liệu thống kê của các cơ quan tiến hành tố tụng thì từ khi có Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 02-1-2002 của Bộ Chính trị đến nay, tỷ lệ các vụ án hình sự bị khởi tố, truy tố, xét xử oan hầu như rất thấp; riêng đối với ngành Toà án thì việc kết án oan hầu như không còn (theo báo cáo tổng kết công tác xét xử hàng năm); đúng ra thì hàng năm các Toà án xét xử án hình sự chưa phát hiện được người bị kết án bị oan, còn sau một thời gian, có thể một năm, hai năm, ba năm... mà phát hiện được việc kết án oan người vô tội thì chưa được thống kê. Cứ cho rằng, việc khởi tố, truy tố, xét xử còn một tỷ lệ “oan sai” nhất định thì cũng không vì thế mà đổ tại Bộ luật tố tụng hình sự không quy định nguyên tắc “suy đoán vô tội” mà nguyên nhân của oan sai lại do chính từ việc không tuân thủ các quy định, các nguyên tắc của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành.
Bản chất của nguyên tắc “suy đoán vô tội” có phải là cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng luôn luôn không được coi bị can, bị cáo là người có tội nếu như người đó chưa bị Toà án kết án hoặc tuy đã bị kết án nhưng bản án đó chưa có hiệu lực pháp luật ? Nếu đúng như vậy thì dù Bộ luật tố tụng hình sự chưa quy định nguyên tắc “suy đoán vô tội” thì cũng đã có những quy định tương tự như: “không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật” (Điều 9) và “trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội” (Điều 10) và nhiều quy định khác của Bộ luật hình sự cũng quy định cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng phải khởi tố, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, nghiên cứu pháp luật của một số nước có quy định nguyên tắc “suy đoán vô tội” thì bản chất của nguyên tắc này không phải như thế, mà nguyên tắc này được giải thích là: trong mọi trường hợp nếu một người thực hiện một hành vi mà hành vi đó còn ý kiến khác nhau về việc định tội thì phải áp dụng nguyên tắc có lợi cho người có hành vi đó, tức là không được kết tội người có hành vi; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử nếu bên “buộc tội” không đưa ra được những bằng chứng xác đáng mà “gỡ tội” lại đưa ra được những bằng chứng phản ảnh bị can, bị cáo không phạm tội thì không được truy cứu người có hành vi đó. Nguyên tắc “suy đoán vô tội” xét về mặt nào đó thì đối lập với nguyên tắc: “xác định sự thật của vụ án”. Sự thật nó thế nào thì phải chứng minh, đi tìm, chứ không được “suy đoán” theo bất cứ hướng nào. Nếu ghi nhận nguyên tắc “suy đoán vô tội” cũng tức là không cần đến nguyên tắc “xác định sự thật của vụ án”. Và như vậy, bản chất pháp luật của nước ta cũng sẽ bị thay đổi.
Nguyên tắc “suy đoán vô tội” cũng không đồng nghĩa với một số nguyên tắc tố tụng đã quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự như: Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa (Điều 3); bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật (Điều 5); bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án (Điều 19).
Thực ra, nguyên tắc “suy đoán vô tội” chỉ để giải quyết vấn đề “được-thua” giữa Luật sư với Kiểm sát viên khi tranh tụng tại phiên toà, cũng như buộc Hội đồng xét xử phải chấp nhận “thắng-thua” giữa Kiểm sát viên với Luật sư mà không cần đến sự thật.
Về lý luận cũng như thực tiễn xét xử, để khởi tố, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật thì cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng phải luôn luôn khách quan, tránh suy xét chủ quan, duy ý chí. Trong bất cứ trường hợp nào cũng phải tìm cho được sự thật của vụ án là gì. Cũng chính vì vậy, Bộ luật tố tụng hình sự quy định “trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội”
 Tuy nhiên, có nhiều trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã xem xét rất khách quan nhưng vì trình độ có hạn nên xác định sai sự thật, xác định sai tội danh, áp dụng điều luật không đúng.v.v... Vì vậy, để khởi tố, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật thì không chỉ yêu cầu người tham gia tố tụng phải khách quan mà còn phải có một trình độ pháp luật uyên thâm (phải giỏi) thì mới đáp ứng yêu cầu. Bộ luật tố tụng hình sự cũng còn những quy định cho việc chứng minh tội phạm trong trường hợp hết thời hạn điều tra mà chưa chứng minh được tội phạm thì phải đình chỉ điều tra (Điều 164). Cũng phải nói ngay rằng, không phải nước nào cũng có quy định này, mà chỉ có quy định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, chứ không quy định thời hạn điều tra, truy tố, xét xử như ở nước ta.
Cũng phải thừa nhận một thực tế là, do tố tụng của ta là tố tụng thẩm vấn, chứ không phải là tố tụng tranh tụng, mọi diễn biến vụ án đã được “viết lại” bằng hồ sơ vụ án, khi đọc hồ sơ vụ án người tiến hành tố tụng đã bị chi phối bởi các tình tiết của vụ án được “tường thuật” mà các tình tiết này có thể là sự thật và cũng có thể không phải là sự thật, nhưng nói chung các tình tiết của vụ án được thu thập theo một trình tự do pháp luật quy định nên tư duy của người tiến hành tố tụng nước ta đã hằn vào tâm trí là: bị can, bị cáo là người có tội. Tư duy này đúng là biểu hiện của sự không khách quan, là sự yếu kém của người tiến hành tố tụng, muốn sửa phải có thời gian, phải học tập, rèn luyện chứ không chỉ quy định nguyên tắc “suy đoán vô tội” trong Bộ luật tố tụng hình sự thì tư duy này cũng biến mất. Điều tra viên, Viện kiểm sát, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân lúc nào cũng nghĩ bị can, bị cáo không phải là người thực hiện hành vi phạm tội thì chứng minh làm gì nữa. Cần nhớ rằng, Bộ luật hình sự nước ta có hai khái niệm để mô tả hành vi nguy hiểm cho xã hội, đó là: tội phạm (Điều 8) và phạm tội (quy định trong các điều luật cụ thể), còn Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự quy định “không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật” là một nguyên tắc tố tụng nói lên bản chất của hành vi phạm tội. Tội phạm, phạm tội và có tội là các khái niệm hoàn toàn khác nhau. Rất tiếc, khi giải quyết vụ án trong các giai đoạn tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và có cả người tham gia tố tụng (chủ yếu là Luật sư bào chữa cho bị can, bị cáo) đã không phân biệt các khái niệm này với nhau, dẫn đến những hành vi tố tụng hoặc những yêu cầu không đúng pháp luật. Ví dụ: Tại phiên toà, Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị chủ toạ phiên toà cho mở “còng số 8” cho bị cáo vì Luật sư nói rằng, theo Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự thì bị cáo chưa bị coi là có tội, nên phải được cư xử như người bình thường. Có phiên toà chủ toạ xử lý lúng túng, không biết giải quyết thế nào. Nếu Thẩm phán nắm chắc quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì việc có mở “còng số 8” hay không không phải căn cứ vào Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự mà phải căn cứ vào tình hình an ninh, trật tự của phiên toà mà quyết định việc có mở “còng số 8” cho bị cáo hay không ?
Mục đích của nguyên tắc “suy đoàn vô tội” phải chăng là đi tìm sự thật hoặc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng hay tính công bằng giữa những người tham gia tố tụng với người tiến hành tố tụng, giữa người bào chữa (Luật sư) với Kiểm sát viên tham gia phiên toà ?... Nếu đúng như vậy, thì Bộ luật tố tụng hình sự nước ta có quá nhiều quy định bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng, dân chủ giữa người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng. Chúng ta không phủ nhận một thực tế là mặc dù Bộ luật tố tụng hình sự đã quy định tương đối đầy đủ, nhưng về phía cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng vẫn chưa thực hiện tốt các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự đối với các quyền của người tham gia tố tụng; vẫn còn tư duy cũ coi người bị khởi tố, truy tố là người đã có tội, nên từ việc xưng hô đến việc đối xử với bị can, bị cáo như là một “kẻ tội phạm", vi phạm nguyên tắc dân chủ, bình đằng, vô tư trong tố tụng hình sự; không tôn trọng và bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo; gây khó dễ cho Luật sư khi làm thủ tục bào chữa cho bị can, bị cáo.v.v...
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo. Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, là một nguyên  mà không phải quốc gia nào cũng có, nó thể hiện bản chất của Nhà nước, chứ không chỉ là sự tôn trọng sự thật. Các nước theo luật “án lệ” và tố tụng “tranh tụng” cũng quan tâm đến sự thật, nhưng “sự thật” có thể bị chôn vùi vì những quy định khắt khe khác của tố tụng, như Công tố viên “thua” Luật sư tại phiên toà. Ví dụ: Có vụ án giết người chứng cứ đã rõ, người bị truy tố đúng là thủ phạm nhưng tại phiên toà Luật sư cãi hay quá đã thuyết phục được Bồi thẩm đoàn nên Thẩm phán buộc phải tuyên bố không đủ chứng cứ buộc tội, tha bổng bị cáo, để rồi sau đó dùng quyền kiến nghị lên Toà án cấp trên xem xét lại. Ở những nước đó, còn có chế độ “Luật sư công”, tức là đối với những công tố viên yếu về trình độ hoặc chưa có kinh nghiệm xét xử thì phải mời Luật sư để giúp công tố viên buộc tội bị cáo; có khi có Luật sư rồi mà công tố vẫn thua. Công tố ở những nước như vậy chỉ gọi là “bên nguyên”, còn bị cáo là “bên bị”. Phải chăng, ở nước ta có cho phép Kiểm sát viên “thua” như vậy không ? Thực tiễn xét xử đã có trường hợp, tại phiên toà khi Luật sư đề nghị Kiểm sát viên tranh luận với mình về các chứng cứ gỡ tội mà Luật sư đưa ra để bào chữa cho bị cáo nhưng Kiểm sát viên không đủ lý lẽ để đối đáp với Luật sư nên chỉ nói một câu: “vẫn giữ nguyên ý kiến” Đã có trường hợp Luật sư bức xúc bỏ về, vì Kiểm sát viên không “thèm” đối đáp ! Việc Kiểm sát viên của ta tại phiên toà có lúc “thua” Luật sư nhưng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì Toà án còn có nhiệm vụ chứng minh tội phạm; có thể Kiểm sát viên không đối đáp nổi với Luật sư, nhưng nếu Hội đồng xét xử thấy có đủ chứng cứ buộc tội bị cáo thì sẽ được phân tích trong phần xét thấy của bản án và vấn kết án bị cáo được. Từ thực tế này, trong nhiều hội nghị, hội thảo các Luật sư đề nghị: nếu Kiểm sát viên “thua” thì Hội đồng xét xử (Toà án) phải tuyên bố bị cáo không phạm tội. Cá biệt gần đây khi thảo luận sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự cũng có nhiều ý kiến, trong đó có cả ý kiến của những người có trách nhiệm trong ngành kiểm sát cho rằng, Toà án không phải chứng minh tội phạm mà chỉ thực hiện chức năng xét xử, tức là điều khiển phiên toà để các bên tranh tụng, rồi phán quyết. Nếu quan điểm này được chấp thuận thì bản chất tố tụng của ta sẽ phải thay đổi nguyên tắc “Xác định sự thật của vụ án” cũng không cần quy định là một nguyên tắc; đồng thời phải sửa đổi, bổ sung rất nhiều quy định sao cho bản chất của tố tụng nước ta là tố tụng “tranh tụng” hoặc ít ra nó cũng “na ná” tố tụng tranh tụng như của một số nước theo luật “án lệ”. Khi Toà án không cần phải chứng minh tội phạm nữa mà việc chứng minh tội phạm hoàn toàn do Viện kiểm sát (công tố viên), thì Toà án chỉ còn mỗi việc ngồi nghe và “phán” ai nói hay, nói giỏi thì chấm cho người đó thắng, chẳng cần sự thật vụ án đó như thế nào, ai là thủ phạm nữa. Khi Toà án biết  chắc chắn một người là thủ phạm gây án nhưng vì quy định của pháp luật mà phải tuyên bố họ vô tội thì bản chất nhà nước ta liệu có còn là nhà nước của dân, do dân, vì dân nữa không ?! bản chất của xét xử và cũng là mục đích của việc xét xử ở nước ta là: Đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, còn nói như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng khi đến thăm Toà án tối cao thì còn phải được sự đồng tình của nhân dân nữa. Hiểu “được sự đồng tình của nhân dân” là phải làm cho mọi người tâm phục, khẩu phục. Thực tiễn xét xử cho thấy có nhiều vụ án Toà án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nhưng không được nhân dân đồng tình, vì cách điều khiển phiên toà, cũng như lập luận trong bản án thiếu tính thuyết phục, bị những người dự phiên toà phản ứng gay gắt, thậm chí có trường hợp tấn công Hội đồng xét xử. Ở nước ta mà xét xử theo kiểu biết chắc ai là thủ phạm rồi mà vẫn bảo là không đủ căn cứ buộc tội thì liệu có tâm phục, khẩu phục hay không ?
Công  bằng mà nói, từ năm 1975 đến nay, Toà án nước ta đã có nhiều tiến bộ vượt bậc, từ chỗ Thẩm phán và cán bộ Toà án chủ yếu là cán bộ chính trị, bộ đội chuyển ngành, tình độ pháp luật cao nhất cũng chỉ có trình độ cao đẳng Toà án, xét xử theo kiểu Toà án cách mạng thời chiến tranh thì nay đội ngũ Thẩm phán và cán bộ Toà án hầu hết đã có trình độ đại học luật, được đào tạo cơ bản và cũng không thiếu những chuyên gia giỏi về các lĩnh vực hình sự, dân sự, kinh tế, hành chính, lao động; việc xét xử đã từng bước bảo đảm “Bảo đảm tranh tụng dân chủ với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác...; việc phán quyết của Toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà”. như Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 02-1-2002 của Bộ Chính trị đã đề ra. Tuy nhiên, so với yêu cầu của cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì còn phải phấn đấu nhiều.
Sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự theo tinh thần cái cách tư pháp mà Nghị quyết số 49NQ/TW, ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị đã đề ra là việc làm cần thiết; bởi lẽ có nhiều quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 không còn phù hợp nữa, các quy định hiện hành còn nhiều mâu thuẫn, chồng chéo, nhiều vấn đề thực tiễn xét xử đặt ra chưa được thể hiện trong Bộ luật tố tụng hình sự, cần bổ sung. Ví dụ: Toà án cấp phúc thẩm có quyền chuyển án tù treo thành án tù giam hay không; người bị hại có quyền kháng cáo toàn bộ bản án Toà án cấp sơ thẩm hay không hay chỉ có quyền kháng cáo tăng hình phạt và tăng mức bồi thường ? Đại diện hợp pháp cho bị can, bị cáo là người chưa thành niên là ai ? Bào chữa viên viên nhân dân là người như thế nào ? Ai là người có quyền quyết định, huỷ bỏ, thay đổi biện pháp ngăn chặn đối với người phạm tội trong trường hợp Toà án cấp phúc thẩm chưa thụ lý hồ sơ vụ án, mà Toà án cấp sơ thẩm đã hết thẩm quyền? Toà án cấp tính có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm nữa hay không ? Thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thấm của các Toà thuộc Toà án tối cao như thế nào ? v.v... Chúng ta có nhiều việc phải làm trong công cuộc cải cách tư pháp, nhưng phải bảo đảm các nguyên tắc, mục tiêu, yêu cầu mà Nghị quyết số 49NQ/TW, ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị đề ra.
Loại trừ những động cơ khác, nếu Bộ luật tố tụng hình sự quy định nguyên tắc “suy đoán vô tội” cùng với nguyên tắc “tranh tụng” thay cho tố tụng thẩm vấn thì không chỉ phải “gỡ bỏ toàn bộ Bộ luật tố tụng hình sự để viết lại, mà toàn bộ hệ thống pháp luật của nước ta, từ Hiến pháp đến các đạo luật, từ việc tổ chức Bộ máy nhà nước đến các thiết chế thượng tầng kiến trúc cũng phải thay đổi. Và như vậy, định hướng xã hội chủ nghĩa cũng khó lòng mà giữ được.

Nguồn: Tòa án nhân dân Tối cao

Thứ Năm, 1 tháng 11, 2012

Phương hướng hoàn thiện các quy định của bộ luật tố tụng hình sự về xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự


Xét xử sơ thẩm là việc xét xử lần thứ nhất (cấp thứ nhất) do Toà án được giao thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật. Theo Luật tổ chức Toà án nhân dân và Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì Toà án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm ở Việt Nam là các Toà án cấp huyện, Toà án cấp tỉnh, Toà án quân sự khu vực, Toà án quân sự cấp quân khu.
Theo pháp luật tố tụng Việt Nam hiện hành, thì xét xử sơ thẩm được xác định như là một giai đoạn kết thúc của quá trình giải quyết một vụ án hình sự, mọi tài liệu chứng cứ của vụ án do Cơ quan điều tra, truy tố thu thập trong quá trình điều tra đều được xem xét một cách công khai tại phiên toà, những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng được nghe trực tiếp lời khai của nhau, được tranh luận, chất vấn những điều mà tại Cơ quan điều tra họ không có điều kiện thực hiện. Xét xử sơ thẩm được coi như là đỉnh cao cửa quyền tư pháp, tại phiên toà quyền và nghĩa vụ của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng được thực hiện một cách công khai, đầy đủ nhất; những lo âu của bị cáo, người bị hại và của những người tham gia tố tụng khác được giải toả tại phiên toà. Tâm lý nói chung đối với những người tham gia tố tụng là mong muốn vụ án nhanh được đưa ra xét xử để họ biết được Toà án sẽ phán quyết như thế nào.
Xét xử sơ thẩm là một giai đoạn tố tụng mà ở đó đòi hỏi những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng phải tập trung trí tuệ, xử lý các tình huống một cách mau lẹ, các lý lẽ đưa ra không chỉ đòi hỏi sự chính xác mà phải có sức thuyết phục, nhưng đồng thời lại phải tuân theo những quy định của pháp luật. Thông qua phiên toà có thể đánh giá được trình độ nghiệp vụ của Thẩm phán, của Hội thẩm, của Kiểm sát viên, của Luật sư và những người tham gia tố tụng tố tụng khác. Cũng thông qua phiên toà mà Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Luật sư nâng cao được trình độ nghiệp vụ năng lực công tác và kỹ năng nghề nghiệp; thông qua phiên toà, những người dự phiên toà hiểu biết thêm về pháp luật, củng cố thêm lòng tin vào Toà án. Vì vậy, việc tổ chức phiên toà sơ thẩm tốt có tác dụng to lớn không chỉ đối với một vụ án cụ thể mà còn có tác dụng đối với việc nâng cao ý thức pháp luật cho mọi công dân.
I - NHỮNG VƯỚNG MẮC VỀ XÉT XỬ SƠ THẨM THEO BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2003
1. Về thẩm quyền
Theo quy định của pháp luật thì Toà án nhân dân cấp tỉnh và Toà án quân sự cấp quân khu (gọi chung là Toà án cấp tỉnh) xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm không thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp huyện hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án cấp dưới mà mình lấy lên để xét xử. Tuy nhiên, Bộ luật tố tụng hình sự không có quy định trường hợp nào không thuộc thẩm quyền mà lại lấy nên để xét xử dẫn đến tình trạng tuỳ tiện, có vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án cấp huyện nhưng ngay từ khi khởi tố vụ án đã do Cơ quan điều tra cấp tỉnh thực hiện nên đến khi kết thúc điều tra, lập cáo trạng đều do cấp tỉnh và mặc nhiên Toà án cấp tỉnh thụ lý xét xử sơ thẩm.Việc Toà án cấp tỉnh thụ lý xét xử không đúng thẩm quyền lại được giải thích rằng, có trường hợp đã truy tố ở cấp huyện mà Toà án cấp tỉnh còn có quyền lấy nên để xét xử huống chi vụ án này do Cơ quan điều tra cấp tỉnh khởi tố, kết luận điều tra, Viện kiểm sát cấp tỉnh truy tố ra Toà án cấp tỉnh thì không có lý do gì Toà án cấp tỉnh lại từ chối xét xử. Lý giải như vậy, rõ ràng là không thuyết phục, lấy nên để xét xử khác với thẩm quyền xét xử.
Toà án quân sự có thẩm quyền xét xử những vụ án hình sự mà bị cáo là quân nhân tại ngũ, công nhân, nhân viên quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu, dân quân tự vệ phối thuộc chiến đấu với quân đội và những người được trưng tập làm nhiệm vụ quân sự do các đơn vị quân đội trực tiếp quản lý và những người tuy không thuộc các đối tượng trên nhưng hành vi phạm tội của họ có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho quân đội.
Thực tiễn xét xử, thường xảy ra tranh chấp giữa Toà án quân sự với Toà án nhân dân trong trường hợp dân thường phạm tội mà hành vi của họ có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho quân đội. Bí mật quân sự đã có quy định nhưng “gây thiệt hại cho quân đội” bao gồm những thiệt hại nào thì chưa có quy định.
Đối với những vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án quân sự nhưng bản án không chỉ có các quyết định về hình sự mà còn có cả các quyết định về dân sự. Nếu phần dân sự trong vụ án hình sự bị Toà án cấp phúc thẩm hoặc Toà án cấp giám đốc thẩm huỷ để giải quyết lại, nếu đúng theo quy định của pháp luật thì Toà án quân sự không có thẩm quyền xét xử lại phần dân sự trong vụ án hình sự đó nữa mà phải thuộc Toà án nhân dân. Tuy nhiên, nếu giao cho Toà án nhân dân giải quyết phần dân sự trong vụ án hình sự mà vụ án hình sự đó lại do Toà án quân sự đã xét xử thì không phù hợp, việc chuyển giao hồ sơ vụ án cũng rất phức tạp. Để khắc phục tình trạng này, Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao lại hướng dẫn, nếu phần dân sự trong vụ án hình sự bị huỷ để giải quyết lại thì dù vụ án đó do Toà án nhân dân xét xử hay Toà án quân sự xét xử thì bản án xét xử lại phần dân sự trong vụ án hình sự vẫn là “bản án hình sự”, trong khi đó những người tham gia tố tụng tố tụng được ghi trong bản án không phải là bị cáo, người bị hại, mà là nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự dân sự.
Theo quy định của pháp luật thì Toà án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là Toà án nơi tội phạm được thực hiện. Trong trường hợp tội phạm được thực hiện ở nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Toà án có thẩm quyền xét xử là Toà án nơi kết thúc việc điều tra.
Hiện nay có nhiều trường hợp tội phạm được thực hiện ở một nơi hoặc nhiều nơi nhưng không do Cơ quan điều tra địa phương khởi tố, kết thúc điều tra, mà do Cơ quan điều tra Bộ Công an khởi tố, kết thúc điều tra, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ra bản cáo trạng và uỷ quyền cho Viện kiểm sát địa phương nơi Toà án có thẩm quyền xét xử vụ án tham gia phiên toà sơ thẩm để bảo vệ bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Đây cũng là vấn đề thực tiễn xét xử gặp nhiều vướng mắc, nhất là đối với Kiểm sát viên tham gia phiên toà; nhiều trường hợp không bảo vệ được cáo trạng vì không có thời gian nghiên cứu hồ sơ vụ án. Bởi lẽ, theo quy định tại khoản 3 Điều 166 Bộ luật tố tụng hình sự thì trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra quyết định truy tố bằng bản cáo trạng, Viện kiểm sát phải gửi hồ sơ và bản cáo trạng đến Toà án. Nếu bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì chỉ có 3 ngày, Viện kiểm sát phải chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án đó, Kiểm sát viên được uỷ quyền tham gia phiên toà không có thời gian nghiên cứu hồ sơ vụ án, nhiều vụ án, do không có thời gian nghiên cứu hồ sơ vụ án, nên tại phiên toà Kiểm sát viên lúng túng không chỉ khi xét hỏi mà khi luận tội cũng như tranh luận với người bào chữa gặp rất nhiều khó khăn; có trường hợp Kiểm sát viên phải đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên toà.
Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì, khi thấy vụ án không thuộc thẩm quyền mình thì Toà án chuyển vụ án cho Toà án có thẩm quyền xét xử, Việc chuyển vụ án cho Toà án ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đơn vị hành chính tương đương hoặc ngoài phạm vi quân khu do Toà án nhân dân cấp tỉnh và Toà án quân sự cấp quân khu quyết định. Chỉ được chuyển vụ án cho Toà án khác khi vụ án chưa được xét xử. Trường hợp này, việc chuyển vụ án do Chánh án Toà án quyết định.
Nếu vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án quân sự hoặc Toà án cấp trên thì vụ án đã được đưa ra xét xử vẫn phải chuyển cho Toà án có thẩm quyền. Trong trường hợp này, việc chuyển vụ án do Hội đồng xét xử quyết định. Việc chuyển vụ án phải được thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp.
Việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử do Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp quyết định; việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa các Toà án nhân dân cấp huyện thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác nhau, do Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh nơi kết thúc việc điều tra quyết định; việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa Toà án nhân dân và Toà án quân sự do Chánh án Toà án nhân dân tối cao quyết định.
Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền, chỉ do Chánh án Toà án quyết định. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử vấn đề tranh chấp về thẩm quyền không chỉ xảy ra giữa các Toà án với nhau mà còn xảy ra giữa Toà án với Viện kiểm sát nhưng Bộ luật tố tụng hình sự không có quy định ai chịu trách nhiệm giải quyết. Ví dụ: Toà án A thấy vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án mình nên chuyển cho Toà án B có thẩm quyền để xét xử, Toà án B tiếp nhận vụ án cũng thấy vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án mình, nhưng Viện kiểm sát cùng cấp với Toà án B không đồng ý, nên không thay đổi Bản cáo trạng truy tố bị cáo ra Toà án B. Nhiều trường hợp do không có sự thống nhất giữa Viện kiểm sát và Toà án nên vụ án phải trả về Toà án không có thẩm quyền xét xử để xét xử vụ án đó không đúng thẩm quyền (biết sai mà không khắc phục được).
2. Về giới hạn của việc xét xử
Theo quy định tại Điều 196 Bộ luật tố tụng hình sự thì, khi xét xử sơ thẩm Toà án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố và Toà án đã quyết định đưa ra xét xử.
Toà án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát  truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố.
Nếu theo quy định này, thì Toà án không được xét xử bị cáo về tội năng hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố. Ví dụ: Viện kiểm sát truy tố bị cáo A về tội cố ý gây thương tích theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự nhưng Toà án thấy bị cáo A phạm tội giết người theo khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự, nên đã trả hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung (thực chất là để truy tố lại), nhưng Viện kiểm sát không nhất trí với ý kiến của Toà án. Do đó, buộc Toà án phải dưa vụ án ra xét xử, kết quả xét hỏi, tranh luật tại phiên toà cả Kiểm sát viên và Hội đồng xét xử đều thấy bị cáo phạm tội giết người chứ không phải tội cố ý gây thương tích nhưng lại không cho Toà án xét xử bị cáo A về tội giết người. Đây là vấn đề đã nhiều lần được thảo luận trong các hội thảo khoa học, trên các tạp chí chuyên ngành, trong quá trình soạn thảo Bộ luật tố tụng hình sự và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật tố tụng hình sự nhưng cho đến nay vẫn chưa có giải pháp khắc phục.
3. Về người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng 
a).  Về người tiến hành tố tụng
Khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, luật tố tụng hình sự Việt Nam những người tham gia phiên toà được chia thành hai loại gồm: người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng.
 Người tiến hành tố tụng gồm có: Chánh án, Phó chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm và Thư ký Toà án và Kiểm sát viên.
Người tham gia tố tụng gồm có: Bị cáo; người bào chữa; người bị hại; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người bảo vệ quyền lợi của đương sự; người làm chứng; người giám định; người phiên dịch.
Trong số những người tiến hành tố tụng thì Chánh án, Phó chánh án Toà án là chức danh quản lý theo luật tổ chức, đồng thời là người đại diện cơ quan tiến hành tố tụng và là người tiến hành tố tụng. Là người đại diện cơ quan tiến hành tố tụng, nhưng Bộ luật tố tụng hình sự lại không quy định rõ ràng quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của Chánh án, Phó chánh án Toà án với tư cách là người đứng đầu cơ quan tiến hành tố tụng khác với tư cách người tiến hành tố tụng như thế nào, mà chỉ quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Chánh án, Phó Chánh án Toà án (Điều 38 BLTTHS). Nội dung của Điều 38 Bộ luật tố tụng hình sự chủ yếu quy định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm đối với người tiến hành tố tụng. Do đó trong thực tiễn xét xử khó có thể phân biệt khi nào Chánh án, Phó Chánh án Toà án thực hiện nhiệm vụ với tư cách là người đứng đầu cơ quan tiến hành tố tụng, khi nào với tư cách người tiến hành tố tụng. Ví dụ: Chánh án quyết định tạm giam bị cáo thì việc ra quyết định tạm giam là với tư cách người đứng đầu cơ quan tiến hành tố tụng hay với tư cách người tiến hành tố tụng. Việc khiếu nại quyết định này của Chánh án sẽ được giải quyết như thế nào, nếu có căn cứ Chánh án ra quyết định tạm giam đối với bị cáo là không vô tư ? Trường hợp Chánh án trực tiếp xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thì thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm theo Điều 39 hay cả Điều 38 Bộ luật hình sự, ai là người phân công cho Chánh án xét xử vụ án hình sự ?
Đối với Thẩm phán được phân công làm chủ toạ phiên toà Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, được giao nhiều quyền, trừ quyền ra quyết định thay đổi biện pháp tạm giam. Đây cũng là vấn đề cần xem xét lại, vì việc quy định cho Chánh án, Phó Chánh án mới là người có quyền này chủ yếu là đề cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan tiến hành tố tụng nhưng lại không phù hợp với thực tiễn xét xử, vì Thẩm phán mới là người nghiên cứu hồ sơ vụ án, mới biết được bị cáo có cần phải áp dụng hoặc thay đổi biện pháp tạm giam hay không. Giả thiết, Thẩm phán đề xuất với Chánh án cần phải thay đổi biện pháp tạm giam cho bị cáo nhưng Chánh án không đồng ý thì Thẩm phán có quyền khiếu nại quyết định của Chánh án hay không, trong khi đó Thẩm phán có quyền quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án; quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, còn tại phiên toà thì Thẩm phán còn có quyền bắt giam hoặc tha bị cáo.
Thẩm phán không có quyền cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa cũng là vấn đề cần phải xem xét lại, bởi lẽ không có lý do gì lại không cho Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa, không ai hiểu nội dung vụ án, cũng như các mối quan hệ giữa những người tiến hành tố tụng với người tham gia tố tụng bằng Thẩm phán, vì thông qua việc nghiên cứu hồ sơ vụ án Thẩm phán có thể biết người bào chữa có thuộc trường hợp bắt buộc hay không bắt buộc, có thuộc trường hợp phải thay đổi hay không. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến việc gây phiền hà cho Luật sư, vì không phải lúc nào Chánh án, Phó Chánh án cũng có mặt tại trụ sở để xem xét việc cấp, thu hồi giấy chứng nhận bào chữa cho Luật sư. 
Trong giai đoạn xét xử, Thẩm phán chủ toạ phiên toà là người điều khiển phiên toà, nhưng do tư duy cũ và thói quen của Thẩm phán từ thế hệ này qua thế hệ khác quá tập trung vào việc “khuất phục” bị cáo nên không quan tâm đến việc điều khiển phiên toà nhất là điều khiển việc tranh luận giữa người bào chữa (Luật sư) với Kiểm sát viên tham gia phiên toà. Đây là khâu yếu nhất của Thẩm phán chủ toạ phiên toà hiện nay.
Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành quy định khi xét hỏi bị cáo, chủ toạ phiên toà phải để bị cáo trình bày ý kiến về bản cáo trạng và những tình tiết của vụ án. Hội đồng xét xử hỏi thêm về những điểm mà bị cáo trình bày chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn.(Điều 209 BLTTHS), nhưng trên thực tế hầu hết các phiên toà hiện nay, chủ toạ phiên toà không để cho bị cáo trình bày ý kiến về bản cáo trang và những tình tiết của vụ án, mà chủ toạ phiên toà đặt ngay các câu hỏi theo diễn biến sự việc mà nội dung bản cáo trạng nêu. Thực tế thì Thẩm phán chủ toạ phiên toà hỏi là chính, hỏi hết cả phần của Kiểm sát viên và người bào chữa; hỏi như một Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên hỏi bị can trong giai đoạn điều tra; Thẩm phán không chỉ hỏi mà còn giáo dục bị cáo, bình luận, nhận xét, tỏ thái độ đối với lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác; tại phiên toà sơ thẩm người ta chỉ thấy chủ toạ phiên toà nói. Chủ toạ phiên toà không chỉ hỏi mà còn giải thích, cho bị cáo và những người tham gia tố tụng về Bộ luật hình sự, trong khi đó thì lại không giải thích cho bị cáo và những người tham gia tố tụng về quyền và nghĩa vụ của họ tại phiên toà theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bộ luật tố tụng hình sự cũng chưa có quy định tại phiên toà những người tham gia tố tụng được hỏi lẫn nhau, trong khi đó ở giai đoạn điều tra, lại có quy định khi đối chất Điều tra viên có thể cho những người đối chất được hỏi lẫn nhau (Điều 138 BLTTHS).
Đối với Hội thẩm, theo quy định của Hiến pháp và pháp luật thì Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán chủ toạ phiên toà, mọi quyết định của Hội đồng xét xử được biểu quyết theo đa số. Tuy nhiên, trên thực tế thì rất ít Hội thẩm thực hiện đúng trách nhiệm và nhiệm vụ mà pháp luật quy định cho mình, Chế định Hội thẩm tham gia xét xử còn nặng tính hình thức, Hội thẩm còn ỷ lại quá nhiều vào Thẩm phán, không có tư duy độc lập; các quyết định của Hội đồng xét xử chủ yếu do Thẩm phán chủ toạ phiên toà đưa ra và Hội thẩm chỉ đồng ý; rất ít vụ án bản án của Hội đồng xét xử được thông qua tại phòng nghị án. Công tác lựa chọn, bầu hoặc cử Hội thẩm cũng chưa được quan tâm, đặc biệt việc bồi dưỡng nghiệp vụ cho Hội thẩm chưa đáp ứng yêu cầu. 
Thư ký Toà án được phân công tiến hành tố tụng đối với vụ án hình sự có những nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm sau: Phổ biến nội quy phiên toà; báo cáo với Hội đồng xét xử danh sách những người được triệu tập đến phiên toà; ghi biên bản phiên toà; tiến hành các hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Toà án theo sự phân công của Chánh án Toà án (Điều 41 BLTTHS). Thực tế cho thấy, việc ghi biên bản phiên toà của Thư ký Toà án hiện nay là vấn đề yếu nhất; Thư ký Toà án ở các Toà án hiện nay đều là sinh viên đại học luật mới ra trường, không được đào tạo nghề (Thư ký); việc tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ cho họ cũng chưa đáp ứng được yêu cầu; hầu hết biên bản phiên toà hiện nay không phản ảnh đầy đủ và trung thực diễn biến phiên toà, do Thư ký Toà án không ghi chép kịp.
Kiểm sát viên tham gia phiên toà hình sự sơ thẩm để thực hiện quyền công tố. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên tham gia phiên toà đã được quy định cụ thể trong Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên toà sơ thẩm, Kiểm sát viên là người công bố bản cáo trạng, bổ sung cáo trạng hoặc rút cáo trạng tại phiên toà; tham gia cùng với Hội đồng xét xử xét hỏi tại phiên toà, trình bày lời luận tội, tranh luận với người bào chữa hoặc bị cáo; đưa ra chứng cứ hoặc yêu cầu, trong đó có quyền yêu cầu thay đổi thành viên của Hội đồng xét xử, Thư ký Toà án. Thực trạng hiện nay cho thấy có nhiều trường hợp Kiểm sát viên ít tham gia xét hỏi bị cáo và những người tham gia tố tụng khác để chứng minh tội phạm, mà ỷ lại cho chủ toạ phiên toà; khi trình bày lời luận tội tại phiên toà không căn cứ vào kết quả xét hỏi mà lại căn cứ vào Bản cáo trạng, mặc dù kết quả xét hỏi tại phiên toà đã có nhiều nội dung không đúng với bản cáo trạng; đặc biệt sau khi người bào chữa trình bày lời bào chữa cho bị cáo và đề nghị Kiểm sát viên tranh luận về từng vấn đề mà người bào chữa (Luật sư) nêu ra, nhưng một số Kiểm sát viên không tranh luận lại, thậm chí chỉ nói một câu “vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố”, cá biệt có Kiểm sát viên từ chối tham gia phiên toà mà không có lý do chính đáng.
b).  Về người tham gia tố tụng
Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì người tham gia tố tụng ở giai đoạn xét xử sơ thẩm bao gồm: Bị cáo; người bào chữa; người bị hại; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người bảo vệ quyền lợi của đương sự; người làm chứng; người giám định; người phiên dịch.
Trong số những người tham gia tố tụng thì bị cáo là nhân vật trung tâm. Các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự cũng nhằm tới việc xác định bị cáo có phạm tội hay không, nếu phạm tội thì phạm tội gì, mức hình phạt bao nhiêu, trách nhiệm bồi thường thiệt hại thế nào…Là bị cáo, họ chưa bị coi là người có tội, họ chỉ là người bị cáo buộc về một tội phạm nào đó theo Bộ luật hình sự, nên họ phải được đối xử như đối với một người bình thường khác. Cũng chính vì vậy mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định quyền của bị cáo rất đầy đủ và cụ thể để họ tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ cho mình trước lời cáo buộc của Viện kiểm sát tại phiên toà.  Tuy nhiên, trực trạng hiện nay, do nhận thức chưa đúng nên trước phiên toà bị cáo bị đối xử như người đã có tội; Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên và ngay cả những người tham dự phiên toà cũng coi bị cáo là người đã có tội.
Để bảo vệ các quyền của bị cáo tại phiên toà sơ thẩm, theo Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành thì bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa.
 Người bào chữa là người được bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ, mời hay được cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu Đoàn Luật sư phân công Văn phòng luật sư cử hoặc đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử để bào chữa cho bị cáo, nhằm làm sáng tỏ những tình tiết gỡ tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và giúp đỡ họ về mặt pháp lý. Theo quy định tại Điều 56 Bộ luật tố tụng hình sự thì người bào chữa có thể là: Luật sư; Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; Bào chữa viên nhân dân.
Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật Luật sư, thực hiện dịch vụ pháp luật theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức nhằm góp phần bảo vệ công lý. Hiện nay cả nước có hơn 6.250 Luật sư và hơn 3000 thực tập làm nghề Luật sư. Theo đánh giá của Liên đoàn Luật sư thì vị thế của Luật sư đã được nâng cao rõ rệt; các cơ quan tiến hành tố tụng tôn trọng, tạo thuận lợi hơn cho Luật sư khi hành nghề; các Đoàn Luật sư được địa phương quan tâm hơn, hỗ trợ nhiều hơn vè kinh phí, cơ sở vật chất. Tuy nhiên, số lượng Luật sư phân bổ chưa đồng đều, chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn, chưa đáp ứng yêu cầu của xã hội, mới có khoảng 20% vụ án hình sự có Luật sư tham gia; Luật sư chuyên sâu về các lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại còn ít. Trình độ, năng lực của Luật sư cũng còn hạn chế; còn vi phạm đạo đức nghề nghiệp; cá biệt có Luật sư lợi dụng hành nghề để lừa đảo chiếm đoạt tài sản; lợi dụng diễn đàn để tuyên truyền chống nhà nước ảnh hưởng uy tín của Luật sư…
Ngoài Luật sư, người bào chữa có thể là người đại diện hợp pháp của người bị cáo. Người đại diện hợp pháp là bố mẹ để, bố mẹ nuôi, người đỡ đầu, anh, chị em ruột và những người theo quy định của pháp luật đối với bị can bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần.
Ngoài ra, người bào chữa còn có thể là Bào chữa viên nhân dân. Bào chữa viên nhân dân là người được tổ chức, đoàn thể xã hội cử ra để bào chữa cho bị cáo. Tuy nhiên, chế định bào chữa viên nhân dân hiện nay vẫn chưa có nên thực tiễn không ít trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng không cấp giấy chứng nhận người bào chữa cho họ vì rất khó xác định họ có phải là bào chữa viên nhân dân hay không ?
Ngoài bị cáo, Bộ luật hình sự Việt Nam còn quy định những người tham gia tố tụng khác như: Người bị hại; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng; người giám định; người phiên dịch; người bảo vệ quyền lợi của đương sự.
Trong số những người tham gia tố tụng trên, có người bị hại là người mà thực tiễn xét xử còn nhiều vướng mắc, một phần do Bộ luật tố tụng hình sự quy định không rõ ràng, phần còn lại là do nhận thức của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng không thống nhất.
Bộ luật tố tụng hình sự cũng như Bộ luật hình sự không có quy định đối với tội phạm nào thì có người bị hại, còn tội phạm thì không, nên thực tiễn xét xử có Toà án xác định là người bị hại có Toà án chỉ xác định là nguyên đơn dân sự hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án như: đối với tội chống người thi hành công vụ hoặc đối với tội gây rối trật tự công cộng gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ, tài sản thì trường hợp nào có người bị hại, trường hợp không có người bị hại ? Các cơ quan tiến hành tố tụng ở trung ương cũng không thấy hướng dẫn.
Theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 Bộ luật tố tụng hình sự thì người bị hại chỉ có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Toà án về phần bồi thường cũng như về hình phạt đối với bị cáo, nhưng theo quy định tại đoạn 1 Điều 231 Bộ luật tố tụng hình sự thì người bị hại, người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm, nên cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng cũng như người tham gia tố tụng đều hiểu rằng, người bị hại có quyền kháng cáo toàn bộ bản án, kể cả tội danh, hình phạt và các quyết định khác. Cách hiểu này rõ ràng là không đúng nhưng lại được các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng chấp nhận và quyết định theo cách hiểu này. Ví dụ: Do có kháng cáo của người bị hại nên Toà án cấp phúc thẩm đã chuyển tội danh từ tội cố ý gây thương tích sang tội giết người (là tội danh nặng hơn).
Theo quy định tại khoản 3 Điều 51 Bộ luật tố tụng hình sự thì, trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại thì người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội tại phiên toà. Vậy, người bị hại trình bày lời buộc tội trước hay sau khi Kiểm sát viên trình bày lời luận tội ? Nếu người bị hại vắng mặt thì Toà án có xét xử vắng mặt họ được không ?
Theo quy định tại khoản 5 Điều 51 Bộ luật tố tụng hình sự thì, trong trường hợp người bị hại chết thì người đại diện hợp pháp của họ có những quyền của người bị hại, nhưng ai là người đại diện hợp pháp cho người bị hại thì Bộ luật tố tụng hình sự không quy định. Trường hợp người bị hại không chết nhưng họ là người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần thì có người đại diện cho họ không, Bộ luật tố tụng hình sự chưa quy định.
Mặc dù Bộ luật tố tụng hình sự quy định nếu người bị hại từ chối khai báo mà không có lý do chính đáng thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội từ chối khai báo theo Điều 308 của Bộ luật hình sự, nhưng trên thực tế chưa có trường hợp nào người bị hại bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này, mặc dù có nhiều trường hợp họ không cộng tác với cơ quan tiến hành tố tụng như: không đi giám định tỷ lệ thương tật, không có mặt theo giấy triệu tập mà sự có mặt của họ là bắt buộc, gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và cho Toà án nói riêng.
4. Một số vấn đề về hình thức và thủ tục tại phiên toà  
Do lịch sử để lại, có sự kế thừa mô hình tố tụng của Toà án Pháp nên từ phòng xử án, vị trí, chỗ ngồi của Hội đồng xét xử, của Kiểm sát viên, Thư ký phiên toà, “Vành móng ngựa”, chỗ ngồi của người bào chữa (Luật sư) và những người tham gia tố tụng khác cho đến nay vẫn không có gì thay đổi. Khi đất nước mở cửa, phát triển kinh tế thị trường, đã nhiều lần có ý kiến đề nghị Luật sư phải được ngồi ngang hàng với Kiểm sát viên; tại Hội nghị tổng kết 2 năm ngày thành lập Liên đoàn Luật sư Việt Nam, trả lời phỏng vấn báo giới, Chủ tịch liên đoàn Luật sư lại đề cập đến chỗ ngồi của Luật sư tại phiên toà sao cho bình đẳng với Kiểm sát viên.
Việc trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung cũng còn nhiều vấn đề Bộ luật tố tụng hình sự quy định chưa đầy đủ như: trường hợp chỉ cần truy tố lại chứ không cần điều tra lại bất cứ một tình tiết nào của vụ án, nhưng trong quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung vẫn phải ghi “để điều tra bổ sung”. Việc Điều bổ sung đối với phần dân sự trong vụ án hình sự chưa được Bộ luật tố tụng hình sự quy định cụ thể, mặc dù Điều 28 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: “Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự”. Giải quyết không chỉ bao gồm xét xử mà bao gồm cả giai đoạn điều tra, truy tố. Khi Toà án trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung về vấn đề dân sự, một số Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra không nhận hồ sơ vụ án mà làm công văn trả ngay cho Toà án với lý do: Toà án có thẩm quyền điều tra về vấn đề dân sự.
Theo quy định tại Điều 177 Bộ luật tố tụng hình sự thì, đối với bị cáo đang bị tạm giam mà đến ngày mở phiên toà thời hạn tạm giam đã hết, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc xét xử, thì Toà án ra lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên toà. Tuy nhiên, thực tế có nhiều trường hợp phiên toà không mở, thời hạn tạm giam đã hết, thế là Toà án ra một cái lệnh vô thời hạn: “tạm giam bị cáo cho đến khi kết thúc phiên toà”, có trường hợp 6 tháng hoặc một năm sau phiên toà mới được mở. Đây là vi phạm không phải ít, nhưng không được phát hiện, uốn nắn.
Đến ngày mở phiên toà theo quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng vì những lý do khác nhau nên phải hoãn phiên toà, trong đó có những lý do không đúng với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; việc thông báo hoãn phiên toà cũng không thống nhất, có Toà án thông báo bằng văn bản gửi cho cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, nhưng có Toà án chỉ viết ở trên bảng đạt trước trụ sở với nội dung: “phiên toà xét xử bị cáo A hoãn” không có một lời giải thích.
Hiện nay, có nhiều trường hợp sau khi điều tra bổ sung, Viện kiểm sát chuyển hồ sơ vụ án lại cho Toà án xét xử sơ thẩm nhưng chỉ bằng một công văn, không thay đổi bản cáo trạng (vẫn bản cáo trạng cũ), Việc làm này là không đúng pháp luật vì kết quả điều tra sung cần phải được thể hiện trong bản cáo trạng.
Kể từ khi khai mạc phiên toà cho đến khi kết thúc phiên toà có thể chia ra các giai đoạn: phần mở đầu, phần xét hỏi, phần tranh luận và tuyên án.
Đánh giá chung, thì việc xét xử tại phiên toà hiện nay so với trước khi có Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 02-1-2002 của Bộ Chính trị có tiến bộ hơn, bước đầu bảo đảm tranh tụng dân chủ giữa người bào chữa (Luật sư) với Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác…; việc phán quyết của Toà án đã căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà; phiên toà diễn ra dân chủ hơn; quyền lợi của người tham gia tố tụng được tôn trọng. Tuy nhiên, so với yêu cầu cải cách tư pháp thì chưa đáp ứng. Sau khi có Nghị quyết số 08-NQ/TW, các Toà án tập trung tổ chức các phiên toà “mẫu” để rút kinh nghiệm rồi nhân rộng trên phạm vi toàn ngành, nhưng sau một thời gian, các Toà án đều báo cáo là đã tổ chức phiên toà hình sự sơ thẩm đúng với tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW, nhưng trên thực tế thì hiện nay còn nhiều phiên toà vẫn xét xử không đúng với Nghị quyết số 08-NQ/TW và Công văn số  Số: 13-CV/BCĐCCTP ngày 04 tháng 11 năm 2002 của Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp trung ương. Sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 49NQ/TW, ngày 02-6-2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 thì lại nhận thức rằng, Nghị quyết số 08-NQ/TW và Công văn số  Số: 13-CV/BCĐCCTP không còn hiệu lực. Vậy là những phiên toà “mẫu” không còn là “mẫu” nữa. Mặt khác do Bộ luật tố tụng hình sự chưa được sửa đổi, bổ sung theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW và Nghị quyết số 49NQ/TW nên việc tổ chức và điều khiển phiên toà hình sự sơ thẩm vẫn còn mang nặng tính thẩm vấn, chưa thể hiện tính tranh tụng tại phiên toà. Chủ toạ phiên toà vẫn hỏi quá nhiều, không chỉ hỏi mà còn giáo dục, nhận xét, bình luận, đánh giá về lời của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác. Phần tranh luận chính là phần thể hiện tính tranh tụng nhất nhưng chủ toạ phiên toà chưa điều khiển để người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tranh luận với Kiểm sát viên, còn Kiểm sát viên thì không tranh luận hoặc tranh luận không hết các ý kiến mà người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng đưa ra cần tranh luận làm rõ. Việc xử lý các tình huống tại phiên toà của chủ toạ cũng còn lúng túng, khi gặp phải trường hợp ngoài dự kiến ban đầu của chủ toạ phiên toà như: người bào chữa (Luật sư) tự ý rời bỏ phòng xử án mà không được chủ toạ đồng ý; bị cáo ra toà lặng thinh như người câm, không nói, không trả lời bất cứ câu hỏi nào của Hội đồng xét xử hoặc của Kiểm sát viên; tại phiên toà bị cáo đề nghị mời Luật sư bào chữa; Kiểm sát viên đề nghị hoãn phiên toà rút hồ sơ vụ án để xem xét lại…Việc Hội đồng nghị án, cũng như thời gian nghị án còn nhiều vấn đề Bộ luật tố tụng hình sự chưa quy định rõ ràng; chưa có cơ chế kiểm tra, giám sát xem bản án có được thông qua tại phòng nghị án hay không ? Biên bản nghị án có phản ảnh đúng trình tự, nội dung thảo luận của Hội đồng xét xử hay không ?…
I-  PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN THỦ TỤC XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ  
Hoàn thiện thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, là một yêu cầu tất yếu và cũng là vấn đề nằm trong chiến lược cải cách tư pháp mà Nghị quyết số 49NQ/TW đề ra. Vì vậy, phương hướng hoàn thiện phải gắn liền với mục tiêu và phương hướng cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49NQ/TW của Bộ Chính trị.
1. Xác định mô hình tố tụng hình sự
Trước hết, cần xác định mô hình tố tụng hình sự ở nước ta theo mô hình như thế nào, đây là vấn đề cốt lõi của việc hoàn thiện thủ tục tố tụng hình sự nói chung và thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng.
Hiện nay, trên sách báo cũng như các báo cáo về cải cách tư pháp đều xác định mô hình (kiểu) tố tụng hình sự của nước ta hiện nay là “tố tụng thẩm vấn” và đi liền với mô hình tố tụng thẩm vấn là “luật thành văn”. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, mô hình tố tụng của nước ta hiện nay là một hình tố tụng pha trộn. Theo TS Nguyễn Duy Hưng thì “Mô hình tố tụng pha trộn giữa thẩm vấn và tranh tụng của chúng ta rất tiến bộ vì kết hợp được ưu điểm của hai mô hình tố tụng thẩm vấn và tố tụng tranh tụng ra đời trước đó là nhà nước kiểm soát được tội phạm nhưng vẫn đảm bảo quyền lợi hợp pháp của nghi can. Nếu chính thức ghi nhận nguyên tắc tranh tụng trong Bộ luật Tố tụng hình sự sửa đổi thì sẽ càng làm tăng thêm tính ưu việt của nó”[1]. Đồng tình với ý kiến trên, đa số cho rằng trên thực tế Bộ luật tố tụng hình sự của nước ta đã có một số quy định mang tính tranh tụng, chứ không chỉ thuần tuý là thẩm vấn. Trên thế giới hiện nay cũng không còn mô hình tố tụng của quốc gia nào chỉ thuần tuý là “tranh tụng” hay “thẩm vấn” mà đã có sự pha trộn. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào mỗi nước mà tính tranh tụng hay tính thẩm vấn nhiều hay ít. Còn ở nước ta căn cứ vào các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì còn nặng về tính “thẩm vấn” mặc dù tính “tranh tụng” đã được ghi nhận nhưng chưa đậm nét.
 Khẳng định lại mô hình tố tụng “pha trộn” mà nước ta đang áp dụng, tức là chúng ta phải trả lời câu hỏi: Vì sao cho đến nay mô hình tranh tụng pha trộn lại không phát huy được tác dụng như chúng ta mong đợi ? Đó là vì các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng vẫn mang nặng tư duy cũ và thiên về tố tụng thẩm vấn nhiều hơn; Bộ luật tố tụng hình sự cũng chưa có nhiều quy định bảo đảm cho tính tranh tụng nhiều hơn, nhất là các quy định về phiên toà, mặc dù Nghị quyết số 08-NQ/TW và Công văn số 13 của Ban chỉ đạo cải cách tư pháp đã có nhiều nội dung mang tính tranh tụng nhiều hơn.
2. Xây dựng pháp luật 
Xây dựng một hệ thống pháp luật từ Hiến pháp đến các Luật, Pháp lệnh… có liên quan đến các quy định về xét xử nói chung và xét xử sơ thẩm nói riêng thể hiện tính tranh tụng nhiều hơn nữa.
Các quy định của Hiến pháp về “Cơ quan tư pháp”, cũng như quy định về các quyền cơ bản của Công dân, cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng: Nâng cao vị thế của Toà án, chỉ có các Toà án mới là Cơ quan tư pháp; Hệ thống Toà án được tổ chức lại thành 4 cấp; Viện kiểm sát là Cơ quan công tố; Cơ quan điều tra không nằm trong Bộ Công an; hoạt động điều tra dưới sự chỉ huy của Công tố; các cơ quan này không phụ thuộc vào đơn vị hành chính.
Luật tổ chức Toà án, Luật tổ chức Công tố và Luật tổ chức Cơ quan điều tra cần cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp về hệ thống Toà án, Hệ thống cơ quan Công tố và Công tố viên, Hệ thống Cơ quan điều tra và Điều tra viên.
Bộ luật tố tụng hình sự, cần sửa đổi, bổ sung theo hướng:
- Không quy định người đứng đầu Toà án, Viện công tố, Cơ quan điều tra là “Người tiến hành tố tụng”, vì những người này đại diện cho cơ quan tiến hành tố tụng. Thẩm phán có quyền cấp giấy chứng nhận người bào chữa và có quyền áp dụng, thay đổi tất cả các biện pháp ngăn chặn, kể cả biện pháp tạm giam.
- Chỉ quy định Luật sư mới là người bào chữa, sửa đổi, bổ sung một số quyền và nghĩa vụ của Luật sư để tạo thuận lợi cho Luật sư  hoạt động; bổ sung một số quyền và nghĩa vụ đối với Luật sư trong trường hợp bào chữa theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng (bào chữa bắt buộc).
- Tách phần dân sự trong vụ án hình sự để giải quyết bằng vụ án dân sự nếu các bên có yêu cầu.
- Bỏ thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ, Cơ quan công tố có quyền truy tố một công dân ra bất cứ Toà án nào trên lãnh thổ Việt Nam để xét xử sơ thẩm theo thẩm quyền xét xử (thẩm quyền theo việc), nếu có tranh chấp về thẩm quyền theo việc thì Viện công tố giải quyết chứ không phải Chánh án Toà án.
- Về giới hạn xét xử cần quy định: Viện công tố chỉ truy tố người phạm tội và hành vi mà người đó thực hiện, còn bị cáo có phạm tội hay không và phạm tội gì thì để cho Toà án quyết định.
- Thay đổi hình thức phiên toà sơ thẩm theo hướng: Bỏ vành móng ngựa thay vào đó là ghế bị cáo; bàn của Hội đồng xét xử cao nhất, Luật sư và Công tố viên ngồi ngang nhau nhưng thấp hơn Hội đồng xét xử, Thư ký Toà án ngồi ở phía dưới Hội đồng xét xử; mọi diễn biến phiên toà, kể cả diễn biến khi nghị án phải được ghi âm hoặc ghi hình và được sử dụng bảo quản theo quy định của pháp luật.
- Khi xét xử Công tố viên trình bày bản cáo trạng và đặc cách câu hỏi đối với  bị cáo và những người tham gia tố tụng khác; trong quá trình xét hỏi, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác cũng có quyền hỏi; bị cáo có thể đặt câu hỏi đối với những người tham gia tố tụng khác; Thẩm phán chủ toạ phiên toà chỉ điều khiển việc xét hỏi, chỉ đặt câu hỏi đối với Công tố viên người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác khi thật cần thiết, chấp nhận hoặc bác bỏ những câu hỏi hoặc yêu cầu người bị hỏi không phải trả lời vì câu hỏi và câu trả lời có thể làm lộ bí mật nhà nước, hoặc xâm phạm nghiêm trọng đến thuần phong mỹ tục.
- Đối với vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại thì người bị hại bắt buộc phải có mặt tại phiên toà và trình bày lời buộc tội trước khi Công tố viên trình bày lời luận tội, nếu họ vắng mặt không có lý do chính đáng thì vụ án được đình chỉ, vì người bị hại từ bỏ quyền khởi tố, mà theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự là bắt buộc.
Cùng với việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự theo hướng trên, thì cần có Luật về chứng cứ. Bộ luật tố tụng hình sự chỉ quy định trình tự, thủ tục thu thập, cung cấp chứng cứ, còn các vấn đề khác về chứng cứ như: khái niệm, nội dung, nguồn chứng cứ, giá trị của chứng cứ, đánh giá chứng cứ… sẽ quy định trong Luật về chứng cứ.
3. Nâng cao trình độ, năng lực cho Thẩm phán, Công tố viên, Điều tra viên và Luật sư.
Mọi sự thay đổi, cải cách bảo đảm tăng cường tính tranh tụng tại phiên toà, suy cho đến cùng vấn đề quyết định vẫn là con người. Nếu trình độ, năng lực, kinh nghiệm nghề nghiệp của đội ngũ Thẩm phán, Công tố viên, Điều tra viên và Luật sư như hiện nay thì mục tiêu cải cách sẽ không đạt được. Vì vậy, việc tiêu chuẩn hoá đội ngũ này cần phải tiến hành đồng bộ với quá trình cải cách tư pháp theo một lộ trình hợp lý.
- Đối với đội ngũ Thẩm phán,cần nghiên cứu bỏ hình thức xét tuyển bằng hình thức thi tuyển, không chỉ thi tuyển vào ngạch Thẩm phán mà thi tuyển từ Thẩm phán sơ cấp lên Thẩm phán trung cấp, từ trung cấp lên Thẩm phán cao cấp, từ cao cấp lên Thẩm phán tối cao.
- Đối với Công tố viên (Kiểm sát viên hiện nay), ngoài kiến thức về kiểm sát điều tra thì phải có kiến thức điều tra và chỉ huy điều tra; năng lực, trình độ, kinh nghiệm xét hỏi, tranh luận tại phiên toà. Cũng cần thi tuyển như đối với Thẩm phán.
- Đối với Điều tra viên là người trực tiếp thực hiện việc điều tra tội phạm, ngoài kiến thức pháp luật thì còn cần phải giỏi về nghiệp vụ điều tra, khám phá tội phạm, hiểu và sử dụng thành thạo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ. Việc bổ nhiệm Điều tra viên cũng phải áp dụng hình thức thi tuyển như đối với Thẩm phán và Công tố viên.
- Đối với Luật sư cần tăng về số lượng, đồng thời quan tâm đến chất lượng, chế độ đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, thi tuyển phải bảo đảm các tiêu chuẩn về năng lực và đạo đức nghề nghiệp của Luật sư; chế độ miễn cho những người tiến hành tố tụng (Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên và các đối tượng khác) cũng phải có tiêu chí cụ thể chứ không phải ai cũng được miễn như quy định hiện nay; cần có quy định bảo vệ Luật sư khihàng nghề, đồng thời xử lý nghiêm minh đối với Luật sư vi phạm pháp luật và đạo đức nghề nghiệp.
Chú thích:
[1] Trích phát biểu tại buổi toạ đàm do Báo pháp luật thành phố Hồ Chí Minh  tổ chức ngày 21-5-2011
Nguồn: Cổng thông tin điện tử TANDTC (http: toaan.gov.vn)