Thứ Hai, 3 tháng 1, 2011

KHỞI ĐỘNG TIẾN TRÌNH SỬA LUẬT ĐẤT ĐAI 2003: Năm 2013 khó chia lại ruộng

Theo Bộ trưởng Bộ TN&MT Phạm Khôi Nguyên, qua thực tiễn triển khai thi hành Luật Đất đai 2003 đã phát sinh nhiều nội dung cần điều chỉnh.

Đó là: chính sách giao đất nông nghiệp; thời hạn sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hằng năm đã giao theo Nghị định 64/1993; chính sách điều tiết lợi ích từ đất đai giữa nhà nước, nhà đầu tư và người dân; chính sách xã hội, điều tiết thị trường đất đai và hỗ trợ tái định cư; thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng…

Thực tế người dân hiện nay đang rất quan tâm vấn đề đến năm 2013, tức 20 năm từ khi thực hiện giao đất theo Nghị định 64/1993, cũng là thời điểm đất nông nghiệp trồng cây hằng năm chạm đến hạn sử dụng 20 năm, nhà nước có thu hồi ruộng đất để chia lại hay không. Đây cũng là vấn đề được Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) Phạm Khôi Nguyên nêu ra tại Hội nghị tổng kết thi hành Luật Đất đai năm 2003 tổ chức tại Đà Nẵng ngày 10-12.

Vấn đề cực kỳ phức tạp!
Vấn đề giao đất theo Nghị định 64/1993 sau 20 năm thực hiện, theo Bộ trưởng Phạm Khôi Nguyên là một vấn đề cực kỳ phức tạp. Ông phân tích: Năm 1993, khi giao đất cho dân thì giao theo hộ, theo từng nhân khẩu và theo hạn mức sào. Trung bình hộ hai người được hai sào, hộ 10 người được 10 sào. Sau 20 năm, bây giờ gia đình 10 người có khi chỉ còn hai nhưng gia đình hai người lại thành 10 rồi, từ đó tạo ra sự bất hợp lý. “Hai người vẫn giữ 10 sào, trong khi đó chưa thu thuế đất. Bây giờ điều tiết lại bằng cách gì? Chia lại ruộng đất à? Khó lắm, làm sao chia lại được bây giờ? Mà nếu đã chia lại thì liên tục sẽ chia lại vì dân số liên tục thay đổi. Ra cơ chế gì đây?” - Bộ trưởng Phạm Khôi Nguyên liên tục đặt câu hỏi.


Tuy nhiên, những câu hỏi của bộ trưởng không được đại biểu nào góp ý kiến. Cho nên ông lại tiếp tục nói: “Khi Quốc hội bàn có đánh thuế đất nông nghiệp hay không, tôi có nêu quan điểm nhưng chưa được chấp nhận. Đó là: Hạn mức đất nông nghiệp giao thì không đánh thuế, còn vượt quá hạn mức thì phải đánh thuế theo lũy tiến. Không để tình trạng hai người giữ 10 sào và 10 người chỉ có hai sào như hiện nay. Đánh thuế tới mức độ anh không chịu nổi, phải trả lại đất đó cho nhà nước để điều tiết lại cho những gia đình khác. Tuy nhiên, phương án này hiện nay chưa làm được”. Theo bộ trưởng, giải độ vênh đất giao vừa nêu chỉ có thể bằng bài toán kinh tế nhưng cụ thể thế nào thì còn tiếp tục phải nghiên cứu.

Nên cho sở hữu tư nhân đất ở?
Một trong những vấn đề được nhiều đại biểu quan tâm là công tác giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất, đặc biệt là quy định nhà đầu tư tự thỏa thuận với người sử dụng đất. Theo Giám đốc Sở TN&MT TP Đà Nẵng Nguyễn Điểu, quy định này đã dẫn đến tình trạng không công bằng, không đồng bộ giữa các dự án do nhà đầu tư tự thỏa thuận và dự án do nhà nước bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong cùng một khu vực.

Phó Giám đốc Sở TN&MT tỉnh Thừa Thiên-Huế Nguyễn Văn Ngọc cũng cho rằng trường hợp nhà đầu tư tự thỏa thuận với các chủ sử dụng đất đã tạo ra sự không thống nhất về đơn giá, chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng, thậm chí không thỏa thuận được nên rất khó khăn cho việc thực hiện dự án. “Chỉ khuyến khích nhà đầu tư thỏa thuận với người sử dụng đất. Sau 30 ngày mà không thỏa thuận được thì nhà nước quyết định thu hồi đất” - ông Ngọc đề xuất.

20.000 tỉ đồng là tổng số tiền TP Đà Nẵng thu từ đất tính từ năm 1997 đến nay. Dự kiến số thu trong năm 2010 là 3.800 tỉ đồng. Từ năm 1997 đến nay, TP Đà Năng đã thực hiện việc thu hồi đất, giao đất và cho thuê đất để triển khai hơn 1.300 dự án với tổng diện tích hơn 17.000 ha, đã di dời giải tỏa trên 85.000 hộ dân.
Tuy nhiên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Trần Đình Long không đồng tình với ý kiến trên. Ông Long cho rằng ngay đối với các dự án mà nhà nước quy hoạch xây dựng công trình công cộng thì nhà nước cũng chỉ được thu hồi và áp giá bồi thường với điều kiện đó là đất giao không thu tiền. Còn đất đã bán đấu giá cho người dân thì nhà nước phải mua lại theo thỏa thuận, chứ không có chuyện ra quyết định thu hồi rồi bồi thường là xong.

Bộ trưởng Phạm Khôi Nguyên thừa nhận ông Long nói chí lý nhưng sẽ không thể sửa được luật nếu “không chọc vào cái sở hữu và cái quyền”. Nếu để quyền sở hữu đất đai như hiện nay thì cực kỳ khó. Bởi lẽ đất đai thuộc sở hữu của toàn dân nhưng nhà nước là đại diện chủ sở hữu, thực chất là một đối tượng có hai ông chủ. Một là người đang sử dụng đất, hai là nhà nước. Theo giá thị trường mà dân đòi hỏi thì không biết bao nhiêu cho vừa. “Tốt nhất là cho sở hữu tư nhân đất ở vì thực chất đã sở hữu tư nhân rồi mà ta cứ nói là sở hữu toàn dân, thành ra bao nhiêu chính sách ra không rõ!” - ông Nguyên thẳng thắn.
Hội nghị tổng kết thi hành Luật Đất đai năm 2003 do Ban Chỉ đạo trung ương về tổng kết thi hành Luật Đất đai và sửa đổi Luật Đất đai 2003 (do Thủ tướng thành lập) và UBND TP Đà Nẵng chủ trì tổ chức. Hội nghị có sự tham gia của đại diện lãnh đạo Văn phòng Trung ương Đảng, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Ủy ban Pháp luật, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội và lãnh đạo Sở TN&MT các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thừa Thiên-Huế, Quảng Trị và TP Đà Nẵng. Đây là hội nghị đầu tiên, khởi động cho một loạt các hoạt động trong tiến trình sửa đổi Luật Đất đai 2003.
Rườm rà, phức tạp, chồng chéo
Hệ thống thủ tục hành chính về đất đai vẫn còn rườm rà, phức tạp gây nhiều khó khăn, phiền hà cho công dân, tổ chức khi thực hiện các giao dịch hành chính. Nguyên nhân chủ yếu là hệ thống thủ tục hành chính về đất đai, nhà ở và tài sản gắn liền với đất, xây dựng và thuế do các bộ, ngành ở trung ương quy định còn nhiều chồng chéo giữa các ngành, các cấp nhưng chậm được khắc phục. Xu hướng quy định về thủ tục hành chính thường nghiêng về phía có lợi cho cơ quan quản lý nhà nước hơn là có lợi cho người dân.
Ông CHẾ VIẾT SƠN, Phó Giám đốc Sở Nội vụ TP Đà Nẵng

Giám định tư pháp - điểm “nghẽn” của ngành tư pháp

Mặc dù sau 5 năm Pháp lệnh Giám định tư pháp đi vào cuộc sống, nhưng công tác giám định tư pháp vẫn đang được coi là điểm “nghẽn” của ngành tư pháp với nhiều vấn đề nổi cộm từ cơ chế, con người đến chất lượng của các kết quả giám định.

Thiếu...

Theo Báo cáo của Cơ quan điều tra, Bộ Công an và Cơ quan cảnh sát điều tra của 60 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, từ ngày 1.1.2005 đến tháng 8.2010, cơ quan điều tra trưng cầu khoảng 439.479 vụ giám định trên các lĩnh vực. Giám định pháp y được triển khai ở 3 ngành y tế, công an và quốc phòng; trong số các lĩnh vực giám định ở nước ta, hoạt động giám định pháp y chiếm số lượng vụ việc lớn nhất. Trung bình mỗi năm, các tổ chức pháp y nhận và thực hiện giám định trên 32.000 vụ việc. Giám định pháp y trong ngành công an và quốc phòng đều do các giám định viên pháp y chuyên trách đảm nhiệm.

Sau 5 năm triển khai thi hành Pháp lệnh giám định tư pháp - văn bản được đánh giá là một bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện pháp luật về giám định tư pháp, góp phần đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động tố tụng trong tiến trình cải cách tư pháp đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Đó là hệ thống tổ chức giám định tư pháp trong lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự ở Trung ương và địa phương được củng cố, kiện toàn một bước, đội ngũ giám định viên tư pháp đã được tăng cường, cơ sở vật chất, phương tiện công tác và các điều kiện cần thiết khác phục vụ cho hoạt động giám định đã bước đầu được chú trọng, hoạt động quản lý nhà nước được tăng cường và đạt được những kết quả nhất định.

Theo thống kê của Bộ Tư pháp, tính đến nay, tổng số giám định viên được bổ nhiệm và cấp thẻ là 3.115 người trên nhiều lĩnh vực khác nhau như pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự, tài chính - kế toán, văn hóa, xây dựng, tài nguyên, môi trường, giao thông vận tải, nông lâm ngư nghiệp, khoa học kỹ thuật và một số lĩnh vực khác. Trong đó có khoảng 722 giám định viên chuyên trách, chủ yếu là giám định viên kỹ thuật hình sự chiếm 582 người, giám định viên pháp y khoảng 100 người, còn lại giám định viên pháp y tâm thần. So với trước khi ban hành Pháp lệnh, đội ngũ giám định viên tư pháp có sự phát triển cả về số lượng và chất lượng, nhất là giám định viên tài chính - kế toán có tốc độ tăng nhanh nhất. Ngoài các giám định viên tư pháp được bổ nhiệm và cấp thẻ, có còn 237 người giám định tư pháp theo vụ việc đã được Bộ Tư pháp lập và công bố danh sách. Người giám định tư pháp theo vụ việc chủ yếu là các chuyên gia ở các lĩnh vực mới chưa có giám định viên tư pháp như công nghệ công tin, điện lực, thương mại…

Hiện nay, có 14 địa phương vẫn duy trì hình thức tổ chức giám định pháp y, 18 địa phương mặc dù có bệnh viện tâm thần nhưng chưa thành lập được Trung tâm Giám định pháp y tâm thần theo quy định của Pháp lệnh Giám định tư pháp mà vẫn duy trì hình thức tổ chức giám định pháp y tâm thần theo quy định của Nghị định 117/HĐBT ngày 21.7.1988 về giám định tư pháp. Chính vì thế thiếu giám định viên là tình trạng phổ biến ở hầu hết các địa phương, nhất là giám định viên chuyên trách ở 3 lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần và kỹ thuật hình sự. Trong lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần, một số địa phương có nhu cầu nhưng vẫn chưa thành lập được Trung tâm do không có đủ giám định viên theo quy định. Trong lĩnh vực kỹ thuật hình sự, theo tính toán của Bộ Công an hiện còn thiếu khoảng 200 người nên nhiều địa phương mới chỉ triển khai được giám định chuyên ngành kỹ thuật hình sự mang tính truyền thống như tài liệu, đường vân… Ngoài ra, trong lĩnh vực pháp y, việc thực hiện giám định của giám định viên kiêm nhiệm chưa thực sự gắn với hoạt động của tổ chức giám định tư pháp. Các tổ chức giám định tư pháp chưa phát huy được vai trò của mình trong việc bổ nhiệm giám định viên, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ giám định và kiểm tra việc thực hiện quy trình, quy chuẩn giám định của giám định viên tư pháp nên việc trưng cầu và thực hiện giám định đôi khi còn tùy tiện. Đặc biệt hiện nay, tất cả các lĩnh vực giám định vẫn chưa có quy chuẩn chuyên môn giám định, nhất là Bảng tỷ lệ thương tích trong giám định pháp y nên rất khó khăn cho người giám định tư pháp khi thực hiện giám định cũng như người tiến hành tố tụng khi đánh giá chứng cứ. Việc chưa có quy chuẩn chuyên môn giám định cũng đồng nghĩa với việc thiếu căn cứ để các Bộ, ngành và địa phương lựa chọn và công bố các tổ chức chuyên môn có đủ tiêu chuẩn, điều kiện để thực hiện giám định theo quy định tại Điều 24 của Pháp lệnh. Vì vậy, cơ quan tiến hành tố tụng thường rất lúng túng khi cần trưng cầu giám định ở những lĩnh vực không có tổ chức giám định tư pháp như tài chính, xây dựng, văn hóa, giao thông, lâm nghiệp, làm chậm chễ, thậm chí ách tắc nhiều vụ án.

Một thực tế khác là đội ngũ người tiến hành tố tụng chưa được trang bị những kiến thức kỹ thuật cần thiết về giám định tư pháp nên gặp khó khăn trong việc đánh giá kết luận giám định. Bên cạnh đó, việc ban hành và triển khai thực hiện các văn bản về chế độ chính sách còn rất chậm. Mặc dù Pháp lệnh có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1.1.2005 nhưng đến ngày 7.5.2009 Quyết định số 74/2009/QĐ-TTg về chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp mới được ban hành. Nhiều địa phương đến nay vẫn chưa triển khai thực hiện Quyết định số 74/2009/QĐ-TTg (hầu hết cơ quan cảnh sát điều tra các cấp đều đang nợ đọng tiền bồi dưỡng giám định với số lượng lớn) nên việc giám định còn bị chậm, kéo dài, chưa khuyến khích được chất xám của giám định viên. Một khía cạnh khác nữa là kinh phí chi trả cho việc thực hiện giám định. Thực tế, chi phí cho việc thực hiện giám định rất lớn, nhất là trường hợp phải trưng cầu các tổ chức chuyên môn là đơn vị kinh doanh, tự hạch toán tài chính, chuyên gia thực hiện giám định là người không hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Bởi vì, khi đó chi phí chi trả cho việc thực hiện giám định được tính theo giá dịch vụ chuyên môn theo cơ chế giá cả thị trường trong khi mục chi ngân sách cho việc chi trả này không có mà phải “bấu víu” vào kinh phí cấp cho giải quyết án hình sự vốn rất hạn hẹp, hoặc trông chờ vào sự hỗ trợ kinh phí của các địa phương, các ngành nơi diễn ra vụ việc. Tình trạng “ăn đong” về kinh phí này khiến cho việc trưng cầu và thực hiện giám định thường bị kéo dài, ảnh hưởng đến thời hạn giải quyết các vụ án.

Hệ thống tổ chức lạc hậu

Quy định của Pháp lệnh về hệ thống tổ chức giám định tư pháp đã bộc lộ những bất cập, khôn g phù hợp với thực tiễn. Pháp lệnh quy định việc xây dựng hệ thống tổ chức giám định pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự ở tất cả các địa phương, dẫn đến sự đầu tư bị dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm trong khi đó, nhu cầu và điều kiện giám định ở các địa phương là khác nhau. Pháp lệnh Giám định tư pháp quy định cho phép trưng cầu tổ chức chuyên môn thực hiện giám định nhưng chưa có cơ chế cụ thể bảo đảm cho tổ chức chuyên môn tham gia thực hiện giám định, chưa quy định rõ ràng trách nhiệm của người đứng đầu tổ chức được trưng cầu giám định tư pháp nên việc tham gia giám định của các tổ chức chuyên môn hiện nay còn rất hạn chế.

Bên cạnh đó, quy định về mô hình và cơ chế quản lý nhà nước về giám định tư pháp đã bộc lộ những điểm chưa phù hợp. Thực tế cho thấy, để quản lý nhà nước có hiệu quả thì cơ quan được giao quản lý nhà nước phải có một số thẩm quyền cần thiết và được bảo đảm một số điều kiện, phương tiện để thực hiện như có thẩm quyền về quản lý tổ chức, về kinh phí... Tuy nhiên, theo quy định của Pháp lệnh Giám định tư pháp thì các thẩm quyền trên đối với hoạt động giám định tư pháp đều được giao cho UBND cấp tỉnh và các Bộ, ngành khác. Bộ Tư pháp tuy được giao nhiệm vụ giúp Chính phủ quản lý nhà nước về hoạt động giám định tư pháp, nhưng Pháp lệnh lại chưa có cơ chế để Bộ Tư pháp thực hiện chức năng này. Vì vậy, thời gian qua, việc quản lý của Bộ Tư pháp chỉ dừng lại ở việc ban hành hoặc soạn thảo trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về giám định tư pháp và hướng dẫn thi hành; xây dựng chương trình bồi dưỡng kiến thức pháp luật cần thiết cho giám định viên tư pháp và phối hợp với các Bộ và UBND cấp tỉnh bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và kiến thức pháp luật cần thiết cho giám định viên tư pháp. Đồng thời, Bộ Tư pháp không thể phát huy được vai trò của mình trong hoạt động quản lý công tác giám định, mặt khác các Bộ, ngành được giao trực tiếp quản lý về con người, tổ chức, kinh phí, về đầu tư cơ sở vật chất cho các tổ chức giám định lại ít quan tâm đến công tác này. Hơn nữa Pháp lệnh giám định tư pháp quy định không rõ ràng về “người giám định tư pháp theo vụ việc” nên cách hiểu về quy định này có lúc chưa thống nhất, ví dụ như trong trường hợp giám định 3 triệu cổ phiếu ở nhà máy nhiệt điện Phả Lại, khi cơ quan điều tra trưng cầu Bộ Tài chính với tư cách là tổ chức chuyên môn và Bộ Tài chính phân công Chánh Thanh tra Ủy ban chứng khoán Nhà nước thực hiện giám định thì có ý kiến cho rằng người được phân công thực hiện giám định không phải là giám định viên và cũng không phải là người giám định tư pháp theo vụ việc đã được Bộ Tư pháp lập và công bố danh sách dẫn đến băn khoăn về giá trị kết luận giám định.

(Nguồn: Báo pháp luật Việt nam)

Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính

Theo Điều 72 và 74 Hiến pháp năm 1992, mọi chủ thể (kể cả Nhà nước) xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp, gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức đều phải bồi thường. Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật có những điều khoản quy định về lĩnh vực này. Ví dụ, Điều 623, 624 của Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995 hay  Điều 619, 620 BLDS năm 2005 đã có những quy định mang tính nguyên tắc về trách nhiệm bồi thường Nhà nước (BTNN)... Đến nay, rất nhiều các văn bản pháp luật chuyên ngành đã đề cập tới trách nhiệm BTNN như: Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998; Luật Hải quan năm 2001; Luật Bảo vệ môi trường năm 2005; Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006; Luật Đầu tư năm 2005; Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002; Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25-5-2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai (Nghị định số 84/2007/NĐ-CP)…

Như vậy, trong lĩnh vực hành chính, các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành đã quy định về trách nhiệm BTNN đối với những thiệt hại của cá nhân, tổ chức do cơ quan, cán bộ, công chức Nhà nước gây ra trong hoạt động của mình. Tuy nhiên, thực tế cho thấy các quy định này vẫn còn bộc lộ một số bất cập và thiếu tính khả thi.
Thứ nhất, do coi trách nhiệm BTNN thuần túy chỉ là một nội dung của chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định trong BLDS, do đó, chưa xác định được tính đặc thù và thiếu các quy định cụ thể và về cơ bản chưa tạo điều kiện cho người bị thiệt hại. Hầu hết người bị thiệt hại không biết ai là người đã gây thiệt hại cho mình, nhất là trường hợp thiệt hại xảy ra là hậu quả của việc thực hiện không kịp thời, không đầy đủ, không đúng trách nhiệm quản lý… Điều này dẫn tới tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, không  rõ cơ quan nào sẽ chịu trách nhiệm bồi thường.

Thứ hai, thủ tục giải quyết bồi thường, bồi hoàn còn quá rườm rà, phức tạp, chưa bảo đảm tính khách quan; phần bất lợi, bị động bao giờ cũng thuộc về người bị thiệt hại, nhất là trong trường hợp người gây ra thiệt hại lại là thủ trưởng cơ quan thực hiện bồi thường.
Thứ ba, các quy định về trách nhiệm BTNN còn tản mạn, nhiều văn bản ở tầm hiệu lực thấp, chưa tương xứng với tính chất, cũng như chưa tương thích với pháp luật quốc tế, do đó, chưa xác lập được cơ chế bồi thường có hiệu quả cho người bị thiệt hại, tính khả thi còn thấp.
Để khắc phục những hạn chế trên, ngày 18-6-2009, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã chính thức thông qua Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Việc thông qua luật này được đánh giá là một tiến bộ, bởi lần đầu tiên trong lịch sử tư pháp, Việt Nam đã luật hóa quyền của tổ chức, cá nhân được Nhà nước bồi thường vốn có trong Hiến pháp thành một đạo luật cụ thể. Theo quy định, luật này có hiệu lực 1-1-2010, nhưng đến tháng 4, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước vẫn chưa thể đi vào cuộc sống còn thiếu thông tư hướng dẫn. 
Để luật nhanh chóng đi vào cuộc sống, ngày 26-11-2010, Liên bộ: Tư pháp, Tài chính, Thanh tra Chính phủ đã ban hành Thông tư số 19/2010/TTLT-BTP-BTC-TTCP hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính. Theo đó, trong thời hạn 2 năm kể từ ngày có văn bản của cơ quan có thẩm quyền xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ, người yêu cầu bồi thường gửi hồ sơ yêu cầu đến cơ quan có trách nhiệm bồi thường bằng một trong các hình thức: Trực tiếp hoặc qua hệ thống bưu chính viễn thông.
 Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính chỉ phát sinh khi có đủ các điều kiện sau đây: Có văn bản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật; hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường quy định tại Điều 13, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; có thiệt hại thực tế xảy ra; có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế xảy ra và hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ...
Thông tư này có hiệu lực sau 45 ngày kể từ ngày ký. Bãi bỏ Thông tư số 49/2008/TT-BTC ngày 12-6-2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn bồi thường thiệt hại cho người nộp thuế, người khai hải quan do hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức thuế, cán bộ, công chức hải quan trong khi thi hành công vụ gây ra./.
(Nguồn: Báo quân đội nhân dân)

Chủ Nhật, 2 tháng 1, 2011

Khó lấy ý kiến con trẻ khi ly hôn

Theo quy định, khi giải quyết án ly hôn, tòa phải hỏi ý kiến của con trẻ từ chín tuổi trở lên xem các em muốn sống với cha hay mẹ.
Thủ tục bắt buộc này trên thực tế đã gặp vướng mắc khi các bậc cha mẹ không hợp tác.

Tại khoản 2 Điều 92 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định: Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thỏa thuận được thì tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Lấy ý kiến là cần thiết       
Nhiều chuyên gia pháp lý cho rằng việc lấy ý kiến của con cái là cần thiết. Khi cha mẹ ly hôn, các em đã mất đi một điểm tựa quan trọng nhất là mái ấm gia đình nên rất cần hỏi ý kiến để các em nói lên tâm tư, nguyện vọng của mình. Điều này cũng phù hợp với tinh thần của Điều 12 Công ước Liên Hiệp Quốc về quyền trẻ em mà Việt Nam là quốc gia thành viên. Theo đó: Các quốc gia thành viên phải bảo đảm cho trẻ em có đủ khả năng hình thành quan điểm riêng của mình, được quyền tự do phát biểu những quan điểm đó về tất cả vấn đề có tác động đến trẻ em, những quan điểm của các em được coi trọng một cách thích ứng với tuổi và độ trưởng thành của các em.

Cha mẹ không hợp tác
Thủ tục lấy ý kiến của con trẻ là bắt buộc trong giải quyết án ly hôn. Nếu thiếu thủ tục này án sẽ bị tòa cấp trên tuyên hủy. Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử của ngành tòa án đã gặp nhiều vướng mắc.
Không ít tòa đau đầu vì các bậc cha mẹ không hợp tác, không đưa con cái tới để tòa lấy ý kiến của các em. Lý do chính là rất nhiều người không muốn cho con cái biết họ ly hôn, sợ các em bị tổn thương về tâm lý. Ra tòa, họ cương quyết ly hôn nhưng một, hai mong tòa xem xét không cho con cái biết.
Gặp tình huống này, tòa vẫn phải tiếp tục giải quyết án bởi nếu tòa ra quyết định đình chỉ giải quyết án dân sự với lý do không có nguyện vọng của con trẻ là không đúng. Bởi trong vụ án ly hôn, con trẻ không có tư cách tham gia tố tụng.

Một thẩm phán TAND quận 3 (TP.HCM) kể nhiều vụ do cho cha mẹ không chịu đưa trẻ đến tòa nên cán bộ tòa phải tìm đến trường học hay nơi sinh sống của trẻ lấy ý kiến. Không cán bộ tòa nào muốn làm việc này, bởi hầu hết các trẻ đều ngơ ngác, khóc lóc khi biết cha mẹ mình muốn ly hôn. Và trong tờ tường trình của trẻ đều thể hiện là muốn sống chung với cả cha lẫn mẹ. Đã có những trường hợp, một số em buồn bã, học hành sa sút, thậm chí bỏ nhà đi bụi.

Vướng mắc thứ hai mà gần đây TAND TP.HCM cũng gặp phải là trường hợp cha mẹ ly hôn, có tranh chấp nuôi con trên chín tuổi nhưng tại thời điểm tranh chấp, con lại đang đi học ở nước ngoài. Gặp tình huống này, tòa lúng túng, không biết có cần phải thực hiện ủy thác tư pháp để xem xét nguyện vọng của con hay không vì luật không hướng dẫn...

Chỉ để tham khảo?
Điều mà các thẩm phán băn khoăn là luật bắt buộc phải lấy ý kiến của con trẻ trong khi điều này thực chất cũng chỉ mang tính tham khảo.

Tòa sẽ xem xét các điều kiện về việc chăm sóc, nuôi dưỡng cũng như tình cảm, đạo đức, phương pháp nuôi dạy... để lựa chọn người nuôi con, bảo đảm sự phát triển tốt nhất cho trẻ. Khi xem xét để ra quyết định giao trẻ cho cha hay mẹ,  tòa vẫn thường dựa trên thỏa thuận của họ là chính. Chưa kể, như thực tế đã nêu ra, việc lấy ý kiến nguyện vọng của trẻ nhiều trường hợp lại có thể gây tổn thương đến tinh thần của trẻ. Vì thế một thẩm phán chuyên giải quyết án ly hôn đề xuất nên sửa luật theo hướng hạn chế, giới hạn việc lấy ý kiến nguyện vọng của trẻ.

Theo thẩm phán này, chỉ trong những trường hợp tranh chấp về quyền nuôi con mà qua thu thập chứng cứ, tòa xét thấy giao đứa trẻ cho bên nào cũng được thì mới bắt buộc phải thực hiện việc lấy ý kiến của trẻ. Việc thu thập chứng cứ nên tiến hành bằng cách xác minh thông qua ban giám hiệu, hội phụ nữ, tổ trưởng dân phố và nơi làm việc của vợ chồng... để tránh  việc trẻ bị tổn thương khi biết cha mẹ sắp ly hôn.

Một thư ký tòa kể một người mẹ chở con đến tòa sau giờ tan học để hoàn thành thủ tục lấy ý kiến nguyện vọng của con trong vụ ly hôn của bà với chồng. Tại tòa, thẩm phán khuyên trẻ nên thực lòng viết ra những gì mình mong muốn, còn người mẹ lại ra sức ngồi bắt con viết theo ý mình là chỉ muốn sống chung với mẹ. Một lúc sau, đứa trẻ hoảng loạn, không những không viết được mà còn bật khóc và bỏ chạy ra đường, suýt chút nữa thì bị xe đụng
…
Nên bỏ hẳn
Thủ tục buộc đưa trẻ từ chín tuổi trở lên đến tòa làm bản tường trình để biết nguyện vọng trẻ muốn sống chung với cha hay mẹ sau khi ly hôn cần được loại bỏ. Bởi lý do khiến đứa trẻ muốn sống với ai thường rất cảm tính. Thực tế không phải cứ yêu thương nhiều là có thể đáp ứng được điều kiện cho trẻ phát triển toàn diện như mục đích mà Luật Hôn nhân và Gia đình hướng đến. Hơn nữa, việc này gây chấn thương tâm lý không thể nào bù đắp được cho trẻ. Với một quyết định đi theo trẻ suốt đời có ảnh hưởng rất sâu đậm. Nếu mai này có một sự kiện nào xảy ra khiến trẻ ân hận hay oán trách về quyết định ngày đó, có phải sẽ là chấn thương tâm lý đối với trẻ hay không?
Theo tôi, trong trường hợp cần thiết, tòa có thể lấy nguyện vọng của trẻ một cách nhẹ nhàng thông qua những người thân, thầy cô giáo. Đừng bắt buộc trẻ đến tòa làm bản tường trình như hiện nay sẽ gây ảnh hưởng tâm lý nặng nề cho trẻ thơ.

Luật sư PHẠM TẤT THẮNG, Đoàn Luật sư TP.HCM

Cần có hướng dẫn riêng
Trẻ từ chín tuổi trở lên đã bắt đầu nhận thức được sự yêu thương người lớn dành cho mình nên đặt ra tiêu chí phải lấy nguyện vọng của trẻ khi giải quyết án ly hôn là cần thiết. Đây là một tiêu chí quan trọng để dựa trên đó, tòa có thể đánh giá một cách toàn diện về việc quyết định giao trẻ cho cha hoặc mẹ trực tiếp nuôi dưỡng.
Vấn đề đặt ra là cách lấy nguyện vọng của trẻ như thế nào để tránh cho trẻ khỏi bị tổn thương. Theo tôi, TAND Tối cao nên có hướng dẫn cụ thể, không nhất thiết cứ phải triệu tập trẻ đến tòa lập biên bản trong không khí ngột ngạt, căng thẳng giữa cha và mẹ. Sức ép về tâm lý sẽ tạo nên nỗi ám ảnh khôn nguôi trong lòng trẻ thơ.
Luật gia ĐẶNG ĐÌNH THỊNH, Giám đốc Trung tâm Tư vấn pháp luật – Hội Luật gia Việt Nam

Bất cập trong các quy định pháp luật - nguyên nhân phát sinh KNTC

Trong những năm qua, các cơ quan nhà nước đã ý thức được tầm quan trong của công tác giải quyết khiếu nại, do đó, đã góp phần nâng cao hiệu quả công tác này. Tuy vậy, tình hình khiếu nại và giải quyết khiếu nại hiện nay vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế. Thực trạng trên có nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do cơ chế, chính sách, pháp luật còn có những bất cập, chưa phù hợp thực tế; công tác quản lý nhà nước còn có những yếu kém, sai phạm...


1. Về khiếu nại và thời hiệu giải quyết khiếu nại:
Khoản 1 và khoản 4 Điều 2 Luật KNTC năm 1998 quy định: khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình; “cơ quan tổ chức, khiếu nại” bao gồm: cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang; khoản 3 Điều 1 của Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 của Chính phủ quy định: “Tổ chức thực hiện quyền khiếu nại thông qua người đại diện là người đứng đầu tổ chức được quy định trong quyết định thành lập tổ chức hoặc trong Điều lệ của tổ chức…”.

Trong thực tế, có những “tổ chức” như dòng họ - không thuộc trong các loại tổ chức quy định trên và người đại diện (là Tộc trưởng hoặc những người cao tuổi trong dòng họ - là những chủ thể không được quy định rõ trong các văn bản pháp luật) khi có đơn khiếu nại (như việc cấp giấy CNQSD đất có liên quan đến nhà thờ họ...) thì các cơ quan nhà nước rất lúng túng và khó xác định họ có phải là tổ chức, là đối tượng được quyền thay mặt để khiếu nại hành chính hay không?

Bên cạnh đó, Điều 32 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2005, quy định không thụ lý giải quyết khi “Người khiếu nại không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ mà không có người đại diện hợp pháp”, nhưng lại chưa có hướng dẫn cụ thể về mức độ, dấu hiệu, căn cứ để cơ quan có trách nhiệm xác định, kết luận người khiếu nại không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.

Điều 31, Luật KNTC quy định “thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được có hành vi hành chính”. Tuy vậy, trên thực tế một số quyết định hành chính ngay khi ban hành đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại nhưng họ không thể biết được vì quyết định đó không được gửi đến cho người khiếu nại. Ví dụ: UBND huyện X cấp giấy CNQSD đất cho hộ gia đình Y bị trùng trên một phần diện tích của hộ M liền kề, nhưng giấy CNQSD đất đó chỉ được gửi cho hộ Y, do đó hộ liền kề M không biết được giấy CNQSD đất đó trùng trên một phần đất của gia đình mình hoặc khi biết được đã quá thời hiệu khiếu nại quyết định hành chính này. Trong những trường hợp này, nếu từ chối thụ lý vì lý do không thuộc đối tượng hoặc quá thời hiệu thì công dân tiếp tục khiếu kiện kéo dài, làm phức tạp tình hình hoặc khiếu nại vượt cấp, thông thường các cơ quan cấp trên vẫn chuyển đơn, yêu cầu cấp dưới xem xét giải quyết.

Để khắc phục tình trạng này cần có quy định mở rộng tổ chức và người thay mặt tổ chức đứng ra khiếu nại (như dòng họ, người thay mặt nhà thờ…); hướng dẫn cụ thể các trường hợp trở ngại khách quan mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu; hướng dẫn cụ thể mức độ, dấu hiệu, căn cứ, những trường hợp nào được coi là không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ để cơ quan có trách nhiệm xác định, kết luận người khiếu nại không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ để có cơ sở từ chối thụ lý giải quyết.

2. Về nghĩa vụ của người khiếu nại:

Tại khoản 2, Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật KNTC năm 2005 quy định người khiếu nại có nghĩa vụ “trình bày trung thực sự việc, cung cấp thông tin, tài liệu cho người giải quyết khiếu nại”. Quy định như vậy là chưa thật sự “bắt buộc” người khiếu nại có nghĩa vụ phải cung cấp các bằng chứng chứng minh việc quyết định hành chính, hành vi hành chính mà họ khiếu nại thật sự ảnh hưởng, xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình để người giải quyết xem xét thụ lý hoặc không thụ lý giải quyết. Trên thực tế, có những vụ việc sau khi thụ lý, kiểm tra, xác minh cho thấy quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại, làm mất thời gian, cũng như kinh phí của các cơ quan Nhà nước khi xem xét theo yêu cầu của họ. Trong khi đó nếu khởi kiện vụ án hành chính, hay dân sự tại Toà án thì đương sự phải có nghĩa vụ cung cấp các bằng chứng để chứng minh việc có thật thiệt hại về tài sản, danh dự... và trong trường hợp đương sự không chứng minh được, thì đương nhiên Toà án từ chối, không thụ lý.

Nên chăng cũng quy định tương tự như Toà án về việc thụ lý giải quyết các vụ việc khiếu nại của cơ quan hành chính, theo nguyên tắc “nghĩa vụ chứng minh trước Toà” như trong tranh tụng xét xử ngay khi xem xét, xử lý đơn để quyết định thụ lý hoặc không thụ lý giải quyết khiếu nại hành chính.

3. Về ủy quyền khiếu nại:

Theo quy định của Luật KNTC thì việc ủy quyền cho người đại diện theo quy định của pháp luật được thực hiện trong trường hợp “người khiếu nại là người chưa thành niên, người bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì người đại diện theo pháp luật của họ thực hiện việc khiếu nại; trường hợp người khiếu nại ốm đau, già yếu, có nhược điểm về thể chất hoặc vì lý do khách quan khác mà không thể tự mình khiếu nại thì được uỷ quyền cho cha, mẹ, vợ, chồng, anh, chị, em ruột, con đã thành niên hoặc người khác để khiếu nại” (Điểm 2, Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật KNTC năm 2005).

Thứ nhất, chúng ta thấy rằng trong trường hợp nào thì người khiếu nại được xem là “vì lý do khách quan” không thể tự mình khiếu nại mà được uỷ quyền khiếu nại. Ở đây chúng tôi muốn bàn đến trường hợp một người có đầy đủ năng lực hành vi nhưng có rất nhiều lý do như: bận đi công tác, chuyển nơi làm việc, sinh sống, bận nhiều công việc hoặc nếu người thân ốm đau phải chăm sóc  v.v... thì có được xem là lý do khách quan không?

Bên cạnh đó, thì khái niệm về “người khác” được hiểu như thế nào, ngoài “cha, mẹ, vợ, chồng, anh, chị, em ruột, con đã thành niên” như quy định đã nêu? Trong tố tụng dân sự thì khi tham gia tố tụng các bên đương sự có thể ủy quyền cho bất kỳ một người khác có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, người bào chữa hoặc “luật sư” thay mình tham gia tố tụng. Còn theo quy định của Luật KNTC (sửa đổi, bổ sung năm 2005) người khiếu nại chỉ có quyền “Nhờ luật sư giúp đỡ về pháp luật trong quá trình khiếu nại”, như vậy thì “luật sư” ở đây có được xem là “người khác” không? Có được ủy quyền để khiếu nại thay không? được “giúp đỡ về pháp luật” trong giới hạn nào?  Mặt khác, nếu “luật sư” là cha, mẹ, vợ, chồng, anh, chị, em ruột, con đã thành niên của người khiếu nại thì có được ủy quyền để khiếu nại thay hay không?

Thứ hai, theo quy định về trình tự giải quyết khiếu nại thì khi phát sinh khiếu nại, đương sự có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền để giải quyết khiếu nại lần đầu, nếu đương sự không nhất trí thì có thể giải quyết khiếu nại lần tiếp theo (trừ các trường hợp là  vụ việc đã có quyết định giải quyết có hiệu lực thi hành hoặc việc khiếu nại đã được toà án thụ lý để giải quyết). Như vậy thì khi người khiếu nại ủy quyền cho người khác khiếu nại thay có bao gồm toàn bộ quá trình giải quyết khiếu nại hay chỉ mỗi lần (mỗi cấp) giải quyết đều có ủy quyền riêng?

Thứ ba, trường hợp sau khi cơ quan Nhà nước đã thụ lý vụ việc và đang tiến hành xem xét giải quyết vụ việc nhưng người khiếu nại (người ủy quyền) bị chết thì có tiếp tục giải quyết khiếu nại không? Nếu tiếp tục giải quyết thì khi ra quyết định giải quyết khiếu nại cho đối tượng là người khiếu nại hay người được ủy quyền khiếu nại?

Do đó, thiết nghĩ, để giải quyết các quy định không cụ thể, không rõ ràng này, đồng thời mở rộng và đảm bảo quyền cho người khiếu nại cần được quy định: “Trong mọi trường hợp thì người khiếu nại có thể được ủy quyền cho bất cứ người nào có đầy đủ năng lực hành vi thay mình để khiếu nại” mà không cần đưa ra các điều kiện khác; “việc ủy quyền phải được thực hiện bằng văn bản theo từng lần giải quyết với từng nội dung cụ thể được ủy quyền khiếu nại”; “Khi đang thụ lý giải quyết khiếu nại mà người khiếu nại (không có người thừa kế) bị chết thì cơ quan thụ lý sẽ ra quyết định chấm dứt việc giải quyết khiếu nại” kể cả trường hợp khiếu nại đó đang được ủy quyền cho người khác khiếu nại thay.

4. Về đối thoại trong giải quyết khiếu nại:


Theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 (được sửa đổi, bổ sung năm 2004 và năm 2005) thì đối thoại trong giải quyết khiếu nại là việc gặp gỡ trực tiếp của người giải quyết khiếu nại với người khiếu nại, người bị khiếu nại để làm rõ nội dung khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại và hướng giải quyết khiếu nại; việc tổ chức đối thoại giữa người khiếu nại và người bị khiếu nại là quyền và nghĩa vụ của người giải quyết khiếu nại; kết quả đối thoại là một trong những căn cứ để người có thẩm quyền ban hành quyết định giải quyết khiếu nại … Có thể nói rằng đối thoại trong giải quyết khiếu nại nhằm mục đích giúp cho người giải quyết khiếu nại thu thập thông tin, củng cố chứng cứ  khi quyết định các vấn đề để giải quyết khiếu nại. Tuy vậy, quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo và các văn bản hướng dẫn có liên quan hiện nay còn nhiều điểm chưa rõ ràng, dẫn đến thiếu tính thống nhất trong tổ chức thực hiện.

Về quy định “có thể gặp gỡ, đối thoại” trong quá trình giải quyết khiếu nại lần hai, thường dẫn đến sự tùy tiện, ngại đối thoại của người có thẩm quyền khi giải quyết khiếu nại. Hơn nữa đối với những vụ việc đã giải quyết lần đầu mà đương sự còn khiếu nại thường là những vụ việc phức tạp, kéo dài vì vậy đối thoại giữa người khiếu nại và người bị khiếu nại là hết sức cần thiết để tìm hiểu rõ nguyên nhân, vướng mắc. Do vậy cần quy định rõ là trong bất cứ trường hợp nào thì khi giải quyết khiếu nại cũng cần phải tổ chức đối thoại để đảm bảo tính khách quan, chính xác khi giải quyết vụ việc.

Bên cạnh đó, thực trạng hiện nay khi tổ chức đối thoại thì tùy theo khả năng và nhận thức của từng địa phương, từng cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, cho nên về mặt thành phần tham gia, nội dung, phương pháp trong đối thoại được thực hiện không thống nhất, hiệu quả chưa cao. Do đó cần có quy định hướng dẫn việc tổ chức đối thoại một cách cụ thể  hơn./.
Nguyễn Như Dũng
Trưởng phòng nghiệp vụ 1- Thanh tra tỉnh Hà Tĩnh

NÊN THAY ĐỔI CÁCH NHÌN VỀ HIỆN TƯỢNG PHÁ SẢN

Khi hiệu quả kinh tế của tập đoàn Vinashin được đưa ra mổ xẻ, nhiều người cho rằng thực chất doanh nghiệp này đã phá sản nhưng chủ sở hữu không tuyên bố phá sản. Có thể do chủ sở hữu e ngại từ “tuyên bố phá sản” nên không tiến hành các thủ tục phá sản mà ngầm hiểu đã “phá sản” để tiến hành các biện pháp tái cơ cấu.
Dù có tuyên bố hay không tuyên bố, một khi đã lâm vào tình trạng kinh doanh thua lỗ, công nợ dày đặc mà không thanh toán được, thì doanh nghiệp đó vẫn phá sản.
Vì sao e ngại phá sản trong doanh nghiệp nhà nước?
Khi một doanh nghiệp nhà nước lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, chủ sở hữu có quyền tiến hành các thủ tục tuyên bố phá sản để mọi khoản nợ được ngừng trả, tạo cơ hội ổn định tình hình tài chính, giúp tổ chức, sắp xếp lại doanh nghiệp.
Thậm chí, điều 15, điều 16 Luật Phá sản 2004 quy định rất rõ là, khi nhận thấy doanh nghiệp của mình lâm vào tình trạng phá sản thì chủ sở hữu có nghĩa vụ tiến hành thủ tục phá sản. Tuy nhiên, nghĩa vụ này thường không được chủ sở hữu thực hiện một cách nghiêm chỉnh.
Lý do mà cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương e ngại tuyên bố phá sản doanh nghiệp của mình thường vì lo ngại sự sụp đổ dây chuyền và thất nghiệp hàng loạt, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người lao động và ảnh hưởng tới sự ổn định xã hội. Bên cạnh đó, do bệnh thành tích, các chủ sở hữu lo ngại nếu doanh nghiệp của mình bị coi là phá sản thì danh dự, uy tín bị ảnh hưởng, việc quản lý, điều hành yếu kém bị phơi bày.
Cách thức mà họ lựa chọn là không tuyên bố phá sản, tự mình tái cơ cấu bằng cách cấp vốn bổ sung, hoãn nợ hoặc xóa nợ, phân tách, sáp nhập, cho thuê, khoán… Hàng loạt hành động đó thực chất chính là sự can thiệp hành chính vào việc giải quyết tình trạng “phá sản” của doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ.
Cần thay đổi cách nhìn
Phá sản là hiện tượng kinh tế bình thường, khách quan, phát sinh khi các doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ kéo dài và rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Phá sản hiện nay không chỉ là việc chấm dứt hoạt động, thu hồi toàn bộ tài sản của doanh nghiệp và thanh toán cho các chủ nợ theo một thứ tự nhất định. Phá sản còn một khía cạnh đáng lưu ý là, tạo cơ hội cho doanh nghiệp làm ăn thua lỗ thỏa thuận với các chủ nợ, tái cấu trúc lại doanh nghiệp và lên kế hoạch trả nợ hợp lý để trở lại hoạt động bình thường.
Luật Phá sản hiện nay không chỉ đặt mục tiêu bảo vệ quyền lợi cho các chủ nợ mà còn có mục tiêu bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Khi Luật Phá sản 2004 được ban hành, đã xuất hiện các quy định ghi nhận tuyên bố phá sản là thủ tục nhằm tạo cơ hội cho doanh nghiệp tự tái tổ chức, phục hồi kinh doanh. Theo đó, từ biện pháp huy động vốn mới, thay đổi mặt hàng kinh doanh, đổi mới công nghệ sản xuất cho đến tổ chức lại bộ máy quản lý, sáp nhập hoặc chia tách bộ phận sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản xuất đều được quy định rõ tại điều 68, Luật Phá sản 2004.
Tuyên bố phá sản chỉ là một trong vô số các biện pháp nhằm tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, bởi thế, không nên hiểu sai lệch để rồi né tránh. Chỉ khi nhận thức như vậy, chúng ta mới sử dụng thủ tục tuyên bố phá sản được quy định tại Luật Phá sản 2004 như một công cụ để cứu vãn doanh nghiệp làm ăn thua lỗ.
Cần một hệ thống tư pháp đủ mạnh
Khi tiến hành các thủ tục tuyên bố phá sản doanh nghiệp làm ăn thua lỗ theo thủ tục được quy định tại Luật Phá sản 2004, các biện pháp tái cơ cấu doanh nghiệp sẽ được giám sát bởi tòa án và các chủ nợ. Tòa án sẽ tạo điều kiện tối đa cho doanh nghiệp làm ăn thua lỗ phục hồi hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp làm ăn thua lỗ được phép chủ động xây dựng phương án tổ chức lại hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình. Khi kế hoạch phục hồi kinh doanh được chủ nợ thông qua dưới sự giám sát của tòa án, doanh nghiệp làm ăn thua lỗ được khôi phục lại vị trí pháp lý ban đầu, tiếp tục hoạt động bình thường.
Theo điều 78, Luật Phá sản 2004 thì tòa án chỉ ra quyết định áp dụng thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp làm ăn thua lỗ khi đã áp dụng các biện pháp phục hồi hoạt động kinh doanh nhưng vẫn không phục hồi được và không thanh toán được các khoản nợ đến hạn.
Các biện pháp phục hồi doanh nghiệp hiệu quả như thế nào phụ thuộc nhiều vào năng lực quản lý tài sản của đội ngũ thẩm phán tại các tòa. Khi thủ tục phá sản được mở, thẩm phán sẽ là người trực tiếp giải quyết việc phá sản của các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ. Từ việc triệu tập, chủ trì, điều hành các cuộc họp của chủ nợ, phê duyệt dự án tái cơ cấu, giám sát thực hiện, định giá tài sản cho đến xác định các tài sản nợ của doanh nghiệp, Luật Phá sản đều quy định đội ngũ thẩm phán phải thực hiện. Bởi thế, ngoài những yêu cầu về trình độ pháp lý, người thẩm phán còn phải có trình độ hiểu biết về nhiều lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là tài chính – kế toán.
Tái cơ cấu doanh nghiệp làm ăn thua lỗ cũng giống như một cuộc chữa bệnh của các bác sỹ đối với các bệnh nhân lâm bệnh nặng. Một khi hệ thống tư pháp chưa đủ mạnh để tiến hành chữa bệnh cho các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, thì vẫn còn tình trạng can thiệp hành chính đối với căn bệnh mất khả năng thanh toán trong các doanh nghiệp nhà nước, và tình trạng doanh nghiệp “chết treo” khi mở thủ tục phá sản.
Do đó, bên cạnh việc thay đổi cách nhìn về hiện tượng phá sản để không e ngại với việc tuyên bố phá sản, cần nâng cao trình độ chuyên môn để có một đội ngũ thẩm phán chuyên xử lý các vụ việc phá sản. Khi có niềm tin vào năng lực của tòa án, các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ sẽ sử dụng trình tự phá sản như một cách thức để phục hồi kinh doanh. Chừng nào cơ hội phục hồi kinh doanh thông qua thủ tục phá sản còn thấp, thì người ta còn e ngại việc tuyên bố phá sản.
Nguồn: THỜI BÁO KINH TẾ SÀI GÒN

Sửa luật để công chứng hoạt động tốt hơn

Một trong những trọng tâm khi sửa Luật Công chứng là các quy định về miễn học nghề, tập sự nghề công chứng với một số đối tượng.

Sự ra đời của các văn phòng công chứng (VPCC) đã đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân, doanh nghiệp trong các giao dịch dân sự. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn xảy ra những sai phạm trong hoạt động của các VPCC. Bên lề Hội nghị toàn quốc ngành tư pháp năm 2011, Pháp luật TP.HCM có cuộc trao đổi với Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Đức Chính (ảnh) về vấn đề này.

Đã bớt đi tình trạng cửa quyền

. Thứ trưởng đánh giá như thế nào về hoạt động của các VPCC kể từ khi Luật Công chứng 2006 mở ra chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng?

+ Luật Công chứng 2006 đưa ra định hướng đúng đắn về xã hội hóa hoạt động công chứng. Bên cạnh các phòng công chứng nhà nước thì các VPCC ra đời ở các địa phương khá nhiều, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân, doanh nghiệp (DN) trong các giao dịch dân sự. Tác phong phục vụ, lề lối làm việc cũng tốt hơn, bớt đi tình trạng cửa quyền, khó khăn của các phòng công chứng trước kia. Về cơ bản thì cái được của các VPCC là chủ yếu.

. Nhưng trên thực tế cũng đã có không ít sai phạm xảy ra ở các VPCC?

+ Đúng là qua thanh tra đã phát hiện nhiều sai phạm ở các VPCC. Tuy chưa có VPCC nào bị rút phép nhưng cũng đã có một VPCC ở Hà Nội mắc sai phạm rất lớn.

Ngoài ra cũng có nhiều công chứng viên (CCV) bị xử phạt vi phạm trong quá trình hành nghề. Sai phạm thường là chứng các hợp đồng giao dịch bất động sản (BĐS) không đúng thẩm quyền. Có những BĐS không được giao dịch, sang nhượng nhưng vẫn ký… Song cũng có những sai phạm không phải do CCV. Có một tình hình báo động chung là nạn làm giả hồ sơ BĐS rồi đưa tới các VPCC và cả phòng công chứng để ký. Hồ sơ giả tinh vi đến mức nhiều khi CCV không thể phân biệt được.

Bên cạnh đó còn có những biểu hiện cạnh tranh không lành mạnh của một số VPCC. Đơn cử như tình trạng chi lại tiền hoa hồng cho khách hàng, hoặc có những cách lôi kéo khách hàng không nên áp dụng. Đặc biệt là việc ký công chứng ngoài trụ sở không theo quy định của luật xảy ra khá phổ biến.

Công chứng ngoài trụ sở lợi bất cập hại

. Có quan điểm cho rằng nên cho phép ký công chứng ngoài trụ sở vì như vậy sẽ thuận tiện cho người dân, thưa ông?

+ Luật Công chứng quy định việc ký công chứng phải được thực hiện tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng, trừ trường hợp những người yêu cầu công chứng bị ốm đau không tới VPCC được, hoặc cá biệt là các phạm nhân đang thi hành án trong trại giam và một vài lý do khác phải rất đặc biệt. Tuy nhiên, hiện nay có rất nhiều VPCC cứ tới chỗ của người yêu cầu công chứng để ký công chứng. Một số ý kiến cho rằng đến với dân như thế là thuận tiện cho dân. Tôi đồng ý có những cái thuận tiện nhưng cũng nhiều cái không tiện. Công chứng ngoài trụ sở sẽ dễ dẫn đến tiêu cực khiến CCV bị lung lay, dễ có những yếu tố tác động đến sự trung thực, khách quan của CCV. Mặc dù luật đã quy định nhưng việc này cũng đang phải tiếp tục chấn chỉnh.

. Thế còn năng lực của đội ngũ CCV hiện nay thì sao, thưa ông?

+ Một vấn đề lớn đang nổi lên là có những CCV được miễn học nghề và tập sự nghề công chứng nhưng năng lực yếu. Cái này có nguyên do từ các quy định của luật pháp. Do muốn phát triển đội ngũ CCV tương đối nhanh nên luật quy định một số đối tượng từng là thẩm phán, luật sư, điều tra viên, kiểm sát viên… được miễn học nghề, tập sự nghề công chứng.

Về nguyên tắc chung thì quy định trên có vẻ đúng nhưng đi vào từng trường hợp cụ thể lại có bất cập. Thực tế có trường hợp từng là thẩm phán cách đây 10 năm và chỉ làm chừng hai năm thôi, sau đó chuyển sang làm việc khác không liên quan đến luật pháp. Trong tám năm đó luật pháp có những thay đổi ghê gớm mà họ không được cập nhật nhưng theo luật thì họ lại được miễn học nghề và tập sự nghề công chứng. Hơn nữa, trong quá trình hành nghề trước khi trở thành CCV, chẳng hạn họ là thẩm phán về hình sự thì đâu có biết được về tài chính, ngân hàng. Do vậy mà khi chúng tôi thanh tra thì thấy họ có một số sai phạm.

Sẽ sửa Luật Công chứng

. Vậy Bộ Tư pháp có những biện pháp gì nhằm chấn chỉnh tình trạng trên?

+ Bộ chỉ đạo các sở tăng cường công tác quản lý nhà nước, thanh-kiểm tra hoạt động của các VPCC, phòng công chứng để chấn chỉnh sai phạm. Trong 2-3 tuần tới đây, Bộ sẽ ra thông tư để chấn chỉnh những hiện tượng sai phạm mà trong phạm vi của một thông tư có thể làm được.

Bộ cũng đang chuẩn bị để kiến nghị sửa đổi Luật Công chứng. Việc này phải chờ được Quốc hội chấp nhận và hiện cũng chưa được đưa vào chương trình làm luật của Quốc hội. Tuy nhiên, lãnh đạo Bộ cho rằng việc sửa Luật Công chứng là cần thiết.

. Trọng tâm của việc sửa luật sẽ gồm những gì?

+ Trọng tâm sẽ nhằm vào tiêu chuẩn bổ nhiệm CCV, đặc biệt là những người được miễn đào tạo nghề.

Quá trình hành nghề công chứng không chỉ liên quan đến Luật Công chứng mà còn rất nhiều luật khác như đất đai, nhà ở, tài chính, ngân hàng… Do vậy việc miễn đào tạo, tập sự nghề công chứng như nêu trên là chưa ổn. Tới đây, cơ quan quản lý sẽ tổ chức các lớp bồi dưỡng để tạm thời khắc phục trước mắt. Nhưng biện pháp căn bản vẫn là phải sửa luật, vì hoạt động công chứng trực tiếp ảnh hưởng đến an toàn pháp lý trong xã hội.

Vấn đề thứ hai cũng rất quan trọng là quy định về tổ chức hành nghề. Luật hiện nay xác định VPCC gồm hai CCV trở lên thì hình thức hành nghề là hợp danh, còn một CCV thành lập là DN tư nhân. Nhưng sự chuyển đổi, sát nhập như thế nào trong quá trình hoạt động thì luật vẫn chưa giải quyết hết…

. Xin cảm ơn Thứ trưởng.

Cần chấn chỉnh các quy định về chuyển nhượng đất nông nghiệp

Năm 2010 được đánh giá là năm thị trường BĐS chứng kiến một cơn sốt đất lớn nhất trong 10 năm trở lại đây. Việc lấy ý kiến người dân về đồ án quy hoạch tổng thể phát triển thủ đô Hà Nội đã tạo nên một cơn sốt, đặc biệt ở khu vực phía tây Hà Nội đến tận chân núi Ba Vì. GS-TS Đặng Hùng Võ - cố vấn cấp cao của Bộ Tài nguyên - Môi trường đã nhận định như vậy với phóng viên Lao Động ngày 28.12.


- Đúng là giá đất lên khá cao khi Quy hoạch tổng thể phát triển thủ đô được đưa ra lấy ý kiến rộng rãi. Một số người đã tranh thủ khai thác các yếu tố quy hoạch để tìm kiếm lợi ích kỳ vọng trong tương lai. Các cò đất cũng lợi dụng cơ hội này tung thêm tin tức, tô vẽ cho những lợi ích mù mờ đó. Điển hình nhất là giá đất khu vực chân núi Ba Vì. Với thông tin trong tương lai, Ba Vì sẽ trở thành trung tâm hành chính nên dù quy hoạch chưa được duyệt, nhưng giá đất Ba Vì vẫn tăng chóng mặt kể cả đất ở, đất sản xuất  nông nghiệp, đất rừng... Cơn sốt giá các loại đất theo quy hoạch lan ra cả các vùng xung quanh, đặc biệt ở khu vực phía tây Hà Nội, hoặc những vùng dự kiến quy hoạch đi qua như Thạch Thất, Quốc Oai, Đông Anh... đẩy giá đất lên cao. Tôi cho rằng, hiện cơn sốt đã tạm lắng, nhưng đã có những nạn nhân đầu tiên phải hứng chịu, đơn cử như giá đất ở Ba Vì hiện đang giảm khoảng 70% so với những ngày đầu công bố đồ án quy hoạch.

Vậy những bài học gì được rút ra sau việc này, thưa ông?

- Có nhiều bài học rút ra từ việc này. Việc công bố quy hoạch vừa rồi gây sốt đất ở Ba Vì và phía tây, trong khi đấy chỉ là quy hoạch để lấy ý kiến, chưa có ý nghĩa gì về mặt thực chất nó sẽ như thế nào, nhưng người dân đã cuống lên đi mua đất. Bài học thứ nhất ở đây, theo tôi, đó là do truyền tải thông tin đến người dân chưa thấu đáo để người dân không hiểu, gây thất thiệt cho dân, sự thật đến cùng thì cơ quan quản lý phải chịu trách nhiệm. Cần phải chuyển tải thông tin rõ ràng, mạch lạc để dân hiểu và làm theo đúng phạm vi người ta có thể làm được. 

Bên cạnh đó, cũng qua cơn sốt đất ở Ba Vì thì chúng ra thấy một điều là cần phải chỉnh đốn lại các quy định của pháp luật về từng trường hợp được chuyển nhượng đất nông nghiệp. Việc chuyển nhượng cần có điều kiện nhất định, cần trao đất đó vào tay những người trực tiếp sản xuất đất nông nghiệp, tránh để bần cùng hoá nông dân. Không phải làm như vậy là chúng ta bó lại quyền của nông dân, mà chúng ta hướng họ tới những việc thực hiện quyền tốt hơn, không phải bán đi để gỡ thế bí về tài chính lúc này và bán cho ai được thì bán. Điều đó chỉ làm hại cho người nông dân. Nên có các quy định chặt chẽ trường hợp nào được bán, trường hợp nào không được bán, hoặc đối tượng mua là ai. Ví dụ, nếu đối tượng mua cũng là người trực tiếp sản xuất thì câu chuyện dễ chịu hơn là một người ở thành phố đến mua đất và găm ở đấy.   

Bên cạnh đó, tôi cũng cho rằng, cần tăng cường trách nhiệm chính quyền xã trong việc kiểm tra tình hình thực hiện pháp luật đất đai trên địa bàn, ngăn ngừa các trường hợp từ nơi xa đến nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp để tính chuyện kiếm lợi theo quy hoạch. Tôi cho rằng việc này không quá khó, nhưng hiện nay cấp xã của chúng ta làm chưa được tốt. Nếu thực sự lo lắng cho dân thì sẽ thấy có rất nhiều việc để làm, giúp người nông dân nghĩ ngợi kỹ lưỡng hơn trước khi quyết định bán đất. Trong khi tôi thấy, hiện nay cấp xã đang làm một việc là chứng nhận cho người nông dân bán đất.

Mặt khác, cơ chế của ta có quy định người nông dân bị mất đất nông nghiệp thì được bồi thường bằng đất phi nông nghiệp, chuyển người ta sang làm dịch vụ đô thị... Thế nhưng các địa phương thấy cơ chế này phức tạp quá, nhiều việc quá nên muốn quy thành tiền. Việc này rất không lợi cho người nông dân. Cũng liên quan đến quy hoạch, tôi cho rằng cần hoàn thiện cơ chế thu hồi đất theo quy hoạch, người nông dân được góp đất và thực hiện các dự án đầu tư phát triển theo quy hoạch để tránh tình trạng giá đất tăng lên ngay sau khi có quy hoạch đưa ra.

- Cảm ơn ông!
Phạm Huệ thực hiện

Thủ tục chuyển tiền thừa kế ra nước ngoài

1. Về thủ tục chuyển số tiền có được do chuyển nhượng đất được thừa kế ra nước ngoài

Theo quy định tại Điều 10 Quyết định số 1437/2001/QĐ-NHNN ngày 19/11/2001 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, công dân Việt Nam đại diện cho người thừa kế ở nước ngoài được liên hệ với Ngân hàng được phép hoạt động ngoại hối để làm thủ tục chuyển, mang ngoại tệ (có được do thừa kế) ra nước ngoài.
* Hồ sơ để làm thủ tục bao gồm các loại giấy tờ sau:
- Đơn xin chuyển, mang ngoại tệ (theo mẫu của Ngân hàng);
- Bản chính hoặc bản sao công chứng văn bản của cơ quan có thẩm quyền về việc chia thừa kế hoặc di chúc, văn bản thỏa thuận giữa những người thừa kế hợp pháp;
- Văn bản ủy quyền của người thừa kế (có công chứng, chứng thực) hoặc tài liệu chứng minh tư cách đại diện theo pháp luật của người xin chuyển, mang ngoại tệ.
- Bản sao giấy chứng minh nhân dân (đối với trường hợp xin chuyển ngoại tệ) hoặc bản sao hộ chiếu (đối với trường hợp xin mang ngoại tệ).
* Về mức ngoại tệ tiền mặt được chuyển:
Theo quy định tại Quyết định số 921 ngày 27/6/2005 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì cá nhân trực tiếp mang tiền mặt khi xuất nhập cảnh qua cửa khẩu Việt Nam chỉ được phép mang theo người lượng ngoại tệ tiền mặt (bao gồm tiền giấy, tiền kim loại, séc du lịch) ở mức 7.000 USD; trường hợp vượt quá mức quy định trên thì phải khai báo hải quan cửa khẩu và xin giấy phép của Ngân hàng được phép hoạt động ngoại hối.
Trong trường hợp được phép mang, chuyển ngoại tệ ra nước ngoài, công dân Việt Nam đại diện cho người thừa kế ở nước ngoài được chuyển, mang mỗi năm tối đa không quá 10.000 USD hoặc 20% số tiền nếu tổng số tiền được thừa kế lớn hơn 50.000 USD.
Trường hợp số tiền xin chuyển, mang lớn hơn 50.000 USD, Công dân Việt Nam phải xuất trình giấy tờ chứng minh thực có số tiền xin chuyển cho mục đích thừa kế.
Số tiền còn lại (bằng đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ), công dân Việt Nam được gửi vào Ngân hàng để chuyển dần (bao gồm gốc và lãi phát sinh) trong các năm tiếp theo, theo phương thức Lệnh chuyển tiền định kỳ đã được thỏa thuận giữa Ngân hàng và người có yêu cầu chuyển ngoại tệ nhưng mỗi năm tối đa không quá mức quy định trên.
Trường hợp gửi vào Ngân hàng bằng đồng Việt Nam, công dân Việt Nam được mua ngoại tệ theo tỷ giá bán ngoại tệ của Ngân hàng được phép tại thời điểm chuyển ngoại tệ theo thỏa thuận giữa ngân hàng và người có yêu cầu chuyển ngoại tệ trong Lệnh chuyển tiền định kỳ.
2. Về thuế thu nhập phải chịu trong trường hợp chuyển nhượng đất được thừa kế:
Theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Luật thuế thu nhập cá nhân thì thu nhập từ nhận thừa kế là bất động sản giữa cha mẹ đẻ với con đẻ thuộc diện không phải chịu thuế.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật thuế thu nhập cá nhân, thu nhập có được do chuyển nhượng tài sản là bất động sản là thu nhập phải chịu thuế.
Tuy nhiên, đối với thu nhập có được do chuyển nhượng tài sản được hưởng thừa kế, người chuyển nhượng sẽ không phải chịu thuế thu nhập cá nhân trong trường hợp:
- Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau.
- Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất.
Do vậy, nếu bạn được thừa kế mảnh đất của cha mẹ tại Việt Nam và có ý định chuyển nhượng mảnh đất này để nhận tiền mặt, bạn sẽ chỉ được miễn thuế thu nhập cá nhân đối với việc chuyển nhượng khi mảnh đất này là tài sản duy nhất thuộc sở hữu của bạn tại Việt Nam hoặc bạn chỉ chuyển nhượng mảnh đất đó cho những người thân thích trong gia đình (bao gồm: ông bà nội (ngoại); cha mẹ nuôi, cha mẹ chồng (vợ); anh chị em ruột).

Tòa được hủy quyết định của cơ quan khác?

Tòa được hủy quyết định của cơ quan khác?
Tòa nhân danh nhà nước nên có quyền tuyên bố hủy một văn bản rõ ràng trái pháp luật của cơ quan nhà nước khác.
Một vấn đề gây tranh cãi trong dự thảo sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự là tòa có quyền hủy bỏ các quyết định rõ ràng trái pháp luật của cơ quan, tổ chức khác hay không. Cạnh đó, việc bổ sung một số biện pháp khẩn cấp tạm thời trong dự thảo cũng đang có nhiều ý kiến khác nhau.

Hiện nay, trong quá trình xét xử án dân sự, nếu phát hiện thấy các quyết định của cơ quan, tổ chức khác rõ ràng trái pháp luật thì tòa án chỉ có quyền kiến nghị hủy bỏ chứ không được tuyên chúng vô hiệu. Dự thảo sửa đổi theo hướng khi tòa thấy sai thì có quyền tuyên hủy bỏ luôn các quyết định ấy (giống quy định tại Điều 12 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự trước đây).

Đẩy nhanh tiến độ giải quyết án
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Phạm Quý Tỵ phân tích tòa chỉ có quyền kiến nghị theo luật hiện hành dẫn đến chuyện vụ việc bị kéo dài một cách không cần thiết. Tòa phải chờ các cơ quan hủy bỏ các quyết định trái luật của mình, không bảo vệ kịp thời quyền lợi hợp pháp của các bên đương sự. Cạnh đó, khi được tòa kiến nghị, các cơ quan, tổ chức thường không thực hiện hoặc làm không đúng nên có tình trạng bản án không được tuân thủ nghiêm túc.

Trong quá trình thu thập ý kiến, nhiều người còn cho rằng nên bổ sung quy định cho tòa được tuyên hợp đồng công chứng vô hiệu và xác định tài sản thuộc sở hữu chung.

Các vụ án sẽ giải quyết nhanh gọn hơn khi tòa có quyền hủy bỏ các quyết định trái luật của các cơ quan khác. Ảnh minh họa: HTD
Phó Chánh án TAND Tối cao Từ Văn Nhũ nói khi cơ quan công chứng không đồng ý hủy hợp đồng của mình thì đương sự không biết nhờ cậy ai. Về tài sản chung, thực tế có nhiều đương sự phải thi hành án nhưng không có tài sản riêng mà chỉ có một phần nhất định trong khối tài sản chung với người khác. Trong khi đó, phải kê biên mới xác định được tài sản của người phải thi hành án nên rất khó khăn, thậm chí có nhiều vụ bế tắc. Từ đó, ông Nhũ nói phải bổ sung quy định cụ thể về những trường hợp này để khi gặp, các tòa không bị lúng túng.

Chánh Tòa Dân sự TAND tỉnh Tây Ninh Nguyễn Thị Liên dẫn chứng bà đã từng gặp một vụ tòa áp dụng biện pháp khẩn cấp là kê biên đất của con nhưng trên đất lại có ngôi nhà thuộc sở hữu của người mẹ. Khi hai bên đương sự yêu cầu tòa tuyên rõ ràng phần tài sản của từng người thì tòa bó tay vì luật chưa cho phép.

Có nên nộp chứng từ bảo lãnh cho tòa?
Dự thảo sửa đổi bổ sung một số biện pháp bảo đảm khi đề nghị tòa áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Đó là người yêu cầu phải nộp cho tòa những chứng từ bảo lãnh của ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác.

Chánh án TAND tỉnh Bắc Ninh Nguyễn Trí Tuệ nói như vậy là chưa phù hợp với quy định về bảo lãnh. Vì bản chất bảo lãnh là người bảo lãnh và người nhận bảo lãnh thực hiện thay cho bên được bảo lãnh. Khi người bảo lãnh nộp cho tòa chứng từ của ngân hàng thì đó chỉ là thỏa thuận giữa người bảo lãnh và người được bảo lãnh, không liên quan gì đến người nhận bảo lãnh nên không phải là hợp đồng bảo lãnh. Cho nên nếu có tranh chấp tại tòa thì không phát sinh nghĩa vụ giữa ba bên trong quan hệ bảo lãnh nêu trên. Mặt khác, các chứng từ bảo lãnh chỉ là cam kết, không là tài sản thật nên tòa khó xác minh tính xác thực, trong khi thời gian cần áp dụng biện pháp khẩn cấp rất ngắn…

Ngược lại, Phó Chánh án TAND TP.HCM Hà Thúy Yến lại đồng tình với dự thảo với nhận định đây không phải là chế định bảo lãnh. Thực chất biện pháp này như hình thức một người có tiền cho người yêu cầu tòa áp dụng biện pháp khẩn cấp mượn để họ có đủ điều kiện yêu cầu tòa ra chế định. Tuy nhiên, quy định việc bảo lãnh phải tương đương với tổn thất hoặc thiệt hại cụ thể phát sinh rất khó thực hiện bởi lẽ thẩm phán không có cơ sở để xác định ngay tổn thất này mà báo cho đương sự. Cho nên có thể quy định cách dễ áp dụng hơn là nộp biện pháp bảo đảm tương đương với yêu cầu giá trị tài sản đang tranh chấp.
Phó Chánh án TAND tỉnh Bình Định Đặng Thành Thái thì đề xuất bổ sung quy định là nếu người cần áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không có tài sản nào khác ngoài tài sản hiện có thì tòa nên phong tỏa tài khoản ngân hàng của họ để bảo đảm.

Nâng cao vị thế của luật sư
Theo luật sư Phan Trung Hoài (Đoàn Luật sư TP.HCM), vị trí và vai trò của luật sư cần phải được nâng cao hơn nữa. Trong luật hiện hành, luật sư được coi là người tham gia tố tụng nên vai trò rất mờ nhạt và bị xem nhẹ. Vì vậy, phải coi luật sư là chủ thể tư pháp độc lập, có quyền hạn, trách nhiệm như những người tiến hành tố tụng, trong đó có quyền xác minh thu thập chứng cứ cho tòa án.
Luật sư Hoài còn cho rằng có một điều bất hợp lý là luật sư là người bảo vệ hợp pháp cho đương sự nhưng tòa án lại yêu cầu xuất trình giấy chứng nhận bào chữa và các thủ tục khác. Đây phải là quyền đương nhiên của luật sư giống như thân chủ họ.
Nhân danh nhà nước là đúng thẩm quyền
Nhiếu ý kiến cho rằng tòa không có quyền tuyên một văn bản rõ ràng trái pháp luật của một cơ quan nhà nước khác vì ngang quyền nhau. Nhưng theo tôi, tòa hoàn toàn có quyền bởi khi xét xử thẩm phán, chủ tọa nhân danh nhà nước, nếu chỉ có quyền kiến nghị thôi thì vô tình đã vô hiệu hóa chức năng của thẩm phán. Luật sửa đổi cho phép tòa hủy ngay các quyết định này nếu thấy rõ ràng trái luật là phù hợp. Từ đó giúp quá trình giải quyết vụ án diễn ra nhanh gọn và chính xác.
Phó Chánh Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao
tại TP.HCM LƯƠNG NGỌC TRÂM
Chấp nhận người thứ ba
Thực tế xuất hiện việc người thứ ba đứng ra đưa tài sản của mình để bảo đảm cho người yêu cầu tòa áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Theo tôi nên chấp nhận việc này vì đây là yêu cầu chính đáng của các đương sự và góp phần cho tòa giải quyết nhanh vụ án.
Một thẩm phán TAND TP.HCM
Tòa cấp huyện xử án có yếu tố nước ngoài
Luật nên quy định cho tòa án cấp quận, huyện được ủy thác tư pháp mà không cần chuyển lên tòa tỉnh, thành. Thực tế có những vụ án rất đơn giản nhưng chỉ dính một chút có yếu tố nước ngoài là đành phải chuyển đi. Hiện nay các tòa quận, huyện đã được tăng thẩm quyền hết. Thậm chí thời gian tới sẽ có tòa khu vực, nếu không cho thẩm phán cấp quận xử án có yếu tố nước ngoài thì chủ trương tăng thẩm quyền, mở rộng tòa sẽ không có ý nghĩa gì.
Một thẩm phán tòa quận tại TP.HCM