Hiển thị các bài đăng có nhãn tranh chấp chứng khoán. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tranh chấp chứng khoán. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 2 tháng 1, 2013

Chuẩn bị các điều kiện cho phát triển TTCK phái sinh

Năm 2013, UBCK sẽ tiếp tục hoàn thành các văn bản pháp lý liên quan đến sản phẩm ETF và chuẩn bị các điều kiện cho việc phát triển TTCK phái sinh.
Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam đã có phiên khởi đầu năm mới tưng bừng, với sự tăng mạnh cả về điểm số và thanh khoản. Trong đó, chỉ số HNX-Index tăng 3,54%, lên 59,11 điểm.
Sự khởi sắc của thị trường được dự đoán trước bởi những chính sách quyết liệt để giải cứu thị trường bất động sản và chứng khoán trước đó của Chỉnh phủ.
Ngoài ra, thị trường cũng phản ứng tích cực từ thông điệp đầu năm từ người đứng đầu Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCK), trong bài phát biểu tại Sở GDCK Hà Nội, nhân dịp đến thăm và đánh cồng khai trương phiên giao dịch đầu năm 2013 tại HNX.
Tham dự và chứng kiến Lễ đánh cồng tại HNX sáng nay còn có đại diện lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ Tài chính, UBCK, Hiệp hội Kinh doanh chứng khoán Việt Nam, Trung tâm Lưu ký và thành viên thị trường.
Phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch UBCK Vũ Bằng nhận định, năm 2012 mặc dù nền kinh tế vĩ mô trong và ngoài nước còn nhiều khó khăn, nhưng thị trường vẫn đạt được những thành tựu nhất định.
Thứ nhất, chỉ số chứng khoán tăng trên 18%, là con số tăng trưởng vào loại mạnh trên thế giới.
Thứ hai, dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài có xu hướng tăng, đặc biệt là trong các tháng cuối năm cho thấy sự quan tâm tích cực trở lại của NĐT nước ngoài đối với TTCK Việt Nam.
Thứ ba, tổng mức huy động vốn thông qua đấu thầu trái phiếu chính phủ vượt gấp đôi so với năm 2011.
Thứ tư, là nỗ lực của các Sở Giao dịch chứng khoán, Trung tâm Lưu ký chứng khoán trong việc kéo dài thời gian giao dịch, phát triển các sản phẩm mới như chỉ số VN30, HNX 30,…
Bên cạnh đó, Chủ tịch UBCK cũng đánh giá cao sự nỗ lực của các doanh nghiệp thành viên thị trường để vượt qua khó khăn, góp phần đem lại sự ổn định của thị trường chứng khoán.
Ông Bằng cho biết, năm 2013, với mục tiêu quan trọng là “vượt qua khó khăn, tiếp tục ổn định thị trường và chuẩn bị tiền đề cho sự phát triển TTCK trong giai đoạn tới”, UBCK sẽ tiếp tục thúc đẩy quá trình tái cấu trúc TTCK, triển khai các giải pháp dài hạn phát triển thị trường, hoàn thành các văn bản pháp lý liên quan đến sản phẩm ETF và chuẩn bị các điều kiện cho việc phát triển TTCK phái sinh.
Ông Trần Văn Dũng, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc HNX tin tưởng, với sự chỉ đạo sát sao của Bộ Tài chính, UBCK, cùng với nỗ lực của toàn thị trường, TTCK sẽ có những bước khởi sắc, từng bước phát triển trong những năm tiếp theo.

Thứ Sáu, 10 tháng 8, 2012

Nhà đầu tư không được bảo vệ


Thông tin Chủ tịch HĐQT và Phó chủ tịch HĐQT Công ty chứng khoán SME (SMES) bị bắt cho thấy việc giám sát hoạt động của các công ty chứng khoán hay doanh nghiệp niêm yết còn quá lỏng lẻo.

Nhà đầu tư không được bảo vệ
SMES từng là một công ty chứng khoán lớn trên thị trường nhưng các NĐT vẫn bị chiếm dụng tiền - Ảnh: D.Đ.M
Lãnh đạo chạy trước
Cuối năm 2011, một số khách hàng của SMES mới biết công ty này bị mất thanh khoản khi bị Trung tâm lưu ký chứng khoán (VSD) đình chỉ hoạt động lưu ký. Tới nay đã gần 1 năm trôi qua, các nhà đầu tư (NĐT) vẫn chưa thể rút được số dư tiền trên tài khoản của mình. Cũng có nghĩa là số tiền của các NĐT đã bị SMES tùy ý sử dụng.
Hiện tại, NĐT của SMES không biết đến đâu để đòi tiền trong khi việc lãnh đạo của công ty này bị bắt vì giả mạo chữ ký của khách hàng trong hợp đồng hợp tác đầu tư (thực chất là hợp đồng vay tiền của ngân hàng để đầu tư chứng khoán) càng khiến NĐT bất bình.
Khác với SMES, bà Phạm Thị Diệu Hiền - nguyên Chủ tịch HĐQT và Tổng giám đốc CTCP thủy sản Bình An mang 25 triệu cổ phiếu (CP) của mình đi thế chấp cho hai ngân hàng gồm Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) - chi nhánh Sở Giao dịch 2 và Ngân hàng Phát triển Cần Thơ - Hậu Giang, đồng thời mang bán cho Công ty Hồ Mây. Điều quan trọng nhất là việc này chỉ mới được lộ ra trong tuần qua và mọi cổ đông lẫn ngân hàng đều tá hỏa.
Chuyện lãnh đạo cao cấp ở nhiều doanh nghiệp thoái vốn trước khi công ty bị thua lỗ hay có nguy cơ phá sản đang diễn ra khá nhiều trên thị trường. Có thể kể đến chuyện ông Đinh Hồng Long - Chủ tịch HĐQT CTCP đầu tư tổng hợp Hà Nội (SHN) và một số thành viên HĐQT từ cuối năm 2011 đã âm thầm bán ra hàng triệu CP, bán hết CP quỹ. Đến cuối tháng 3.2012, báo cáo tài chính quý 4/2011 của SHN chính thức công bố cho biết, công ty sắp... phá sản. Hay chuyện Công ty chứng khoán Sacombank (SBS) đầu năm nay mới công khai chuyện thua lỗ cao hơn cả vốn chủ sở hữu trong khi ban điều hành đã bán xong toàn bộ CP sở hữu trước đó... Chỉ đến khi sai phạm bị vạch trần, các NĐT mới biết thì tiền mất và không biết kêu ai.
.... và lạm quyền
 
Theo Báo cáo môi trường kinh doanh 2011 được Ngân hàng Thế giới công bố, Việt Nam bị điểm 0 về trách nhiệm giải trình của thành viên hội đồng quản trị doanh nghiệp trước cổ đông. Chính điểm số này đã đưa Việt Nam trở thành 1 trong 10 nước kém nhất thế giới về mức độ bảo vệ nhà đầu tư (hạng 173/183).
Uớc tính hiện nay chỉ có khoảng hơn 20 công ty chứng khoán (CTCK) tách bạch tiền gửi của NĐT tại các ngân hàng, gần 80 CTCK còn lại vẫn nhập nhằng để giữ tiền của các NĐT trong tài khoản tổng của mình. Chính điều này khiến NĐT có nguy cơ mất tiền rất lớn vì các CTCK dễ dàng chiếm dụng tiền của NĐT mà không gặp phải cản trở nào.
Theo quy định, đến cuối năm 2008, các CTCK phải thực hiện xong việc tách bạch tiền gửi của NĐT nhưng như nói trên, hầu hết các CTCK vẫn không chịu thực hiện việc này. Một chuyên gia tài chính tại TP.HCM cảnh báo, sẽ còn nhiều trường hợp tương tự SMES nếu Ủy ban Chứng khoán nhà nước không kiên quyết kiểm tra và xử lý các CTCK không thực hiện theo quy định. Riêng đối với việc quy định về công bố thông tin giao dịch nội bộ, theo ông Huỳnh Anh Tuấn - Tổng giám đốc Công ty chứng khoán SJC - về mặt nguyên tắc, Sở Giao dịch và Trung tâm lưu ký có thể biết ngay sau khi giao dịch này được thực hiện, có thể ngay lập tức bắt các cá nhân vi phạm giải trình, thậm chí hủy bỏ các giao dịch đó vì chưa công bố thông tin ra bên ngoài. Chứ chỉ phạt hành chính vài chục triệu đồng, không thấm gì so với giá trị giao dịch nên không thể ngăn chặn được việc này.
Điều quan trọng hơn, theo TS Lê Đạt Chí - Trưởng bộ môn đầu tư tài chính (Trường ĐH Kinh tế TP.HCM) - trong những chuyện vi phạm trên đều cho thấy, các vị lãnh đạo công ty niêm yết quá lạm quyền. Đối với một NĐT cá nhân, giấy chứng nhận sở hữu CP chỉ có một thì khó có thể mang đi cầm cố hay bán cho 2 nơi. Trong khi đó, bản thân bà Diệu Hiền có thể in ra bao nhiêu tờ giấy chứng nhận sở hữu này cũng được nên mới dẫn đến chuyện vừa bán, vừa cầm cố ở hai ngân hàng. Tương tự tại SMES, Chủ tịch HĐQT mới có quyền đưa ra quyết định sử dụng luôn tiền của NĐT trong giao dịch vì bản thân nhân viên cũng sẽ không dám tự ý sử dụng. TS Lê Đạt Chí đặt vấn đề, có bao nhiêu công ty ban hành quy chế kiểm soát, ràng buộc nội bộ để ban kiểm soát và cổ đông căn cứ vào đó xem xét người quản lý đúng hay sai? Các biểu mẫu công bố thông tin thì nhiều nhưng nội dung thông tin nghèo nàn. Ngay như trường hợp của SMES và bà Diệu Hiền giờ đây cũng chưa có quy định để xử lý cụ thể.
Như vậy những câu chuyện tương tự có thể sẽ tiếp tục diễn ra. Thị trường chứng khoán Việt Nam không thể lớn nổi và trở nên bất ổn trong mắt NĐT khi còn những câu chuyện như thế.

Theo: Thanhnien

Thứ Ba, 21 tháng 2, 2012

Các nguyên tắc cơ bản trong việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động đầu tư chứng khoán

Quan hệ xã hội phát sinh từ hoạt động đầu tư chứng khoán (ĐTCK) là một quan hệ phù hợp với xu hướng và quy luật phát triển chung của “kỷ nguyên hội nhập” và nhu cầu khách quan của các quốc gia có nền kinh tế thị trường, nên cần được pháp luật ghi nhận và điều chỉnh. Điều chỉnh bằng pháp luật đối với các quan hệ phát sinh từ hoạt động ĐTCK là sự tác động của pháp luật lên các quan hệ này nhằm chi phối và định hướng chúng phát triển trong một trật tự nhất định, phù hợp với mục tiêu, nguyên tắc chung của thị trường chứng khoán (TTCK) cùng với sự phát triển khách quan của xã hội và ý chí của Nhà nước.
Sự cần thiết điều chỉnh bằng pháp luật các quan hệ từ ĐTCK còn xuất phát từ nhu cầu phát triển kinh tế và vai trò quản lý xã hội của Nhà nước. Ngày nay, sự ổn định và phát triển của nền kinh tế một quốc gia gắn liền với vai trò tác động tích cực của Nhà nước. Cuộc suy thoái kinh tế và khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra năm 2008 có tâm điểm xuất phát từ nước Mỹ đã cho thấy, “chủ nghĩa Nhà nước điều tiết là con đường chống khủng hoảng thế giới”1. Các hoạt động liên quan đến chứng khoán và TTCK, trong đó có hoạt động ĐTCK là một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế và sự vận động của các quan hệ xã hội trong lĩnh vực này có ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ nền kinh tế. Mặt khác, hoạt động ĐTCK là hoạt động đầu tư đặc thù liên quan trực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội, chính sách tiền tệ và chứa đựng nhiều rủi ro. Từ đó cho thấy, vai trò quản lý và điều tiết của Nhà nước trong hoạt động ĐTCK là không thể thiếu được. Nhà nước thực hiện vai trò này thông qua công cụ là pháp luật. Pháp luật phải kịp thời phản ánh, ghi nhận và điều chỉnh các quan hệ từ ĐTCK. Do tính chất đặc thù của các quan hệ phát sinh từ ĐTCK là những quan hệ phức tạp, dễ phát sinh tranh chấp và luôn luôn vận động theo sự năng động và phát triển của TTCK nên việc điều chỉnh các quan hệ này bằng pháp luật cũng phải dựa trên những nguyên tắc cơ bản nhất định.
Nguyên tắc cơ bản (basic principles) luôn là bộ phận cấu thành quan trọng của pháp luật. Theo Lê Minh Tâm, “hệ nguyên tắc của pháp luật xã hội chủ nghĩa là những nguyên lý, những tư tưởng chỉ đạo cơ bản, có tính chất xuất phát điểm, thể hiện tính toàn diện, linh hoạt và có ý nghĩa bao quát, quyết định nội dung và hiệu lực của pháp luật”2. Hệ nguyên tắc của pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc chỉ đạo, định hướng và áp dụng vào toàn bộ các quá trình của cơ chế điều chỉnh pháp luật như: xác lập và phát huy hiệu lực của các quy phạm pháp luật, xác lập các quyền và nghĩa vụ trong khuôn khổ mà các quy phạm pháp luật đã dự liệu và định rõ, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ thể quan hệ pháp luật và quá trình áp dụng pháp luật. Hệ nguyên tắc cơ bản của pháp luật còn xác định tính hợp pháp và hợp lý trong xử sự của các chủ thể, tác động mạnh mẽ tới ý thức pháp luật, văn hoá pháp lý và trật tự pháp luật. Các nguyên tắc pháp luật phải phản ánh sự vận động khách quan của xã hội và các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể, nhằm qua đó định hướng sự phát triển của các quan hệ này theo một trật tự nhất định.
Đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường là tự do sở hữu và tự do cạnh tranh, tự do kinh doanh. Hoạt động ĐTCK là hoạt động thể hiện rõ nét các đặc trưng đó. Ngoài ra, trong bất kỳ nền kinh tế nào cũng cần đến vai trò can thiệp, quản lý và điều tiết của Nhà nước. Tuỳ thuộc vào mô hình, giai đoạn phát triển của nền kinh tế mà mức độ can thiệp của Nhà nước đến đâu và thể hiện như thế nào. Mặc dù, TTCK là thị trường bậc cao và chỉ có thể hình thành và phát triển trên nền tảng một nền kinh tế thị trường, thế nhưng để TTCK hoạt động công khai, minh bạch và công bằng thì nguyên tắc đảm bảo sự can thiệp và quản lý của Nhà nước chiếm một vị trí quan trọng. Trên cơ sở đó, chúng tôi cho rằng, những nguyên tắc cơ bản đặt ra trong việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động ĐTCK tại Việt Nam bao gồm:

1. Nguyên tắc đảm bảo quyền tự do sở hữu
Trên TTCK nói chung và trong hoạt động ĐTCK nói riêng, quyền sở hữu hầu như chi phối toàn bộ các hành vi mua bán chứng khoán của nhà đầu tư (NĐT). Do TTCK có mục tiêu là hình thành kênh huy động các nguồn vốn nhàn rỗi tạm thời trong công chúng để đầu tư vào nền kinh tế, nên trong các số các NĐT trên TTCK thì NĐT cá nhân chiếm một tỷ lệ đáng kể, đặc biệt là tại Việt Nam. Quá trình chuyển đổi nền kinh tế của nhiều nước như Việt Nam, Trung Quốc, các nước Đông Âu… đều hướng tới mục tiêu đa thành phần, đa sở hữu của nền kinh tế. Đó cũng chính là nền tảng để hình thành một nền kinh tế thị trường đúng nghĩa và là cơ sở ra đời của TTCK. Thật vậy, chỉ khi các loại hình doanh nghiệp phong phú và đa dạng, trong đó có công ty cổ phần (CTCP) là một loại hình doanh nghiệp thể hiện rõ nét nhất tính chất hỗn hợp và đa dạng của các hình thức sở hữu, thì nhu cầu góp vốn và huy động vốn, nhu cầu chuyển nhượng cổ phần, cổ phiếu mới phát sinh và TTCK ra đời là để giải quyết nhu cầu đó. Quyền tự do sở hữu của NĐT trên TTCK cũng bao gồm đầy đủ các quyền năng cấu thành nên nội hàm của quyền sở hữu nói chung. Đó là quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt số phận pháp lý của chứng khoán thuộc sở hữu của mình3. Biểu hiện cụ thể của các quyền năng này trong lĩnh vực ĐTCK như sau:
Quyền chiếm hữu chứng khoán là quyền nắm giữ, quản lý chứng khoán của chủ sở hữu. Việc chiếm hữu chứng khoán phải dựa trên các cơ sở hợp pháp như mua chứng khoán, góp vốn vào CTCP, được tặng, cho, thừa kế chứng khoán theo quy định của pháp luật; được nhận cổ phần thưởng, được chia cổ tức theo Điều lệ CTCP và những căn cứ khác không trái với pháp luật.  Người đang sở hữu hợp pháp chứng khoán sẽ được pháp luật bảo vệ trước những hành vi xâm hại đến các quyền và lợi ích phát sinh từ việc sở hữu chứng khoán. Bằng chứng để chứng minh quyền sở hữu chứng khoán là chứng chỉ chứng khoán ghi danh, giấy chứng nhận cổ đông hoặc các thông tin về cổ đông được ghi nhận trong sổ cổ đông của công ty cổ phần4.
Quyền sử dụng chứng khoán là quyền khai thác những lợi ích vật chất và tinh thần phát sinh từ chứng khoán của chủ sở hữu. Các lợi ích vật chất mà chủ sở hữu có thể khai thác từ việc nắm giữ chứng khoán là nhận cổ tức (đối với cổ phiếu), lãi suất (đối với trái phiếu), hưởng chênh lệch giữa giá mua vào và bán ra của chứng khoán, quyền nhận cổ phiếu thưởng… Bên cạnh đó, người sở hữu chứng khoán cũng có một số lợi ích phi tài sản (tinh thần) như quyền ứng cử, bầu cử và tham dự Đại hội đồng cổ đông trong CTCP, được cung cấp thông tin…
Quyền định đoạt chứng khoán là quyền quyết định số phận thực tế và số phận pháp lý của tài sản5. Theo Điều 195, Bộ luật Dân sự 2005, thì “quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó”. Trong hoạt động ĐTCK có thể xem quyền định đoạt đối với chứng khoán là quyền của chủ sở hữu được chuyển nhượng chúng cho người khác dưới các hình thức bán, tặng, cho hoặc thừa kế… và kể cả quyền từ bỏ chúng. Việc định đoạt chứng khoán có thể được thực hiện bởi chính chủ sở hữu hoặc người khác thông qua ủy quyền và phải tuân thủ điều kiện, trình tự và thủ tục do pháp luật quy định. Ví dụ, chủ sở hữu muốn bán chứng khoán đã niêm yết của mình phải mở tài khoản và lưu ký tập trung, sau đó phải tiến hành đặt lệnh thông qua CTCK và hệ thống giao dịch sẽ tự động so khớp các lệnh giao dịch để cho ra kết quả giao dịch. Quyền định đoạt chứng khoán là một quyền năng quan trọng nhất, nó là cơ sở để hình thành hoạt động giao dịch chứng khoán trên thị trường.
Những phân tích ở trên cho thấy, để hoạt động ĐTCK thông suốt và sôi động, trước hết phải đảm bảo quyền sở hữu cho các chủ thể tham gia thị trường, bao gồm tổ chức và cá nhân. Việc thể chế hoá các quyền năng (nội dung) của quyền sở hữu là khác nhau trong những thời kỳ khác nhau và ở từng quốc gia khác nhau phụ thuộc vào những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể.

2. Nguyên tắc đảm bảo quyền tự do kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường, quyền tự chủ và tự do trong kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được pháp luật tôn trọng và bảo vệ6. Nội hàm của quyền tự do kinh doanh đã được Luật Doanh nghiệp 2005 quy định khá rõ. Đó là quyền được “thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”7. Tuy nhiên, nội dung cụ thể của quyền tự do kinh doanh có nội hàm rất rộng, bao trùm nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống kinh tế của một quốc gia. Theo Bùi Ngọc Cường, nội dung của quyền tự do kinh doanh bao gồm: quyền được đảm bảo sở hữu đối với tài sản; quyền tự do thành lập doanh nghiệp; quyền tự do hợp đồng; quyền tự do cạnh tranh theo pháp luật và quyền tự định đoạt trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp8. Trên TTCK, việc thực hiện đồng bộ và đầy đủ các quyền tự do kinh doanh sẽ là cơ sở để TTCK vận hành và phát triển, qua đó, hoạt động ĐTCK sẽ trở nên sôi động và hiệu quả hơn. Về phía các doanh nghiệp, quyền tự do kinh doanh là căn cứ cơ bản để các doanh nghiệp quyết định lựa chọn hình thức huy động và sử dụng vốn, trong đó có việc phát hành chứng khoán để tài trợ cho những kế hoạch sản xuất, kinh doanh của mình. Việc phát hành chứng khoán của doanh nghiệp cung cấp cho TTCK có thêm những hàng hoá phong phú và đa dạng, tạo ra nhiều sự lựa chọn cho các NĐT. Về phía NĐT, quyền tự do kinh doanh là cơ sở để các NĐT, đặc biệt là các NĐT tổ chức (kể cả các định chế đầu tư chuyên nghiệp và các doanh nghiệp tham gia đầu tư không thường xuyên) có thể bỏ vốn ra để ĐTCK nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Khi đó, chứng khoán đã trở thành một trong những sự lựa chọn trong quá trình kinh doanh của họ bên cạnh những cơ hội khác. Mặt khác, nhờ có sự thừa nhận và bảo hộ quyền tự do kinh doanh đối với doanh nghiệp, NĐT trên TTCK mà các định chế trung gian như công ty chứng khoán (CTCK), công ty quản lý quỹ (CTQLQ) được thành lập để cung cấp các dịch vụ như môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư, quản lý quỹ, quản lý danh mục đầu tư… qua đó, có thể thu được những khoản lợi nhuận đáng kể.
Như vậy, suy cho cùng, quyền tự do kinh doanh trên TTCK chính là sự đảm bảo cơ hội kinh doanh, cơ hội đầu tư của các chủ thể trên thị trường từ phía Nhà nước. Quyền tự do kinh doanh được pháp luật tôn trọng và bảo vệ vì nếu không có sự đảm bảo này thì bản thân các giao dịch chứng khoán, đặc biệt là các giao dịch trên thị trường thứ cấp khó có thể tồn tại và phát triển. Luật Chứng khoán 2006 đã ghi nhận nguyên tắc “Tôn trọng quyền tự do mua, bán, kinh doanh và dịch vụ chứng khoán của tổ chức, cá nhân”9 như là một trong những nguyên tắc quan trọng trong việc tổ chức và vận hành TTCK tại Việt Nam.

3. Nguyên tắc tự do cạnh tranh
Tự do cạnh tranh với tư cách là một quy luật vận động của nền kinh tế thị trường, vì vậy nguyên tắc tự do cạnh tranh phải được bảo đảm thực hiện trong các giao dịch trên TTCK. Tự do cạnh tranh trong ĐTCK giúp cho nguồn vốn đưa vào nền kinh tế được sử dụng với hiệu suất cao nhất, đồng thời chứng khoán được giao dịch cũng phải có sự lựa chọn tốt nhất. Thực tế cho thấy, ngày càng có nhiều doanh nghiệp huy động vốn thông qua chào bán chứng khoán. Để có vốn kịp thời nhằm triển khai các dự án, kế hoạch sản xuất, kinh doanh thì các doanh nghiệp phải cạnh tranh với nhau để thu hút NĐT về điều kiện phát hành, về tính hấp dẫn của chứng khoán phát hành và cuối cùng là về hiệu quả hoạt động cũng như hiệu quả sử dụng vốn. Nhờ có sự cạnh tranh này mà NĐT có thêm nhiều sự lựa chọn về chủng loại chứng khoán, về doanh nghiệp và lĩnh vực ngành nghề để đầu tư.
Tự do cạnh tranh dưới góc nhìn của hoạt động giao dịch chứng khoán thể hiện ở chỗ, nguyên tắc khớp lệnh trên thị trường tập trung là dựa trên sự ưu tiên về giá và ưu tiên về thời gian. Ưu tiên về giá (hay còn gọi là nguyên tắc đấu giá) là nguyên tắc mà theo đó, đối với cùng một loại chứng khoán, nếu có nhiều lệnh mua hoặc nhiều lệnh bán thì lệnh mua nào có mức giá cao hơn hoặc lệnh bán nào có mức giá thấp hơn sẽ được ưu tiên thực hiện trước. Trường hợp có nhiều lệnh cùng mua hoặc cùng bán một loại chứng khoán ở cùng mức giá thì lệnh nào nhập vào hệ thống sớm hơn sẽ được ưu tiên thực hiện trước10. Ngoài ra, nguyên tắc tự do cạnh tranh giữa các NĐT còn biểu hiện trong việc xét trúng thầu khi họ tham gia đấu giá cổ phần trên thị trường sơ cấp. Người được trúng thầu sẽ là người đặt mức giá mua cao nhất và nếu lượng cổ phần vẫn còn thì sẽ được phân bổ cho người đặt giá cao liền kề tiếp theo11. Bên cạnh đó, trên thị trường quy định nhiều hình thức đặt lệnh (đặt lệnh trực tiếp tại sàn giao dịch của CTCK, đặt lệnh qua điện thoại, đặt lệnh từ xa qua mạng Internet hoặc đặt lệnh qua tin nhắn SMS) và nhiều loại lệnh với những tính chất và ưu tiên khác nhau (lệnh giới hạn; lệnh khớp ở mức giá mở cửa, đóng cửa; lệnh hủy) đã tạo ra nhiều công cụ giúp các NĐT có thể sử dụng trong hoạt động giao dịch chứng khoán.
Nguyên tắc cạnh tranh được thể hiện rõ nét nhất là trong hoạt động của các CTCK nhằm thu hút khách hàng, nâng cao thị phần và hiệu quả kinh doanh. Sự cạnh tranh này thường diễn ra khá gay gắt, đặc biệt thông qua việc giảm mức phí giao dịch12, đa dạng hoá và nâng cao chất lượng các dịch vụ, tiện ích cho các giao dịch chứng khoán.
Trên phương diện quản lý, vấn đề cạnh tranh được đưa ra như một nguyên tắc hoạt động thị trường, đảm bảo sự công bằng cho tất cả các chủ thể có nhu cầu tham gia hoạt động ĐTCK được Nhà nước thừa nhận và đảm bảo thực hiện. Nhờ có cạnh tranh mà chất lượng hàng hoá (các loại chứng khoán) và các dịch vụ trên thị trường sẽ tốt hơn, các doanh nghiệp làm ăn hiệu quả hơn. Đó là những yếu tố cần thiết để TTCK hoạt động hiệu quả, thực hiện tốt chức năng là kênh huy động vốn và đầu tư của mình. Vấn đề cạnh tranh được xem xét với tư cách là một nguyên tắc pháp lý cho hoạt động ĐTCK không chỉ ở khung pháp lý của một quốc gia đơn lẻ nào, mà nó là một yêu cầu chung mang tính chất bắt buộc, được thể chế hóa trong rất nhiều các quy định cụ thể.

4. Nguyên tắc nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước đối với hoạt động đầu tư chứng khoán
Như chúng ta đã biết, hoạt động ĐTCK đóng vai trò tích cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia. Tuy nhiên, bên cạnh vai trò tích cực đó, hoạt động giao dịch chứng khoán cũng kèm theo những mặt trái của nó. Đó là các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, các giao dịch không công bằng, tung tin đồn thất thiệt, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, rửa tiền…. Bên cạnh đó, hoạt động giao dịch chứng khoán phải dựa trên những cơ sở pháp lý rõ ràng và trong một môi trường lành mạnh, công bằng và đồng thời phải đảm bảo được tính thông suốt. Hoạt động giao dịch chứng khoán thông suốt, lành mạnh và hiệu quả là điều kiện tiên quyết để TTCK tồn tại và phát triển, trở thành một kênh huy động vốn quan trọng cho nền kinh tế, tạo động lực phát triển đất nước. Để thực hiện được điều đó thì vai trò quản lý, điều tiết của Nhà nước là quyết định.
Lịch sử hình thành và phát triển của TTCK thế giới cũng đã cho thấy nhiều bài học quản lý khi nới lỏng sự can thiệp của Nhà nước tới TTCK. Từ đầu những năm 80, thế giới đã chứng kiến xu hướng gia tăng sự chuyển đổi nhanh chóng từ cơ chế kế hoạch tập trung sang cơ chế thị trường. TTCK được nhanh chóng hình thành và mang đặc tính chung ở những quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi. Nhưng cũng chính sự phát triển mạnh mẽ đã dẫn đến sự cần thiết tăng cường tính an toàn và hiệu quả của hệ thống TTCK và yêu cầu cần phải quản lý chặt chẽ các hoạt động của nó. Việc quản lý TTCK, đặc biệt là các giao dịch chứng khoán là một yêu cầu tất yếu. Chính vì vậy, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng: “Những nguyên tắc pháp lý nền tảng, các đạo luật đơn hành, các quy định, cùng với năng lực và thái độ nghiêm túc của các cơ quan chính phủ và tổ chức tự quản trong việc thực thi các quy định pháp luật sẽ tác động tới sự hình thành và phát triển thị trường”13.
Ngay từ giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi nền kinh tế tại Việt Nam, Chính phủ đã nhận thức sâu sắc vai trò của nguồn tài chính trong nước và nhu cầu phát triển một thị TTCK hoạt động hiệu quả. Ông Lê Văn Châu - vị Chủ tịch Uỷ ban chứng khoán Nhà nước đầu tiên - nhận định rằng, “việc chuẩn bị ra đời của TTCK Việt Nam là cả quá trình chuyển biến từ nhận thức đến việc hoạch định chính sách trong công cuộc cải cách kinh tế”14. Để đạt được mục tiêu hình thành và phát triển TTCK, Nhà nước đã tạo ra những tiền đề cần thiết, những bảo đảm vật chất và đảm bảo pháp lý cho TTCK được hình thành và phát triển. Chính phủ đã phải hoàn tất rất nhiều việc như tạo hàng hoá cho thị trường, hình thành khung pháp lý để thị trường hoạt động, thành lập cơ quan quản lý nhà nước, đào tạo và bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ cho đội ngũ quản lý, điều hành thị trường, NĐT… Rõ ràng, chỉ có Nhà nước với những nguồn lực tài chính dồi dào, quyền lực duy nhất cùng với hệ thống pháp luật mới có thể cho ra đời một định chế bậc cao của nền kinh tế thị trường. 
Thực tế hoạt động hơn mười năm qua của TTCK Việt Nam cho thấy, vai trò của Nhà nước trong việc điều tiết thị trường là rất quan trọng. Do đó, sự can thiệp của Nhà nước không chỉ đơn thuần xem xét dưới góc độ vai trò của Nhà nước mà đây chính là nguyên tắc đặc thù của khung pháp lý cho hoạt động TTCK nói chung và hoạt động ĐTCK nói riêng.

5. Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư
Có thể nói, TTCK tồn tại được là nhờ hoạt động đầu tư dưới hình thức mua bán chứng khoán của các tổ chức, cá nhân. Các quan hệ phát sinh trong hoạt động ĐTCK là một dạng quan hệ pháp luật đặc biệt vì được pháp luật về chứng khoán và TTCK điều chỉnh. Do vậy, NĐT tham gia quan hệ này với tư cách là chủ thể độc lập được pháp luật quy định có những quyền, lợi ích và nghĩa vụ nhất định. Các quyền và lợi ích hợp pháp của NĐT rất đa dạng tùy thuộc vào loại chứng khoán mà họ nắm giữ như quyền được sở hữu chứng khoán, quyền phát sinh từ tư cách sở hữu chứng khoán (ví dụ, nắm giữ cổ phiếu NĐT có tư cách của đồng chủ sở hữu trong CTCP, nắm giữ trái phiếu NĐT có tư cách của một chủ nợ trong mối quan hệ với tổ chức phát hành), quyền được cung cấp thông tin, quyền tham gia giao dịch chứng khoán… Bên cạnh các quyền nêu trên, NĐT còn được hưởng các lợi ích do việc nắm giữ chứng khoán mang lại như: hưởng cổ tức, lãi suất, hưởng chênh lệch giá, hưởng các dịch vụ phụ trợ trên thị trường… Như vậy, khi NĐT tham gia ĐTCK thì mục đích cơ bản nhất là được hưởng các quyền và lợi ích nêu trên. Cho nên, nếu các quyền và lợi ích hợp pháp không được pháp luật bảo vệ hoặc thiếu cơ chế để họ tự bảo vệ thì động cơ đầu tư của họ sẽ không còn. Từ đó, các NĐT sẽ mất niềm tin và sẽ chọn các kênh đầu tư khác. Điều đó cũng có nghĩa là, một TTCK chỉ có thể đứng vững khi có lòng tin nơi các NĐT và thị trường bị lệ thuộc vào lòng tin ấy. Đối với NĐT, vấn đề quyền và lợi ích hợp pháp phát sinh từ hoạt động ĐTCK là rất quan trọng. Đó chính là niềm tin và sự kỳ vọng trước khi họ đầu tư. Mặt khác, các NĐT cần có sự bảo vệ từ phía Nhà nước và pháp luật là những NĐT không chuyên nghiệp chiếm đa số trên thị trường. Chính họ là những đối tượng dễ bị tổn thương do các hành vi vi phạm của các chủ thể khác như tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết, CTCK, nhà NĐT chuyên nghiệp… do trình độ chuyên môn và sự hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Do vậy mà pháp luật điều chỉnh hoạt động ĐTCK mới có những quy định cấm một số hành vi như mua bán nội gián, lũng đoạn thị trường, công bố thông tin sai sự thật15… để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Các phân tích trên đây cho thấy, việc pháp luật ghi nhận và có các quy định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các NĐT là một trong những điều kiện tiên quyết để TTCK tồn tại và phát triển. Chỉ khi các quyền và lợi ích hợp pháp của NĐT được pháp luật bảo vệ thì TTCK mới thu hút những nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội cũng tranh thủ được các nguồn vốn đầu tư nước ngoài để phát triển đất nước.

6. Nguyên tắc đảm bảo hoạt động giao dịch chứng khoán được công khai và thông qua trung gian
Bản thân TTCK là một thị trường bậc cao và các hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán diễn ra tại đây là những giao dịch đặc thù. Tính bậc cao của TTCK, theo chúng tôi được xuất phát từ tính chất, đặc trưng của chứng khoán16 với tư cách là đối tượng giao dịch, công cụ đầu tư trên thị trường thể hiện trên các phương diện sau đây:
Một là, về mặt hình thức, chứng khoán có thể tồn tại dưới hình thức chứng chỉ vật chất, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử;
Hai là, về mặt nội dung, chứng khoán xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chúng đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành. Các quyền và lợi ích hợp pháp đó rất phong phú và đa dạng, phụ thuộc vào loại chứng khoán phát hành;
Ba là, chứng khoán có tính giá trị. Giá trị của chứng khoán có thể tồn tại dưới các hình thức như: mệnh giá17 (par value), giá trị sổ sách18 (book value) và giá trị thị trường19 (market value). Một trong những điểm cần lưu ý là giá thị trường của chứng khoán, đặc biệt là cổ phiếu rất dễ biến động và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tình hình kinh tế vĩ mô, tình hình giao dịch trên TTCK, yếu tố tâm lý và đặc biệt là các thông tin được công bố về cổ phiếu đó. Thông tin tốt sẽ làm cho giá cổ phiếu tăng, ngược lại có thể làm cho giá cổ phiếu giảm xuống.
Bốn là, chứng khoán có tính thanh khoản. Do chứng khoán là công cụ để đầu tư và không có chức năng tiêu dùng như hàng hoá thông thường nên khả năng chuyển đổi chúng thành tiền và ngược lại (tính thanh khoản) rất cao. Nhờ vậy mà hoạt động đầu tư có thể được tiến hành dễ dàng và sôi động.
Chính những đặc trưng nêu trên mà chứng khoán được xem là là một loại hàng hoá đặc biệt. Từ đó, cơ chế giao dịch chứng khoán là quan trọng trong hoạt động đầu tư chứng khoán cũng được thực hiện theo những quy trình chặt chẽ và TTCK, nơi diễn ra các hoạt động đó cũng được tổ chức, quản lý và vận hành theo những nguyên tắc riêng của nó. Đó là nguyên tắc công khai và nguyên tắc trung gian.
Nguyên tắc công khai (principle of publicity) là nguyên tắc đặt ra yêu cầu cho các tổ chức phát hành, công ty niêm yết phải thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin (CBTT) và chế độ báo cáo theo quy định. Các thông tin mà các chủ thể này có nghĩa vụ công bố trên thị trường là những thông tin có tác động đến tình hình giao dịch chứng khoán như thông tin về hoạt động sản xuất, kinh doanh, thông tin về tình hình tài chính, về các sự kiện quan trọng như trả cổ tức, họp Đại hội đồng cổ đông… Trên cơ sở các thông tin này, NĐT sẽ tiến hành phân tích, đánh giá và đưa ra quyết định mua hoặc bán một loại chứng khoán nhất định. Ngoài các chủ thể nêu trên, pháp luật một số nước, trong đó có Việt Nam còn quy định nghĩa vụ của các chủ thể khác như: QĐTCK, CTQLQ, các cổ đông lớn, cổ đông nội bộ khi tham gia giao dịch trên thị trường nhằm giúp cho các hoạt động trên TTCK được công khai và minh bạch. 
Tính chính xác trong hoạt động CBTT giúp cho các quyết định đầu tư của NĐT được chuẩn xác, dựa trên nền tảng xác thực của thông tin, qua đó sẽ tăng tính hiệu quả trong ĐTCK, hạn chế được các rủi ro. Việc CBTT kịp thời giúp cho các quyết định đầu tư được đưa ra một cách nhanh chóng nhằm hỗ trợ NĐT có được những cơ hội đầu tư kịp thời, không bỏ lỡ thời cơ. Tính dễ tiếp cận của thông tin đòi hỏi chúng phải được công bố trên các phương tiện thông tin mà công chúng đầu tư ai cũng có thể tiếp cận được, nội dung thông tin công bố phải rõ ràng, không mập mờ và đa nghĩa. Mục đích của nguyên tắc công khai thông tin là tạo ra môi trường đầu tư chứng khoán minh bạch, lành mạnh và công bằng, đồng thời cũng để bảo vệ các quyền và lợi ích của NĐT. Nguyên tắc công khai thông tin được pháp luật quy định20 và cụ thể hoá trong nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động ĐTCK21. Các hành vi đi ngược lại nguyên tắc này đều bị xem là hành vi vi phạm pháp luật.
Tiếp theo là nguyên tắc trung gian (principles of intermediate). Đây cũng là nguyên tắc đặc trưng cho TTCK. Theo nguyên tắc này, NĐT không mua bán chứng khoán trực tiếp với nhau mà phải thông qua các nhà môi giới, các CTCK trung gian nhằm mục đích tạo ra một cơ chế bảo vệ NĐT, tránh trường hợp họ có thể bị lừa đảo. Mặt khác, nguyên tắc này giúp các hoạt động mua bán chứng khoán được trôi chảy, chuyên nghiệp từ khâu bắt đầu đặt lệnh giao dịch đến khâu thanh toán và chuyển giao chứng khoán. Cũng theo nguyên tắc này, nhà môi giới (broker) có vai trò hết sức quan trọng trong giao dịch chứng khoán. Về mặt pháp lý, môi giới là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua, bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng. Ngoài ra, nhà môi giới không những chỉ đại diện cho khách hàng tìm mua, tìm bán chứng khoán mà quan trọng hơn còn nhằm kiểm tra khả năng thanh toán của các khách hàng (bên mua có đủ tiền, bên bán có đủ chứng khoán không, và các vấn đề khác). Ngoài ra, việc mua bán chứng khoán qua trung gian là các nhà môi giới, các CTCK còn có tác dụng giảm thiểu chi phí giao dịch và tìm kiếm thông tin, được hưởng dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán, tăng chất lượng và hiệu quả các dịch vụ trên thị trường nhờ cạnh tranh22…
Nguyên tắc công bằng (equitable principles) là một nguyên tắc hiện diện ở hầu hết các hệ thống pháp luật trên thế giới, pháp luật về chứng khoán và TTCK cũng không phải là một ngoại lệ. Theo nguyên tắc này, tất cả mọi chủ thể trên TTCK đều phải được đối xử một cách công bằng. Nghĩa là cơ hội kinh doanh và tiếp cận thông tin trên TTCK là như nhau đối với mọi chủ thể, các NĐT (kể cả tổ chức, cá nhân trong nước hoặc nước ngoài); quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể đều được pháp luật bảo vệ như nhau; bất kỳ chủ thể nào thực hiện hành vi vi phạm pháp luật thì đều bị xử lý một cách công minh. Nguyên tắc công bằng giúp cho TTCK hoạt động lành mạnh, công bằng và đúng pháp luật.
Chúng tôi cho rằng, trên đây là tập hợp các nguyên tắc cơ bản cần phải được sử dụng trong việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động ĐTCK. Sự vận động không ngừng và phát triển của các quan hệ phát sinh từ ĐTCK cần phải được pháp luật kịp thời ghi nhận và điều chỉnh nhằm đảm bảo đúng định hướng xây dựng và phát triển TTCK tại Việt Nam là họat động hiệu quả, thông suốt, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các NĐT, lợi ích của Nhà nước và các chủ thể khác có lien quan. Có vậy, TTCK Việt Nam mới thật sự trở thành một kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế và đóng vai trò quan trọng trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước để thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”.
(1) Chủ nghĩa Nhà nước điều tiết được đại diện bởi các nhà kinh tế khác nhau như Các Mác, Lê-nin, J.M. Kyenes…chủ trương nhà nước tham gia điều tiết nền kinh tế thông qua các công cụ kinh tế vĩ mô như kế hoạch, chính sách tài chính, chính sách tiền tệ…Lý thuyết này đã góp phần điều tiết nền kinh tế của các nước thoát khỏi nhiều cuộc khủng hoảng. Xem: Nguyễn Văn Luân, Nguyễn Văn Trình (2008), “Chủ nghĩa tự do kinh tế và khủng hoảng tài chính toàn cầu – những vấn đề đặt ra đối với nền kinh tế Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế Việt Nam”, Khoa Kinh tế, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, tr. 159-167.
(2) Lê Minh Tâm (2004), Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr. 348.
(3) Về nội dung của quyền sở hữu, xem: Lê Đình Nghị, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2009, tr. 187-194.
(4) Theo quy định hiện hành, khi một công ty cổ phần đã niêm yết trên TTCK thì chứng chỉ vật chất của cổ phiếu sẽ được hủy bỏ để chuyển sang dữ liệu điện tử và sổ cổ đông cũng sẽ chuyển sang dạng dữ liệu điện tử do Trung tâm lưu ký quản lý.
(5) Xem: Trường Đại học luật hà Nội (2008), Giáo trình Luật dân sự, tập 1, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội, tr. 210.
(6) Lê Vũ Nam, Lê Hà Diễm Châu (2008), “Phá sản công ty niêm yết và một số vấn đề phát sinh”, Chứng khoán Việt Nam, (10), tr. 6-10.
(7) Khoản 2, Điều 4, Luật Doanh nghiệp 2005.
(8) Bùi Ngọc Cường (2001), Xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế nhằm đảm bảo quyền tự do kinh doanh ở nước ta, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 16.
(9) Khoản 1 Điều 4 Luật Chứng khoán 2006.
(10) Chi tiết về nguyên tắc khớp lệnh, xem: Điều 7, Quy chế giao dịch chứng khoán tại Sở Giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh ban hành kèm theo Quyết định số 124/QD-SGDHCM của Tổng giám đốc Sở giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh ngày 09/10/2007.
(11) Lê Vũ Nam (2009), Đấu giá cổ phần qua thị trường chứng khoán, Giáo án điện tử Chương trình đào tạo cấp chứng chỉ hành nghề kinh doanh chứng khoán của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.
(12) Có nhiều trường hợp công ty ck không thu phí giao dịch, xem Chứng khoán APEC miễn phí giao dịch tại hà Nội
(13) Công ty tài chính IFC (1996), Báo cáo thị trường và quản lý thị trường
(14) Lê Văn Châu (2010): Thị trường chứng khoán Việt Nam: quá trình chuyển biến từ nhận thức tới hành động”, kỷ yếu 10 năm thị trường chứng khoán Việt Nam, UBCK Nhà nước, NXB Tài chính,Hà Nội, tr 7-18.
(15) Chi tiết xem Điều 9, Luật Chứng khoán 2006.
(16) Về những đặc trưng của chứng khoán, xem: Агарков М.М. Основы банковского права. Учение о ценных бумагах – Мосва.; Издательство Б Е К, 1994, стр. 173-188.
(17) Mệnh giá là giá trị được ghi trên bề mặt của chứng khoán lúc phát hành. Đối với cổ phiếu, mệnh giá cổ phiếu là tổng giá trị mệnh giá của cổ phần mà tờ cổ phiếu đó xác nhận. Mệnh giá một cổ phần là phần chia nhỏ bằng nhau từ vốn Điều lệ của công ty cổ phần.
(18) Giá trị số sách của chứng khoán là giá trị chứng khoán được tính toán căn cứ vào giá trị tài sản của tổ chức phát hành trong báo cáo tài chính tại thời điểm tính toán. Ví dụ, giá trị sổ sách của một cổ phiếu được tính bằng công thức sau:  Giá trị sổ sách / cổ phiếu = {Tổng tài sản của CTCP – Tài sản vô hình – Công nợ } / Số lượng cổ phiếu phát hành, xem: http://www.vietcurrency.com/discussion/archive/index.php/t-666.html .
(19) Gía trị thị trường của chứng khoán là mức giá được hình thành từ kết quả giao dịch trên thị trường và do cung cầu quyết định. Tuy nhiên, trong đầu tư chứng khoán người ta thường áp dụng một số phương pháp tính giá trị chứng khoán để làm cơ sở cho quyết định đầu tư của mình. Các phương pháp đó bao gồm: phương pháp chiết khầu dòng tiền (Phương pháp chiết khấu dòng tiền có nguyên lý cơ bản: giá trị một tài sản phải bằng với những gì nhận được từ tài sản đó trong tương lai. Có nghĩa là chúng ta phải dự đoán tài sản đó tạo ra được dòng tiền bao nhiêu trong tương lai. Vì doanh nghiệp luôn được kỳ vọng sẽ tồn tại mãi mãi, hay ít ra cũng không thể xác định thời điểm doanh nghiệp sẽ đóng cửa, nên dòng tiền này được dự tính cho đến vĩnh viễn); phương pháp so sánh (Xác định giá bằng phương pháp so sánh dễ dàng hơn chiết khấu nhiều. Nguyên tắc cơ bản là xác định một hệ số có thể phản ánh tính đắt/rẻ của cổ phiếu, sau đó dùng hệ số bình quân của ngành hoặc doanh nghiệp có nhiều điểm tương đồng để áp vào doanh nghiệp cần định giá và làm một phép tính nhân đơn giản với chỉ tiêu tương ứng để tìm ra giá cổ phiếu. Thông dụng nhất là hệ số P/E ngành x EPS (thị giá/giá trị lợi nhuận của cổ phiếu), ngoài ra còn có P/BV (giá/giá trị sổ sách cổ phần), P/S (thị giá/doanh số). Phương pháp này so sánh doanh nghiệp cần định giá với các doanh nghiệp tương tự với bình quân ngành, nên chứa đựng nhiều yếu tố tâm lý thị trường) và một số phương pháp khác. Xem tại: http://www.vse.vn/phan_tich_co_ban/661-dinh_gia_co_phieu.html.
(20) Xem Khoản 2, Điều 4, Luật Chứng khoán 2006.
(21) Ví dụ như Thông tư 09/2010/TT-BTC ngày 15/01/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán (tiếp theo gọi là Thông tư 09/2010/TT-BTC).
(22) Bùi Thị Thanh Hương (2009), Giáo trình Môi giới và Tư vấn đầu tư chứng khoán, Trung tâm Nghiên cứu Khoa học và Đào tạo chứng khoán, NXB Thống kê, Hà Nội, tr. 30-34.
     
Nguồn: Tạp chí nghiên cứu lập pháp

Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2012

Quỹ đầu tư nghĩ gì về VN30?

Ngày 6.2 là ngày đầu tiên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HoSE) đưa vào áp dụng chỉ số VN30. Ưu điểm đầu tiên của chỉ số này là giúp nhà đầu tư đánh giá diễn biến thị trường sát thực tế hơn. VN30 cũng được kỳ vọng là góp phần mang nhà đầu tư trở lại thị trường chứng khoán. Thế nhưng, một số quỹ đầu tư, thành phần quan trọng của thị trường chứng khoán, lại nhìn nhận chỉ số VN30 chưa hẳn là sự tham chiếu cần thiết.
Ông Andy Hồ, Giám đốc Điều hành Quỹ Đầu tư VinaCapital, quản lý 1,7 tỉ USD giá trị tài sản với danh mục đầu tư khá da dạng, cho biết: “Chúng tôi không lấy sự thay đổi của chỉ số VN30 để so với kết quả đầu tư. Chỉ số này chưa thật sự cần thiết đối với chúng tôi”.
Với các khoản đầu tư cổ phiếu niêm yết, theo ông, Quỹ có các tiêu chí đánh giá riêng như ngành nghề, tốc độ tăng trưởng, khả năng lãnh đạo… Chỉ số VN30 cũng như VN-Index chỉ được Quỹ xem như một yếu tố để tham khảo. Hiện nay, tổng giá trị đầu tư vào cổ phiếu niêm yết của Quỹ ước tính khoảng 250-300 triệu USD. Trong đó, chiếm tỉ trọng lớn nhất là cổ phiếu VNM của Công ty Sữa Việt Nam. Ngoài ra, còn có cổ phiếu DPM (Công ty Đạm Phú Mỹ), KDC (Công ty Kinh Đô), BCI (Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Bình Chánh)…
Ông Louis Nguyễn, Giám đốc Điều hành Quỹ SAM, cũng không mấy mặn mà với chỉ số mới này. Bởi lẽ, đặc trưng của SAM là đầu tư vào các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong khi đó, chỉ số VN30 bao gồm những mã có giá trị vốn hóa lớn nhất thị trường. Những mã này hầu như đã hết room cho nhà đầu tư nước ngoài.
Trong hoạt động đầu tư, SAM cũng quan sát VN-Index nhưng Quỹ có chỉ số riêng là SAM90. Chỉ số này được tính dựa trên 90 cổ phiếu của doanh nghiệp nhỏ và vừa do SAM chọn ra và không được công bố. Ông Louis Nguyễn cho biết SAM90 giúp Quỹ theo dõi các khoản đầu tư hiệu quả hơn.
Còn ông Dominic Scriven, Giám đốc Quỹ Dragon Capital thì đồng tình với việc đa dạng các chỉ số đo lường thị trường của HoSE. Yếu tố thanh khoản (lượng cổ phiếu giao dịch mỗi ngày) và free-float (lượng cổ phiếu được tự do chuyển nhượng) cao khi lựa chọn cổ phiếu VN30 được ông đánh giá là tạo sự khác biệt và làm nên giá trị của chỉ số mới này.
Trong năm qua, đã nhiều lần nhà đầu tư than phiền rằng VN-Index không còn phản ánh đúng diễn biến thị trường. Các tổ chức đầu tư cũng lần lượt đưa ra những bộ chỉ số cho riêng mình. Nguyên nhân là vài mã cổ phiếu thuộc nhóm có vốn hóa lớn nhất thị trường chiếm tỉ trọng lớn trong cách tính, trong khi chúng không đại diện cho cả thị trường. Tính chỉ số theo giá trị vốn hóa cũng là nhược điểm của VN-Index. Theo ông Trịnh Hoài Giang, thành viên Hội đồng Chỉ số VN30, VN30 sẽ khắc phục các nhược điểm trên. Đặc biệt, đường đi của chỉ số sẽ ổn định chứ không “giật cục” như VN-Index.
Cách tính chỉ số VN30 vẫn là dựa trên quy mô vốn hóa. Tuy nhiên, khác với VN-Index, yếu tố quy mô lần này lại mang ý nghĩa khác hẳn. VN30 có 30 cổ phiếu chiếm gần 80% giá trị vốn hóa thị trường. Vì thế, nó đại diện cho gần 80% những người đang nắm giữ cổ phiếu.
Hiện nay, hầu như mỗi tổ chức đầu tư đều có bộ chỉ số riêng, nhưng nếu làm tốt vai trò của mình (tức thể hiện đúng diễn biến thị trường) thì VN30 vẫn có giá trị. Thị trường chứng khoán Mỹ cũng có nhiều chỉ số như Nasdaq (nhóm cổ phiếu công nghệ trên thị trường OTC), Dow Jones (nhóm 30 công ty đại chúng lớn nhất ở Mỹ) hay S&P500 (nhóm cổ phiếu của 500 công ty có mức vốn hóa thị trường lớn nhất của Mỹ)... Và mỗi chỉ số là một kênh tham chiếu hiệu quả.
Sự ra đời của VN30 được kỳ vọng sẽ là tiền đề cho hoạt động đầu tư chỉ số và phong trào đầu tư vào những cổ phiếu trong VN30. Tuy nhiên, ông Giang cho rằng ít nhất 2 năm nữa, hoạt động đầu tư theo chỉ số mới có thể hiện diện trên thị trường. Ngoài ra, đầu tư cổ phiếu theo VN30 cũng khá may rủi vì 30 cổ phiếu được chọn chưa hẳn đã kinh doanh hiệu quả.

Nguồn: Nhịp cầu đầu tư

Thứ Tư, 18 tháng 1, 2012

Thị trường chứng khoán để làm gì?

Thị trường chứng khoán hầu như không còn thực hiện được chức năng kênh huy động vốn khi cả người bán lẫn người mua đều dè chừng.
Ngày 16.12.2011, chị Thu nhận được tin nhắn SMS qua điện thoại di động từ phía tổng đài tự động của Công ty Chứng khoán Hòa Bình. Nội dung của tin nhắn là chị sẽ được mua thêm 1.200 cổ phiếu PVX của Tổng Công ty Cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam với giá 10.000 đồng/cổ phiếu và hạn cuối cùng là ngày 13.1.2012. Những lần trước, khi nhận được thông tin như vậy, chị đã không ngần ngại nộp tiền để mua thêm cổ phiếu. Thế nhưng, lần này, chị rất đắn đo liệu có nên bỏ ra 10.000 đồng để đổi lấy 1 cổ phiếu đang được giao dịch chỉ với 7.500 đồng (giá tham chiếu ngày 16.12.2011) và phải chờ 3-4 tháng sau cổ phiếu mới được niêm yết bổ sung và có thể giao dịch.
Sau khi cân nhắc, chị Thu không mua số cổ phiếu ưu đãi. Và chị đã quyết định đúng vì chỉ vài tuần sau đó, chị có thể đặt lệnh mua cổ phiếu PVX với giá chỉ 6.400 đồng/cổ phiếu (giá tham chiếu ngày 10.1.2012). Chị Thu chỉ là nhà đầu tư cá nhân, nên việc chị từ chối quyền mua cổ phiếu ưu đãi cũng không ảnh hưởng lớn đến đợt phát hành tăng vốn của Tổng Công ty Cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam. Bởi lẽ, đích nhắm của Công ty là các nhà đầu tư tổ chức, bạn hàng, đối tác. Nhưng ngay cả những nhóm này giờ cũng không dễ bị thuyết phục.
Trước đó, không ít cổ đông đã bức xúc với trường hợp cố tăng vốn của Tổng Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam - Vinaconex (VCG). Ngày 22.11.2011 là ngày giao dịch không hưởng quyền để cổ đông mua cổ phiếu với giá ưu đãi 10.000 đồng/cổ phiếu. Giá ưu đãi này bằng thị giá của phiên giao dịch trước ngày chốt quyền. Như vậy, trên thực tế, cổ đông không được ưu đãi gì nếu không muốn nói là bị ngược đãi, bởi đồng vốn đã bị neo lại trong phần phát hành thêm cho đến khi Công ty niêm yết cổ phiếu bổ sung.
Thị trường chứng khoán èo uột đã đẩy nhiều cổ phiếu rớt xuống dưới mệnh giá. Và đây là bước cản lớn nhất cho kế hoạch tăng vốn của các doanh nghiệp. Trong năm 2011, nhiều doanh nghiệp phát hành thêm cổ phiếu có tỉ lệ chào bán không thành công khá cao. Thậm chí có những đợt chào bán không huy động được vốn. Theo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, năm 2011, tỉ lệ chào bán thành công chỉ đạt 28,12% trên tổng giá trị đăng ký chào bán, trong khi năm 2009, tỉ lệ này là 63% và năm 2010 là 33,35%.
Nguyên nhân phát hành không thành công cũng không có gì mới. Đó là tình hình thị trường không thuận lợi, giá phát hành cổ phiếu vào lúc chốt danh sách cổ đông cao hơn giá thị trường, khối lượng chào bán quá lớn so với khối lượng chứng khoán lưu hành (điều này có thể gây pha loãng giá cổ phiếu), nhà đầu tư không mặn mà với việc mua cổ phiếu phát hành thêm... Tuy nhiên, nguyên nhân chính vẫn là việc sử dụng vốn sau khi phát hành của các doanh nghiệp không hiệu quả.
Trên thực tế, sau khi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước tổ chức kiểm tra tình hình sử dụng vốn của các doanh nghiệp niêm yết, đã phát hiện những sai phạm như tiến độ sử dụng vốn không đúng như khi công bố với cổ đông, sử dụng vốn không đúng với mục đích ban đầu... Những điều này khiến cho nhà đầu tư thêm chán nản.
Mặt khác, một số doanh nghiệp xây dựng phương án chào bán không dựa trên lợi ích của cổ đông khi chào bán với giá ưu đãi (thường là bằng mệnh giá) cho cán bộ công nhân viên và đối tác chiến lược, từ đó làm pha loãng giá cổ phiếu và làm giảm thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) trong tương lai. Vì lý do kỹ thuật, khi chào bán cho cán bộ công nhân viên và đối tác chiến lược, giá cổ phiếu trên sàn lại không được điều chỉnh giá tham chiếu. Do vậy, các cổ đông trong ngắn hạn không thấy bị ảnh hưởng bởi việc phát hành này. Nhưng về lâu dài, khi số cổ phiếu phát hành cho cán bộ công nhân viên và đối tác chiến lược được đưa vào giao dịch thì sẽ tạo áp lực giảm giá cổ phiếu, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của cổ đông.
Trong năm 2011, nhiều doanh nghiệp đã hoãn các đợt phát hành chờ cho thị trường ấm lên như Công ty Cổ phần Việt An (AVF) hủy bỏ kế hoạch tăng vốn thêm 7,5 triệu cổ phiếu; Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Tiền Giang (THG) hủy bỏ phát hành thêm 12 triệu cổ phiếu… Có lẽ các doanh nghiệp cũng thấm thía bài học của Công ty Cổ phần Tổng Công ty Xây lắp Dầu khí Nghệ An (PVA) khi ế gần 92,42% lượng cổ phiếu phát hành cho cổ đông hiện hữu và cán bộ công nhân viên (cuối tháng 11.2011). Sự trả giá cho đợt tăng vốn không thành công của PVA là giá cổ phiếu đã rớt xuống còn 4.900 đồng/cổ phiếu (12.1.2012), giảm 44% so với cuối tháng 11.2011.
Với những gì đang diễn ra, thị trường chứng khoán hầu như không còn thực hiện được chức năng là kênh huy động vốn nữa.

Nguồn: Nhịp cầu đầu tư

Thứ Hai, 2 tháng 1, 2012

Làn sóng mất thanh khoản đang lan rộng

Đầu tháng 9.2011, một số nhà đầu tư tìm cách chạy khỏi Công ty Chứng khoán SME (SME) vì cho rằng đơn vị này không thể đáp ứng các giao dịch rút, chuyển tiền của họ. Sau đó, SME bị Trung tâm Lưu ký Chứng khoán (VSD) đình chỉ hoạt động lưu ký 1 tháng (3.11-3.12.2011).
Mới đây, ngày 22.11, Công ty Chứng khoán Tràng An (TAS) cũng bị VSD cảnh cáo vì mất khả năng thanh toán cho các giao dịch chứng khoán. TAS không còn khả năng thanh toán trong các giao dịch mua bán với nhà đầu tư, đồng thời nợ Quỹ Hỗ trợ Thanh toán của VSD hơn 7 tỉ đồng. Theo nguyên tắc, sau khi cân bằng lượng tiền nhà đầu tư mua và bán, nếu thiếu thì công ty chứng khoán phải xuất tiền để bù vào cho VSD. Trong trường hợp này, TAS bắt buộc phải bù thêm tiền cho VSD. Tuy nhiên, TAS tạm thời phải nhờ đến Quỹ Hỗ trợ Thanh toán của VSD để không phải hủy các giao dịch của nhà đầu tư như trường hợp của SME. Khác với SME, Tổng Giám đốc TAS là ông Lê Hồ Khôi đã thừa nhận rằng, Công ty mất khả năng thanh toán vì không quản lý chặt khâu chuyển tiền của nhà đầu tư.
Nguyên nhân mất thanh khoản
Có nhiều lý do để một công ty chứng khoán rơi vào trường hợp mất thanh khoản. Với trường hợp của TAS, nhà đầu tư sẽ thấy có thể vì 2 lý do. Thứ nhất, khách hàng quan trọng (dân trong nghề hay gọi là khách VIP) trước nay vốn được ưu ái mua trước chuyển tiền sau. Tuy nhiên, khi thị trường giảm mạnh, nhà đầu tư VIP không có tiền nộp nên bỏ của chạy lấy người. Nhiều giao dịch VIP như thế khiến công ty không kịp bù tiền dẫn đến mất thanh khoản. Thứ hai, công ty chứng khoán thực hiện cho vay ký quỹ (margin) với tỉ lệ nhất định. Nhà đầu tư thấy giá cổ phiếu thấp và tiến hành bắt đáy. Sau đó giá cổ phiếu lại tiếp tục giảm buộc nhà đầu tư phải nộp thêm tiền vào tài khoản. Nếu nhà đầu tư không còn tiền hoặc không muốn nộp thì công ty chứng khoán sẽ ôm trái đắng. Dù có bán ra cổ phiếu để thu tiền về cũng không đủ vốn vì giá cổ phiếu xuống thấp, chưa kể không thu được cả phần lãi vay của nhà đầu tư cho khoản vay ký quỹ này. Những giao dịch kiểu này khiến họ dần hao hụt tiền mặt, nhất là với những công ty chứng khoán có nguồn vốn hạn hẹp.
Một lý do nữa là do thiếu vốn, không ít công ty chứng khoán phải xoay xở bằng nhiều cách để đáp ứng tiền mặt cho nhà đầu tư mua cổ phiếu. Chẳng hạn, khi thực hiện các hợp đồng margin, họ phải kết hợp với ngân hàng để bù vào phần vốn cho nhà đầu tư vay ký quỹ với tính toán rằng, lãi suất cho nhà đầu tư vay cao hơn lãi suất ngân hàng. Tuy nhiên, lúc nhà đầu tư bỏ chạy thì chính công ty chứng khoán phải trả lãi cho ngân hàng. Theo phần thuyết minh báo cáo tài chính của SME, các khoản phải trả đã tăng gấp đôi sau 6 tháng (tính đến 30.6.2011), lên hơn 600 tỉ đồng, trong đó phần nhiều là nợ ngân hàng.
Bên cạnh đó, một số công ty chứng khoán đã dùng những tài khoản ít giao dịch để bù đắp cho các giao dịch hiện thời. Đến khi những tài khoản này giao dịch trở lại hoặc muốn rút tiền, công ty lâm vào cảnh mất khả năng thanh toán. “Rõ ràng, vấn đề quản lý tách bạch tài khoản của nhà đầu tư và công ty chứng khoán chưa được quản lý tốt, xa hơn nữa là vấn đề quản trị rủi ro chưa được quan tâm đúng mức”, chuyên gia tài chính Phạm Thứ Triệu cho biết.
Đối với các tổ chức tài chính, lĩnh vực kinh doanh luôn được đẩy mạnh tối đa khi thị trường đang tốt. Thế nhưng khi thị trường xấu và kéo dài như thời gian qua, các khoản nợ quá hạn khó có khả năng thu hồi lại trở thành rủi ro lớn cho chính họ. Theo ông Phan Dũng Khánh, Trưởng Phòng Phân tích và Tư vấn Đầu tư Công ty Chứng khoán Kim Eng Việt Nam, ngay cả những công ty chứng khoán lớn cũng đang gặp khó khăn với các khoản tiền lớn cho khách hàng của mình vay.
Bởi vậy, hệ lụy của việc này thể hiện trước tiên ở các khoản phải thu trong báo cáo tài chính, mặc dù có thể được đưa vào nhiều mục khác nhau để giấu đi. Chẳng hạn, tính đến cuối quý III/2011, trong 338 tỉ đồng khoản phải thu ngắn hạn của Công ty Chứng khoán Sacombank (SBS) có tới 283 tỉ đồng là các khoản phải thu khác. Con số này ở Công ty Chứng khoán Sài Gòn (SSI) là 325 tỉ đồng (trong tổng số 443 tỉ đồng), ở Công ty Chứng khoán Kim Long (KLS) là 364 tỉ đồng (trong tổng số 377 tỉ đồng).
Ai tiếp bước SME và TAS?
Theo ông Triệu, từ giờ đến cuối năm sẽ có không ít công ty chứng khoán có vốn thấp như SME hay TAS lâm vào cảnh khó khăn, đầu tiên là mất khả năng thanh toán. “Việc mất khả năng thanh toán trở thành làn sóng đang lan rộng là điều có thể dự báo được, khi họ liên tiếp lỗ và vốn chủ sở hữu cũng không còn nhiều”, ông nói. Theo ông, các công ty chứng khoán có vốn lớn tạm thời có thể cầm cự được.
Ông Triệu cũng dự báo, trong tổng số các công ty chứng khoán hiện nay, đến năm 2012 sẽ chỉ còn khoảng 1/3 tồn tại, khi mà các quy định quản lý công ty chứng khoán ngày càng chặt chẽ. Các công ty sẽ phải tính đến chuyện sáp nhập hoặc giải thể. Tuy nhiên, khả năng sáp nhập hoặc mua lại là rất khó. Bởi hiện nay, công ty chứng khoán nhỏ tồn tại nhiều vấn đề như cho vay margin quá tay, tự doanh lỗ nặng mà phần nhiều là những cổ phiếu OTC (cổ phiếu trên thị trường phi tập trung) và tài chính không minh bạch. Bên cạnh đó, tài sản cố định của công ty chứng khoán chẳng đáng là bao (ngay cả tài sản cố định của công ty chứng khoán lớn như SSI cũng chưa tới 170 tỉ đồng). Với tài sản không đáng kể và không có tiềm năng rõ nét thì tìm được người mua là khá khó khăn.
Nếu công ty chứng khoán chịu quan tâm phát triển mảng quản trị rủi ro cho chính đơn vị mình sớm hơn, thì khi thị trường khó khăn kéo dài cũng không đến nỗi khiến nhiều công ty phải điêu đứng như hôm nay.

Nguồn: Nhịp cầu đầu tư

Thứ Sáu, 11 tháng 11, 2011

Cuối năm, sếp chứng khoán vẫn ra đi hàng loạt

Chưa đầy hai tháng, lãnh đạo cấp cao gần 20 công ty chứng khoán lần lượt rời khỏi chiếc "ghế nóng", có nơi đổi hẳn chủ tịch do sự khắc nghiệt của thị trường vượt xa mọi dự đoán trước đó.

Phó tổng giám đốc, giám đốc chi nhánh là 2 vị trí biến động nhiều nhất. Thông tin trên website 2 Sở giao dịch chứng khoán, đầu tháng 10 tới nay, 8 phó tổng giám đốc ra đi, 6 công ty đổi người đứng đầu chi nhánh các thành phố lớn. Thành viên hội đồng quản trị, tổng giám đốc, thậm chí cả chủ tịch cũng bị đổi để thích ứng với tình hình kinh doanh mới.

Làn sóng thay sếp chứng khoán không phải mới đây, thậm chí có tháng ghi nhận gần 20 công ty bãi miễn, bổ nhiệm, đổi nhân sự cấp cao. Tuy nhiên, gần cuối năm - thời điểm cần ổn định các vị trí chủ chốt để tăng tốc hoàn thành các chỉ tiêu đề ra như đã hứa với cổ đông, nhiều công ty không ngần ngại đổi "tướng".
Có công ty trong vòng 6 tháng qua xáo trộn cả 4 vị trí: Giám đốc chi nhánh, phó tổng, tổng giám đốc, thành viên hội đồng quản trị. Có vị trí được bổ nhiệm ngay nhân sự mới, song có "ghế" đến nay vẫn còn trống và giao cho người khác kiêm nhiệm.
Doanh số môi giới giảm, nhiều công ty chứng khoán gặp khó. Ảnh: B.H.
Lãnh đạo một công ty chứng khoán tại TP HCM cho biết, hầu hết các vị này nộp đơn từ chức, chứ không phải do công ty tạo áp lực hay chịu sức ép phải đạt doanh số này, kết quả nọ. Thu nhập sa sút, khó kiếm khách hàng, cơ hội trong nghề ít đi nên nhiều người đã rời "cuộc chơi". Điều này không chỉ ở các vị trí cấp cao, mà cả các bộ phận khác như môi giới, tư vấn, phân tích cũng bỏ việc hàng loạt.
Mới được bổ nhiệm vào vị trí Tổng giám đốc Công ty chứng khoán Quốc tế, ông Tạ Quốc Dũng cho biết, áp lực với CEO hiện không phải là doanh thu như những năm trước mà là tái cấu trúc, vạch ra hướng đi phù hợp nhất để doanh nghiệp vẫn còn sống sót sau khi cơn bão khủng hoảng kết thúc.
"Việc cắt giảm chi phí, tinh gọn bộ máy nhân sự thực hiện triệt để hơn trong thời gian qua, nhằm giảm xuống mức thấp nhất chi phí phát sinh hàng tháng. Song, việc tuyển thêm và thậm chí tăng lương ở những vị trí chủ chốt vẫn được chú trọng", ông Dũng cho biết.
Đảm nhiệm vị trí phó tổng giám đốc 2 năm liền, một lãnh đạo công ty chứng khoán sống ở quận 7, TP HCM mới đây quyết định từ chức tại nơi anh gắn bó gần 5 năm. Tuy phụ trách mảng phân tích, tư vấn, không bị áp lực doanh số nhưng bộ phận của anh vẫn ít nhiều bị ảnh hưởng. Nguồn thu ít ỏi không trang trải nổi chi phí nên ngân sách phân bổ cho từng bộ phận giảm sút. Khối lượng công việc trong ngày giảm đáng kể và sự suy thoái của thị trường không biết bao giờ kết thúc, là lý do anh chuyển hẳn sang ngành nghề khác.
Một lãnh đạo công ty chứng khoán tại TP HCM chia sẻ thêm, hiện tại, việc hoàn thành chỉ tiêu lợi nhuận năm nay là chắc chắn không thể. "Bản thân tôi cũng chịu áp lực lớn, nhất là lời hứa với cổ đông hồi đầu năm. Tuy nhiên, tình hình hiện tại để mức lỗ không quá sâu đã là may mắn và nếu năm nay hòa vốn là một thành công lớn với công ty chứng khoán, chứ không dám mong có lời. Bởi thị trường xấu hơn cả dự đoán đưa ra từ đầu năm", ông nói.
Vị này cho biết, kịch bản xấu nhất đưa ra là giao dịch một phiên tầm 1.100 tỷ đồng. Tuy nhiên, diễn biến thị trường mấy tháng nay còn tệ hơn cả ước đoán ban đầu, cho nên hầu hết các công ty gần như cầm chắc lỗ. Trong bối cảnh đó, nhân sự lĩnh vực chứng khoán biến động là điều không có gì lạ. Theo ông, các công ty sẽ còn khó khăn hơn hiện tại, nếu thị trường kéo dài trạng thái giao dịch ảm đạm. Khi đó, kinh doanh thua lỗ, thậm chí lạm vào vốn chủ sở hữu là điều không thể tránh.
Ông Đinh Thế Hiển, chuyên gia đầu tư tài chính chia sẻ, việc xốc lại bộ máy nhân sự, nhất là các vị trí cấp cao ở nhiều công ty chứng khoán thời gian qua không chỉ đơn thuần do hoạt động kinh doanh kém lạc quan. Bởi kinh doanh năm nay sụt giảm là điều khó tránh, nhưng không cần phải đổi cả CEO. Thực chất những vị này hiểu hơn ai hết tình hình công ty, nắm rõ đường đi nước bước và có thể đưa giải pháp căn cơ nhất.
"Đằng sau việc cơ cấu này có thể là một cuộc chuyển giao quyền lực, sự đổi chủ đang ngấm ngầm diễn ra", ông đoán.
(Theo Vnexpress)