Thứ Sáu, 28 tháng 12, 2012

Bàn về nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự


Tóm tắt. Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003 hiện hành, tác giả đã bàn về nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự, phân tích nội dung, những vướng mắc để từ đó đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 liên quan đến nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự.
Trong số những nguyên tắc cơ bản qui định tại Chương II Bộ luật tố tụng hình sự 2003 (BLTTHS) có nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong cùng vụ án hình sự làm định hướng cho cho toàn bộ quá trình giải quyết vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT). Khi áp dụng nguyên tăc này, nhiều vấn đề bất cập nảy sinh ảnh hưởng tới tính khách quan, công bằng không chỉ đối với những nội dung của trách nhiệm dân sự mà cả việc xác định trách nhiệm hình sự (TNHS) của những người tham gia tố tụng. Vì vậy, đòi hỏi phải làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn cũng như việc đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật liên quan đến nguyên tắc và đó là nội dung của bài viết này.
1. Hành vi phạm tội xảy ra không chỉ xâm hại đến những quan hệ do pháp luật hình sự bảo vệ mà còn gây thiệt hại cho các quan hệ dân sự nên có hai loại trách nhiệm được đặt ra khi giải quyết vụ án hình sự, đó là: TNHS và trách nhiệm dân sự. Vấn đề dân sự có được giải quyết cùng với vụ án hình sự hay không trong luật mỗi nước lại qui định lại khác nhau tùy vào đặc điểm kinh tế, xã hội và pháp luật quốc gia đó. Có thể khái quát ở ba cách thức sau:
a) Tách vấn đề dân sự để giải quyết trong vụ án dân sự và do đó trong Luật tố tụng hình sự không quy định trình tự, thủ tục giải quyết vấn đề dân sự. Những nước theo hệ thống pháp luật Common Law mà đại diện điển hình là Vương quốc Anh tiêu biểu cho cách thức giải quyết này. Pháp luật những nước này có sự tách biệtrạch ròi giữa trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự trên cơ sở quan niệm một hành vi trái pháp luật, gây thiệt hại có thể dẫn đến hai tố quyền là tố quyền hình sự và tố quyền dân sự nên cần phải được giải quyết bằng hai vụ án với hai trình tự, thủ tục khác biệt nhau. Tố quyền hình sự sẽ chỉ giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự còn hành vi gây thiệt hại ngoài hợp đồng được giải quyết trong vụ án dân sự. Chính vì vậy, trong Luật tố tụng hình sự của các nước theo hệ thống pháp luật Common Law không có điều luật nào quy định về việc giải quyết vấn đề dân sự. Luật điều tra và tố tụng hình sự của Vương quốc Anh được Nữ hoàng thông qua, với sự tư vấn và đồng thuận của các Nghị sĩ thuộc cả Thượng viện và Hạ viện ngày 4 tháng 7 năm 1996 với kết cấu khá đồ sộ gồm 7 phần chính và phần phụ lục. Điều đáng nói là ở cả 7 phần và 5 phụ lục đều không có phần nào quy định về việc giải quyết các vấn đề liên quan đến trách nhiệm dân sự do hành vi phạm tội gây ra, cũng không có quy định nào nói về nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án như trong pháp luật của Việt Nam và các nước theo hệ thống pháp luật Civil Law.
b) Vấn đề dân sự được giải quyết đồng thời với trách nhiệm hình sự trong cùng vụ án hình sự nhưng không được coi là một nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự. Pháp luật của các nước theo hệ thống Civil Law mà đại diện điển hình là Cộng hoà Pháp thừa nhận và giải quyết vấn đề dân sự phát sinh do hành vi phạm tội gây ra trong cùng vụ án hoặc có thể tách vấn đề dân sự để giải quyết riêng trong vụ án dân sự. Tuy có qui định như vậy nhưng việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự không trở thành một nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự. Tại Thiên mở đầu “Quyền công tố và quyền kiện về dân sự” với những quy định chung, BLTTHS Pháp đã khẳng định việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự và được quy định cụ thể tại nhiều điều luật trong bộ luật này. Theo đó, khi xét xử hình sự trên cơ sở quyết định khởi tố của Viện Công tố, Tòa hình sự vẫn có thể quyết định những biện pháp thẩm cứu chỉ liên quan đến lợi ích dân sự nhưng phải áp dụng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại Điều 3 Luật tố tụng Hình sự của nước Cộng hoà Pháp quy định: “Có thể thực hiện đồng thời quyền khởi kiện về dân sự và quyền công tố trước cùng một Tòa án. Có thể kiện về dân sự đối với tất cả các thiệt hại vật chất, thể xác cũng như tinh thần do hành vi bị truy tố gây ra”. Điều luật này đã xác định người bị hại hay nguyên đơn dân sự có quyền kiện về dân sự đối với các thiệt hại về vật chất cũng như tinh thần do hành vi phạm tội gây ra trước Tòa hình sự, do đó có thể hiểu việc kiện dân sự có thể được giải quyết cùng với việc xét xử về hình sự. Tại Điều 4 Bộ luật này quy định: “Cũng có thể thực hiện quyền khởi kiện về dân sự mà không cần khởi tố hình sự. Tuy nhiên, phần dân sự của vụ án sẽ chưa được xét xử chừng nào phần hình sự của vụ án chưa được xét xử xong, nếu đã khởi tố hình sự”. Điều này có nghĩa là có thể tách phần dân sự trong vụ án hình sự ra để giải quyết riêng bằng một vụ án dân sự. Tuy nhiên, nếu vụ án hình sự đã được khởi tố thì phải đợi Toà án xét xử xong phần hình sự thì mới được xét xử phần dân sự. Nếu phần dân sự trong vụ án hình sự đã được khởi kiện trước Toà Dân sự có thẩm quyền thì không được kiện trước Toà hình sự, trừ trường hợp Viện Công tố đã khởi tố hình sự trước khi Toà án dân sự ra bản án xét xử về nội dung. Quyết định về phần dân sự trong vụ án hình sự sẽ được thực hiện sau khi ra quyết định về phần hình sự và việc xem xét, quyết định về phần dân sự sẽ tuân theo một thủ tục khác, đơn giản hơn. Điều 371 quy định: “Sau khi đã ra quyết định về hình sự, Toà đại hình, không có đoàn bồi thẩm tham dự, xem xét các yêu cầu bồi thường thiệt hại của nguyên đơn dân sự đối với bị cáo hoặc đối với nguyên đơn dân sự. Tòa ra quyết định sau khi nghe các bên đương sự và Viện Công tố phát biểu ý kiến. Tòa có thể uỷ thác một thành viên của Tòa nghe các bên đương sự trình bày, tìm hiểu tài liệu và trình bày báo cáo trước Tòa, tại đây các bên đương sự và Viện Công tố vẫn có thể phát biểu ý kiến”. Những người bị kết án về cùng một trọng tội có nghĩa vụ liên đới trong việc bồi hoàn và bồi thường thiệt hại. Ngoài ra, Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm liên đới cùng với đồng phạm và tòng phạm trong việc nộp tiền phạt. Đối với các vụ án được xét xử tại Tòa tiểu hình thì người bị thiệt hại có quyền xin đứng nguyên đơn dân sự trước và tại phiên toà. Tuy nhiên, việc xin đứng nguyên đơn phải được thực hiện trước khi Viện Công tố trình bày các yêu cầu về nội dung hoặc nếu Tòa án đã ra quyết định hoãn tuyên hình phạt thì phải được thực hiện trước khi Viện Công tố trình bày các yêu cầu về hình phạt. Như vậy, có thể hiểu BLTTHS Pháp đã quy định về vấn đề trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự thông qua việc quy định về các chủ thể tham gia tố tụng là nguyên đơn dân sự và bị cáo, người phải chịu trách nhiệm dân sự.
Vấn đề dân sự phát sinh do việc thực hiện hành vi phạm tội được giải quyết theo cách thức này còn được qui định trong Luật tố tụng hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 1997, Luật tố tụng hình sự Cộng hòa Liên bang Đức, Luật tố tụng hình Liên bang Nga 2001.
c) Vấn đề dân sự được giải quyết đồng thời với trách nhiệm hình sự trong cùng vụ án hình sự và được qui định là một nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự. Cách thức này không những qui định việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự mà còn coi đó là một nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự. BLTTHS Việt Nam 2003 tiêu biểu cho cách thức này. Theo đó, khi giải quyết vụ án hình sự mà tội phạm xâm hại đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản… của cá nhân, tổ chức thì ngoài việc điều tra, truy tố, xét xử về hình sự, áp dụng hình phạt đối với người phạm tội, các CQTHTT còn phải giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần cho cá nhân, tổ chức bị thiệt hại theo qui định của pháp luật. Luật tố tụng hình sự Việt Nam từ năm 1945 đã quy định vấn đề dân sự phát sinh do việc thực hiện tội phạm được giải quyết đồng thời với TNHS trong cùng vụ án hình sự, nhưng chỉ đến BLTTHS 2003 mới được coi là một nguyên tắc cơ bản. Việc quy định giải quyết vấn đề dân sự phát sinh do việc thực hiện tội phạm trong cùng vụ án hình sự là một nguyên tắc cơ bản không những có ý nghĩa quan trọng đảm bảo tính khách quan, nhanh chóng, kịp thời trong việc giải quyết vụ án, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng mà còn có ý nghĩa tích cực trong đấu tranh phòng và chống tội phạm.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, một mặt người phạm tội phải chịu TNHS, mặt khác họ còn phải chịu trách nhiệm dân sự với tính chất là một chế tài được áp dụng đối với người gây thiệt hại. Do đó, khi áp dụng trách nhiệm dân sự đối với người phạm tội không chỉ làm tăng khả năng trừng trị mà còn có ý nghĩa giáo dục đối với bản thân họ và có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung. Hơn nữa, quan hệ dân sự trong vụ án hình sự không đơn thuần chỉ là một quan hệ dân sự thông thường mà việc thực hiện trách nhiệm dân sự của bị can, bị cáo còn nhằm thực hiện trách nhiệm hình sự của họ. Chẳng hạn, trường hợp người phạm tội bị buộc trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại do họ gây ra là để thực hiện một biện pháp tư pháp được quy định tại Điều 42 BLHS 1999, tức là để thực hiện một yêu cầu của trách nhiệm hình sự. Ngoài ra, việc giải quyết vấn đề dân sự có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đồng thời còn có giá trị như là chứng cứ để chứng minh về tội phạm, là cơ sở để áp dụng trách nhiệm hình sự đối với bị can, bị cáo.
Quy định giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự có ý nghĩa đối với việc bảo đảm tôn trọng các quyền cơ bản của công dân. Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật thì công dân được Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm. Mọi hành vi gây thiệt hại đến tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức và xâm hại tới tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, của cá nhân đều phải bồi thường và xử lý theo pháp luật.
Quy định giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự còn có ý nghĩa đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được chính xác, nhanh gọn, đỡ tốn kém về thời gian, công sức, bảo vệ quyền lợi cho người bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi liên quan khi bị tội phạm xâm hại. Nhiều chứng cứ trong vụ án hình sự có thể làm cơ sở cho việc giải quyết vấn đề dân sự. Ngoài ra, những đặc điểm đặc trưng của tố tụng hình sự về các nguyên tắc, thủ tục, thời hạn, trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng so với những đặc điểm của tố tụng dân sự cũng góp phần tăng tính khả thi trong việc thực hiện các quyết định về dân sự trong vụ án hình sự.
2. Chương II BLTTHS 2003 qui định những nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự, trong đó có nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự (Điều 28 BLTTHS) [1]. Nguyên tắc cơ bản này có những đặc điểm sau:
a) Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự nên nó chứa đựng những nội dung thể hiện phương châm, định hướng của Đảng và Nhà nước ta là giải quyết vấn đề dân sự cùng với TNHS trong vụ án hình sự, không tách riêng vấn đề dân sự để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự như pháp luật của một số nước [2]. Mặt khác, do đây là một nguyên tắc cơ cơ bản của Luật tố tụng hình sự nên định hướng này chi phối toàn bộ quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đối với các vụ án có vấn đề dân sự nảy sinh do việc thực hiện tội phạm. Vì vậy trong quá trình tố tụng, ngoài việc phải chứng minh và giải quyết phần trách nhiệm hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng còn phải chứng minh và giải quyết phần trách nhiệm dân sự trong vụ án một cách chính xác, khách quan, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Định hướng này không những có tác dụng giải quyết triệt để, khách quan những quan hệ dân sự phát sinh do việc thực hiện tội phạm mà còn góp phần làm sáng tỏ những nội dung thuộc trách nhiệm hình sự của người phạm tội trong việc định tội danh và định khung hình phạt hoặc việc khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra. Vì vậy, quan niệm cho rằng giải quyết trách nhiệm dân sự phát sinh do việc thực hiện tội phạm chỉ xuất hiện ở giai đoạn xét xử và thuộc thẩm quyền của Tòa án là không đúng với qui định của Điều 28 BLTTHS 2003 về nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự. Nguyên tắc này đòi hỏi ngay từ giai đoạn khởi tố vụ án hình sự vấn đề dân sự đã phải là một trong những nội dung cần phải thu thập chứng cứ đề chứng minh làm rõ và thuộc trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự. Tòa án, với chức năng của mình trên cơ sở những chứng cứ đã thu thập được của Cơ quan điều tra và trong phạm vi quyết định truy tố của Viện kiểm sát tiến hành xét xử, ra phán quyết những vấn đề thuộc trách nhiệm dân sự cùng với việc giải quyết những nội dung của trách nhiệm hình sự trong cùng một bản án.
b) Nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự chỉ có phạm vi áp dụng đối với những quan hệ về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng xuất hiện do việc thực hiện tội phạm. Có nhiều vấn đề dân sự phát sinh do việc thực hiện tội phạm gây thiệt hại cho các quan hệ dân sự, bao gồm: Hành vi phạm tội xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, tài sản thì ngoài việc làm phát sinh trách nhiệm hình sự còn làm phát sinh trách nhiệm dân sự của những người tham gia tố tụng. Hoặc những vấn đề có liên quan đến tiền và tài sản như: tang vật, án phí, tịch thu vật, tiền hoặc tài sản do phạm tội mà có, đòi lại tài sản, đòi bồi thường thiệt hại… Tuy nhiên, không phải tất cả vấn đề dân sự nào liên quan đến tiền hoặc tài sản mà cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết cũng đều nằm trong phạm vi điều chỉnh của nguyên tắc qui định tại Điều 28 BLTTHS. Theo đó, vấn đề dân sự trong vụ án hình sự chỉ bao gồm việc đòi trả lại tài sản bị chiếm đoạt, đòi bồi thường giá trị tài sản do bị can, bị cáo chiếm đoạt nhưng bị mất hoặc bị huỷ hoại, buộc phải sửa chữa tài sản bị hư hỏng, đòi bồi thường thiệt hại về lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại do tài sản bị chiếm đoạt; đòi bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần do tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm. Nói cách khác, vấn đề dân sự trong vụ án hình sự chỉ được xác định trong phạm vi “trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” theo quy định tại chương XXI Bộ luật dân sự là những quan hệ bồi thường thiệt hại phát sinh do tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của tổ chức, cá nhân bị tội phạm xâm hại.
c) Vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được giải quyết khi khởi tố vụ án hình sự mà không cần có đơn khởi kiện của đương sự. Khi vụ án hình sự có vấn đề dân sự phát sinh do việc thực hiện tội phạm bị khởi tố thì việc dân sự đó đương nhiên được xem xét và giải quyết mà không cần phải khởi kiện riêng bằng một thủ tục khác nữa. Đây là một điểm khác biệt so với việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án dân sự. Theo thủ tục tố tụng dân sự thì vụ án dân sự chỉ được đặt ra và xem xét giải quyết khi có đơn khởi kiện của các chủ thể có quyền khởi kiện theo quy định tại các Điều 161, 162 BLTTDS, theo đó, cá nhân, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình và toà án chỉ giải quyết khi có đơn khởi kiện dân sự. Trong vụ án hình sự, khi đã khởi tố vụ án mà có vấn đề dân sự liên quan đến việc thực hiện tội phạm thì các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ xem xét giải quyết ngay mà không cần phải có thủ tục khởi kiện dân sự khác nữa. Như vậy, vấn đề dân sự trong vụ án hình sự sẽ được xem xét và giải quyết ngay từ giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng hình sự không cần phải có bất kể thủ tục nào khác nữa, kể cả thủ tục phải có yêu cầu khởi kiện của các chủ thể có quyền khởi kiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
d) Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự phải tuân theo các quy định của Luật tố tụng hình sự. Tuy về thực chất vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là quan hệ pháp luật dân sự nhưng nó lại phát sinh trên cơ sở hành vi phạm tội, nên nó không chỉ đơn thuần là những quan hệ dân sự mà còn là căn cứ quan trọng cho việc xác định tội phạm, hình phạt cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS đối với người phạm tội. Vì vậy, khi xem xét, giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự về nội dung phải tuân theo các quy định của Bộ luật Dân sự nhưng về hình thức (về mặt thủ tục) phải tuân theo trình tự, thủ tục của Luật tố tụng hình sự chứ không phải là trình tự, thủ tục của Luật tố tụng dân sự như trong vụ án dân sự thuần tuý. Chẳng hạn, theo quy định của Luật tố tụng hình sự thì trường hợp người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ vắng mặt thì tùy từng trường hợp mà Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà hoặc vẫn tiến hành xét xử nếu sự vắng mặt của những người này chỉ trở ngại cho việc giải quyết vấn đề bồi thường thì sẽ tách ra để xét xử sau theo thủ tục tố tụng dân sự. Đây là điểm khác biệt so với qui định của thủ tục tố tụng dân sự. Luật tố tụng dân sự qui định nếu người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự vắng mặt lần thứ nhất thì Hội đồng xét xử phải ra quyết định hoãn phiên tòa dù đương sự vắng mặt có lý do chính đáng hay không. Sở dĩ có sự khác biệt này là do bản chất của việc xét xử vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là xét xử vụ án hình sự, trong quá trình giải quyết vụ án hình sự thì Hội đồng xét xử giải quyết luôn cả vấn đề dân sự phát sinh do tội phạm gây ra. Nếu vấn đề dân sự trong vụ án có liên quan đến việc định tội hay định khung hình phạt đối với bị cáo thì nó là một phần không thể tách rời khỏi vụ án hình sự và phải được giải quyết đồng thời với vụ án hình sự. Trong trường hợp này lời khai của bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa rất quan trọng đối với việc giải quyết phần TNHS của vụ án. Vì vậy, Tòa án phải hoãn phiên tòa nếu những người trên vắng mặt. Tuy nhiên, đối với những vụ án mà phần dân sự không liên quan đến việc xác định TNHS, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của bị can, bị cáo thì có thể tách phần dân sự ra để giải quyết bằng một vụ án dân sự khác theo thủ tục tố tụng dân sự. Do đó, trong trường hợp này nếu người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử phần hình sự và tách phần dân sự ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.
Một điểm khác biệt nữa là, theo qui định của Luật tố tụng hình sự thì Viện kiểm sát tham gia tất cả các phiên tòa xét xử các vụ án hình sự của Toà án (bao gồm cả các phiên toà xét xử vụ án hình sự có giải quyết vấn đề dân sự). Tuy nhiên, theo Bộ luật tố tụng Dân sự thì Viện kiểm sát không tham gia tất cả các phiên toà xét xử của Toà án mà chỉ tham gia phiên toà đối với những vụ án do Tòa án thu thập chứng cứ mà đương sự có khiếu nại; Các vụ việc dân sự mà Viện kiểm sát kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án (khoản 2 Điều 21 BLTTDS).
e) Khi giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự, toà án áp dụng các nguyên tắc của Luật tố tụng hình sự và các nguyên tắc của Luật tố tụng dân sự để giải quyết.
Vấn đề dân sự được giải quyết trong vụ án hình sự nên khi xem xét vấn đề dân sự đó cần phải áp dụng các quy định, các nguyên tắc chung của Luật tố tụng hình sự để giải quyết. Tuy nhiên, Toà án không áp dụng cứng nhắc các nguyên tắc của tố tụng hình sự để xét xử vấn đề dân sự mà còn áp dụng một số nguyên tắc của tố tụng dân sự nhằm đảm bảo quyền lợi cho các đương sự tham gia tố tụng như nguyên tắc đảm bảo sự bình đẳng giữa các đương sự, nguyên tắc đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự… Bởi vì, dù là vấn đề dân sự trong vụ án hình sự nhưng thực chất đó vẫn là quan hệ dân sự, mà đặc thù của quan hệ pháp luật dân sự là quan hệ bình đẳng giữa các bên đương sự, do đó cần phải đảm bảo quyền bình đẳng thoả thuận giữa các đương sự khi tham gia tố tụng.
Một điểm khác biệt quan trọng là trong tố tụng hình sự, việc chứng minh tội phạm thuộc trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng. Cơ quan tiến hành tố tụng phải điều tra, thu thập chứng cứ để chứng minh tội phạm. Vấn đề dân sự phát sinh khi có hành vi phạm tội xảy ra được giải quyết trong vụ án hình sự nên trước hết phải tuân theo các nguyên tắc của tố tụng hình sự, do vậy các cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm điều tra, thu thập chứng cứ để làm sáng tỏ vụ án bao gồm cả việc điều tra, thu thập chứng cứ để làm rõ về phần trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự. Trường hợp các đương sự không cung cấp được chứng cứ về vấn đề dân sự mà những vấn đề dân sự này có liên quan đến việc xác định trách nhiệm hình sự của bị cáo thì cơ quan tiến hành tố tụng vẫn phải điều tra, làm rõ những thiệt hại đã xảy ra, trên cơ sở đó xác định được mức bồi thường thiệt hại. Chính vì vậy, chúng tôi hoàn toàn nhất trí với ý kiến của PGS. TS. Hoàng Thị Sơn cho rằng: Nếu vấn đề dân sự được giải quyết ngay trong vụ án hình sự thì cơ quan điều tra có thể làm sáng tỏ các tình tiết liên quan đến việc bồi thường ngay từ khi tiến hành điều tra vụ án. Vì tuy là vấn đề dân sự nhưng nó là vấn đề phát sinh từ vụ án hình sự. Ngược lại, nếu vấn đề đó được giải quyết riêng ở phiên tòa dân sự thì khả năng đó sẽ không còn nữa bởi lẽ cơ quan điều tra không có trách nhiệm điều tra, xác minh các tình tiết của vụ án dân sự [3]. Ngược lại, trong tố tụng dân sự, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh thuộc về các đương sự. Toà án không tiến hành thu thập chứng cứ mà chỉ xét xử trên cơ sở chứng cứ của các bên đương sự cung cấp. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 Điều 6 BLTTDS thì Tòa án vẫn tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp luật định.
f) Trong quá trình giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự Tòa án không bắt buộc phải mở các phiên hòa giải giữa các đương sự như trong tố tụng dân sự.
Thủ tục mở phiên hòa giải không phải là thủ tục bắt buộc mà Toà án phải thực hiện khi chuẩn bị xét xử phiên toà sơ thẩm vấn đề dân sự trong vụ án hình sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cũng không bắt buộc phải tiến hành hòa giải giữa các đương sự. Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử, các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn tạo điều kiện cho các bên tự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự. Trường hợp các đương sự tự nguyện thoả thuận được với nhau thì Tòa án công nhận việc thoả thuận này của các đương sự và sự thoả thuận này được ghi vào phần quyết định của bản án chứ Toà án không phải ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự. Đây là điểm khác biệt lớn so với tố tụng dân sự vì trong tố tụng dân sự Toà án cấp sơ thẩm bắt buộc phải tiến hành mở các phiên hoà giải giữa các đương sự và việc hoà giải được tiến hành trước và tại phiên tòa. Nếu các đương sự thoả thuận được với nhau thì Tòa án ra quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự.
3. Nội dung của nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong cùng vụ án hình sự bao gồm:
a) Việc giải quyết vấn đề dân sự đồng thời với việc giải quyết vụ án hình sự
Vấn đề dân sự được giải quyết với những vấn đề của trách nhiệm hình sự hình trong cùng vụ án hình sự là nội dung cơ bản của nguyên tắc này. Theo đó, ngoài việc chứng minh, xử lý những vấn đề của trách nhiệm hình sự thì cơ quan tiến hành tố tụng còn phải chứng minh, xử lý những vấn đề thuộc trách nhiệm dân sự các của chủ thể tham gia tố tụng hình sự. Việc chứng minh, giải quyết vấn đề dân sự được tiến hành đồng thời với việc chứng minh giải quyết những vấn đề thuộc trách nhiệm hình sự, do vậy không thể giải quyết vấn đề dân dự sau khi đã hoàn tất việc giải quyết trách nhiệm hình sự. Nhiệm vụ của cơ quan tiến hành tố tụng trong trường hợp vụ án có vấn đề dân sự liên quan đế tội phạm là xác minh, làm rõ trách nhiệm dân sự của các đương sự trong vụ án. Nhiệm vụ này được thực hiện thông qua việc tiến hành các hoạt động sau:
- Các cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định được các mối quan hệ có liên quan đến vấn đề dân sự cần giải quyết là những mối quan hệ nào trong các mối quan hệ sau: mối quan hệ về bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần do tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm tài sản bị xâm phạm; mối quan hệ về đòi tài sản; mối quan hệ về đòi bồi thường giá trị tài sản do bị can, bị cáo chiếm đoạt nhưng bị mất hoặc bị huỷ hoại; mối quan hệ về việc yêu cầu sửa chữa tài sản bị hư hỏng, bị huỷ hoại… Ví dụ: Trong vụ án giết người, bên cạnh việc xác định, chứng minh hành vi phạm tội của bị can, bị cáo cơ quan tiến hành tố tụng còn phải giải quyết các mối quan hệ về dân sự như quan hệ bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần do tính mạng bị xâm phạm (xác định các khoản chi phí cho việc cứu chữa, mai táng, khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần, tiền cấp dưỡng…).
- Đưa những người có liên quan đến vấn đề dân sự trong vụ án vào tham gia tố tụng. Xác định những người tham gia tố tụng gồm những ai, tư cách tham gia tố tụng của họ như thế nào (họ tham gia tố tụng với tư cách là bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự hay người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án). Trên thực tế, khi vụ án ở giai đoạn điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thường không xác định chính xác tư cách tham gia tố tụng của những người có liên quan đến vấn đề dân sự trong vụ án. Việc xác định thường được thực hiện một cách chung chung, có những vụ án tư cách của chủ thể tham gia tố tụng là nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự song Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát chỉ xác định họ là những người liên quan đến vụ án. Chỉ đến giai đoạn xét xử, Toà án mới là cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định chính xác tư cách tham gia tố tụng của từng chủ thể. Thực tế này cũng là phù hợp. Bởi lẽ, ở giai đoạn điều tra, truy tố thì vấn đề quan trọng là điều tra, làm rõ những nội dung liên quan đến phần dân sự như tiến hành lấy lời khai, đối chất, yêu cầu các đương sự cung cấp tài liệu, chứng cứ… Việc xác định tư cách tham gia tố tụng không ảnh hưởng nhiều tới hoạt động điều tra này. Còn ở giai đoạn xét xử, việc xác định tư cách tham gia tố tụng có ảnh hưởng nhiều tới quyền và nghĩa vụ tố tụng của các chủ thể tham gia tố tụng, đặc biệt là quyền kháng cáo. Có những vụ án tư cách chủ thể tham gia tố tụng là người làm chứng song Tòa án lại xác định họ là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Rõ ràng nếu xác định như vậy, mặc nhiên họ có quyền kháng cáo. Thực ra họ chỉ là người làm chứng, không có quyền lợi, nghĩa vụ gì cần được giải quyết trong vụ án nên trong bản án cũng không xem xét, quyết định vấn đề gì liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ.
- Xác định nội dung của các mối quan hệ có liên quan đến vấn đề dân sự cần giải quyết như: xác định mức độ thiệt hại đã xảy ra, mức độ lỗi của các chủ thể tham gia tố tụng… để từ đó có thể xác định đúng mức bồi thường thiệt hại.
Các cơ quan tiến hành tố tụng phải tiến hành điều tra, xác minh để làm rõ về những vấn đề nêu trên và đưa ra hướng giải quyết đối với toàn bộ vấn đề dân sự trong vụ án hình sự. Nguyên tắc chung là khi giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự, về nội dung các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng các quy định của Luật Dân sự còn về thủ tục tố tụng, các CQTHTT áp dụng những quy định của BLTTHS quy định việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự trên cơ sở kết hợp với các nguyên tắc của Luật tố tụng dân sự.
BLTTHS quy định việc giải quyết vấn đề dân sự được tiến hành đồng thời với việc giải quyết phần trách nhiệm hình sự của vụ án là một giải pháp hợp lý vì đối với người bị thiệt hại sẽ được thuận tiện hơn khi ra yêu cầu can thiệp đối với các CQTHTT và người bị thiệt hại cũng có thể sử dụng những chứng cứ mà các CQTHTT đã thu thập được để phục vụ cho việc giải quyết vấn đề dân sự. Hơn nữa, việc cùng giải quyết cả vấn đề dân sự và hình sự trong cùng một vụ án sẽ tiết kiệm hơn vì chỉ có một Toà án giải quyết cả hai loại vấn đề. Tuy nhiên, khi giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự, Toà án cần phải nghiên cứu, vận dụng cả những quy định của pháp luật về dân sự và những quy định của pháp luật về hình sự. Việc phải nghiên cứu áp dụng cả hai loại quy phạm pháp luật dân sự và hình sự là một khó khăn với Toà án, đặc biệt là đối với những vụ án phức tạp, chính vì vậy BLTTHS đã quy định việc tách vấn đề dân sự trong vụ án hình sự để giải quyết riêng bằng một vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự trong phần nội dung thứ hai của nguyên tắc mà chúng ta sẽ xem xét dưới đây.
b) Việc tách vấn đề dân sự trong vụ án hình sự
Phần nội dung thứ hai của nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự quy định về việc tách phần dân sự trong vụ án hình sự ra để giải quyết bằng một vụ án dân sự. Điều 28 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định: “…Trong trường hợp vụ án hình sự phải giải quyết vấn đề bồi thường, bồi hoàn mà chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự”.
Có thể thấy căn cứ chung để thực hiện việc tách phần dân sự trong vụ án hình sự theo quy định tại Điều 28 BLTTHS là việc chưa có điều kiện chứng minh về phần bồi thường, bồi hoàn và việc tách này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự. Nội dung này được làm rõ trong công văn số 121/2003/KHXX ngày 19/9/2003 của Toà án nhân dân tối cao về việc giải quyết các vấn đề liên quan đến tài sản, bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự. Theo đó, thì các căn cứ để tách phần dân sự trong vụ án hình sự là: Phần dân sự được tách không liên quan đến việc xác định cấu thành tội phạm, việc xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của bị cáo; chưa tìm được, chưa xác định được người bị hại hoặc nguyên đơn dân sự; người bị hại và nguyên đơn dân sự chưa có yêu cầu; người bị hại hoặc nguyên đơn dân sự có yêu cầu nhưng không cung cấp đầy đủ chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình; người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự vắng mặt tại phiên toà và việc này thật sự gây trở ngại cho việc giải quyết phần dân sự. Như vậy, ở mức độ khái quát nhất có thể hiểu căn cứ “việc tách vấn đề dân sự trong vụ án hình sự không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án” theo Điều 28 Bộ luật Tố tụng Hình sự chính là phần dân sự được tách không liên quan đến việc xác định cấu thành tội phạm, việc xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo. Còn căn cứ “chưa có điều kiện chứng minh về phần bồi thường” tức là chưa xác định được người bị hại hoặc nguyên đơn dân sự; người bị hại và nguyên đơn dân sự chưa có yêu cầu; người bị hại hoặc nguyên đơn dân sự có yêu cầu nhưng không cung cấp đầy đủ chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình; người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự vắng mặt tại phiên toà và việc này thật sự gây trở ngại cho việc giải quyết phần dân sự.
Bên cạnh việc quy định tách vấn đề dân sự trong vụ án hình sự tại cấp sơ thẩm, công văn số 121/2003/KHXX ngày 19/9/2003 của Tòa án nhân dân tối cao về việc giải quyết các vấn đề liên quan đến tài sản, bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự còn nêu rõ việc tách vấn đề dân sự trong vụ án hình sự tại cấp phúc thẩm: “trong trường hợp Toà án cấp sơ thẩm đã thực hiện các biện pháp xác minh, thu thập chứng cứ nhưng vẫn không được và thuộc một trong các trường hợp cần tách phần dân sự trong vụ án hình sự để giải quyết bằng một vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự khi có yêu cầu, nhưng Toà án cấp sơ thẩm vẫn tiến hành xét xử, thì Hội đồng xét xử phúc thẩm huỷ quyết định của bản án sơ thẩm về phần dân sự trong vụ án hình sự và tách phần dân sự này để giải quyết bằng vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự, khi có yêu cầu”. Công văn 121 cũng xác định việc tách phần dân sự trong vụ án hình sự tại phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm như sau: “Nếu xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm, Toà án cấp phúc thẩm đã thực hiện các biện pháp để xác minh, thu thập chứng cứ, bổ sung chứng cứ, song vẫn không được và thuộc một trong các trường hợp cần tách phần dân sự trong vụ án hình sự để giải quyết bằng vụ án dân sự, khi có yêu cầu, nhưng Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm vẫn tiến hành xét xử, thì Hội đồng xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm huỷ quyết định của bản án phúc thẩm, quyết định của bản án sơ thẩm về phần dân sự và tách phần dân sự để giải quyết bằng vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự, khi có yêu cầu”.
Liên quan đến việc tách vấn đề dân sự trong vụ án hình sự, khoản 1 Điều 191 BLTTHS còn quy định trường hợp sự vắng mặt của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự chỉ trở ngại cho việc giải quyết vấn đề bồi thường thì Hội đồng xét xử có thể tách việc bồi thường để xét xử sau theo thủ tục tố tụng dân sự. Như vậy, Bộ luật Tố tụng Hình sự và công văn số 121 mới chỉ quy định thẩm quyền tách vấn đề dân sự trong vụ án hình sự thuộc về Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm, phúc thẩm và Hội đồng xét xử giám đốc thẩm. Một vấn đề đặt ra là liệu các cơ quan tiến hành tố tụng (cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Toà án) trong quá trình giải quyết vụ án có quyền ra quyết định tách vấn đề dân sự trong vụ án hình sự ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự không hay việc tách vụ án chỉ được thực hiện bởi Hội đồng xét xử tại phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm? Những người tham gia tố tụng có được quyền đề nghị tách vấn đề dân sự trong vụ án hình sự không?
Từ những phân tích nêu trên cho thấy vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là nội dung lớn giữ vai trò quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự nhưng lại chỉ được đề cập tại một số ít các điều luật trong BLTTHS 2003 nên cần có bổ sung khi hoàn thiện BLTTHS.
4. Thủ tục giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự. Do vấn đề dân sự được giải quyết trong cùng vụ án hình sự nên BLTTHS 2003 không qui định thủ tục riêng mà vấn đề dân sự trong vụ án hình sự sẽ tuân theo trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hình sự. Xuất phát từ đặc thù của quan hệ dân sự nên khi giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự còn phải tuân theo những nguyên tắc riêng của tố tụng dân sự nhằm đảm bảo quyền bình đẳng của các đương sự khi tham gia tố tụng. Tuy nhiên, Tòa án không thể đồng thời áp dụng cả thủ tục tố tụng hình sự và thủ tục tố tụng dân sự để giải quyết một vụ án mà chỉ có thể áp dụng thủ tục tố tụng hình sự trên cơ sở kết hợp với những nguyên tắc và thủ tục của tố tụng dân sự để giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án đó. Vì vậy, việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự sẽ tuân theo thủ tục tố tụng hình sự trên cơ sở kết hợp với các nguyên tắc của tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết một vụ án phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, bắt đầu từ giai đoạn khởi tố, đến giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, và kết thúc ở giai đoạn thi hành án. Mỗi giai đoạn đều có một chức năng và nhiệm vụ khác nhau nhưng đều nhằm mục đích giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện, bảo đảm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Trong đó giai đoạn xét xử là giai đoạn trọng tâm của tố tụng hình sự. Các hoạt động khởi tố, điều tra chỉ nhằm thu thập chứng cứ phục vụ cho việc truy tố và xét xử. Trên cơ sở những chứng cứ thu thập được, Toà án sẽ xem xét và đánh giá một cách chính xác để đưa ra phán quyết cuối cùng nên ở tất cả các giai đoạn TTHS các CQTHTT khi giải quyết vấn đề dân sự sẽ tuân theo thủ tục TTHS.
5. Từ những phân tích nêu trên cần hoàn thiện BLTTHS về nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong cùng vụ án hình sự theo hướng sau đây:
- Nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong cùng vụ án hình sự đã được qui định trong BLHS 2003 nhưng nội dung của nguyên tắc này chưa được thể hiện trong các điều luật có liên quan. Trên cơ sở tiếp cận vấn đề dân sự là một trong những nội dung quan trọng của quá trình giải quyết vụ án mà các CQTHTT phải chứng minh, giải quyết thì cần bổ sung vào nguyên tắc “xác định sự thật khách quan vụ án” (Điều 10 BLTTHS 2003) nội dung này. Cụ thể như sau:
“Điều 10. Xác định sự thật của vụ án
Cơ quan điều tra, viện kiểm sát và Tòa án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can bị cáo, đồng thời thu thập chứng cứ xác định phạm vi, mức độ thiệt hại đối với những vấn đề dân sự liên quan đến việc thực hiện tội phạm.
Trách nhiệm chứng minh tội phạm, chứng minh những vấn đề dân sự liên quan đến việc thực hiện tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội; Bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác có quyền nhưng không buộc phải chứng minh những thiệt hại về dân sự liên quan đến việc thực hiện tội phạm”.
Cũng tương tự như vậy, bổ sung thêm Khoản 5 vào Điều 63 BLTTHS 2003 đối tượng chứng minh khi điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự của các CQTHTT về vấn đề dân sự phát sinh do việc thực hiện tội phạm.
“Điều 63. Những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự
Khi điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án phải chứng minh:
1.
2.
….”

6. Những vấn đề dân sự liên quan đến việc thực hiện tội phạm
- Giải quyết vấn đề dân sự trong cùng vụ án hình sự. Do vấn đề dân sự được giải quyết trong cùng vụ án hình sự, nên xuất phát từ đặc thù của quan hệ dân sự, khi giải quyết vấn đề dân sự ngoài việc phải tuân theo thủ tục TTHS còn phải kết hợp những nguyên của tố tụng dân sự nhằm đảm bảo quyền bình đẳng của các đương sự khi tham gia tố tụng. Tuy nhiên, BLTTHS 2003 chưa thể hiện rõ tinh thần này nên cần bổ sung quy định cụ thể về trình tự, thủ tục tố tụng khi giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự trong BLTTHS hoặc trong các văn bản hướng dẫn thi hành BLTTHS.
- Bổ sung, hoàn thiện các quy phạm pháp luật về người tham gia tố tụng, đặc biệt là những người tham gia tố tụng có liên quan trực tiếp đến việc giải quyết phần trách nhiệm dân sự của vụ án đó là người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Cụ thể:
Thứ nhất, cần đưa ra qui định về nội hàm về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án mà BLTTHS 2003 chưa có theo hướng sau: “Người có quyền lợi liên quan đến vụ án là người có lợi ích vật chất hoặc tinh thần có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo và được cơ quan tiến hành tố tụng công nhận. Người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án là người mà hành vi của họ có liên quan đến tội phạm do bị cáo thực hiện và theo pháp luật họ phải có trách nhiệm về hành vi của mình. Trách nhiệm của người có nghĩa vụ liên quan bao gồm cả trách nhiệm về vật chất và trách nhiệm về mặt tinh thần”.
Thứ hai, sửa đổi khái niệm về nguyên đơn dân sự theo hướng: Trường hợp tội phạm không trực tiếp xâm hại tới tài sản của cơ quan, tổ chức thì để được xác định là nguyên đơn dân sự, cơ quan, tổ chức phải có đơn yêu cầu bồi thường. Trường hợp tội phạm trực tiếp xâm hại tới tài sản của cơ quan, tổ chức thì dù cơ quan, tổ chức đó có làm đơn yêu cầu bồi thường hay không cơ quan tiến hành tố tụng vẫn phải xác định họ tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn dân sự. Bởi vì, trong trường hợp này dù nguyên đơn dân sự có đơn yêu cầu bồi thường hay không thì bị can, bị cáo, bị đơn dân sự vẫn phải thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn dân sự.
- Bổ sung quy định thẩm quyền về việc tách vấn đề dân sự trong vụ án hình sự và việc tách này được thực hiện ở giai đoạn nào của quá trình giải quyết vụ án. Theo chúng tôi chỉ nên tách vấn đề dân sự trong vụ án hình sự ở giai đoạn xét xử vì ở giai đoạn điều tra nếu vấn đề dân sự được giải quyết ngay trong vụ án hình sự thì cơ quan điều tra có thể làm sáng tỏ các tình tiết liên quan đến việc bồi thường ngay từ khi tiến hành điều tra vụ án. Còn nếu vấn đề đó được tách ra từ giai đoạn điều tra để giải quyết riêng ở phiên tòa dân sự thì khả năng đó sẽ không còn nữa bởi lẽ cơ quan điều tra không có trách nhiệm điều tra, xác minh các tình tiết của vụ án dân sự và điều này sẽ là sự thiệt thòi cho người tham gia tố tụng, phần nào làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Bên cạnh đó, cần quy định Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử có quyền tách vụ án nếu thấy có đủ căn cứ tách vụ án theo quy định của pháp luật và việc tách vụ án không ảnh hưởng đến việc giải quyết vấn đề dân sự. Ngoài ra, theo chúng tôi cần quy định những người tham gia tố tụng cũng có quyền đề nghị tách vấn đề dân sự trong vụ án hình sự nhằm tôn trọng nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng trong tố tụng dân sự. Tuy nhiên, trường hợp người tham gia tố tụng đề nghị tách vấn đề dân sự ra để giải quyết bằng một vụ án dân sự khác thì phải được sự đồng ý của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc tách này không ảnh hưởng tới việc giải quyết phần trách nhiệm hình sự.
- Bổ sung quy định trong BLTTHS hoặc trong các văn bản hướng dẫn thi hành các nội dung “vấn đề dân sự trong vụ án hình sự”; “chưa có điều kiện chứng minh”; “không ảnh hưởng tới việc giải quyết vụ án hình sự” mà BLTTHS 2003 đã nêu ra nhưng chưa được qui định cụ thể theo hướng sau:
Thứ nhất,“vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là những quan hệ về đòi tài sản; đòi bồi thường giá trị tài sản do bị can, bị cáo chiếm đoạt nhưng bị mất hoặc bị huỷ hoại; yêu cầu sửa chữa tài sản bị hư hỏng, bị huỷ hoại; đòi bồi thường thiệt hại về lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại do tài sản bị chiếm đoạt; đòi bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần do tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị hành vi phạm tội gây ra…”. Nói cách khác, là xét xử vấn đề dân sự trong vụ án hình sự chỉ trong phạm vi “trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” theo quy định tại Chương V Bộ luật dân sự.
Thứ hai, “Chưa có điều kiện chứng minh là trường hợp chưa xác định được người bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người bị hại và nguyên đơn dân sự chưa có yêu cầu; người bị hại, nguyên đơn dân sự hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có yêu cầu nhưng không cung cấp đầy đủ chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình; người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà và việc này thật sự gây trở ngại cho việc giải quyết phần dân sự”.
Thứ ba, tách vấn đề dân sự không ảnh hưởng tới việc giải quyết vụ án hình sự “là phần dân sự được tách ra không liên quan đến việc xác định cấu thành tội phạm, việc xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo”.
Trên đây là một vài kiến nghị hoàn thiện nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự theo định hướng cải cách tư pháp ở nước ta.

Tài liệu tham khảo
[1] Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003.
[2] Nguyễn Ngọc Chí, Những nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự – Những đề xuất sửa đổi bổ sung, Tạp chí Khoa học (chuyên san Luật học), Đại học Quốc gia Hà Nội, số 2 (2009) 239.
[3] Hoàng Thị Sơn, Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự, Luật học, số 6 (1998), 30.

Nguồn: Tạp chí Khoa học ĐHQGHN

Về chủ thể có thẩm quyền giám đốc thẩm


Theo Từ điển tiếng Việt, “thẩm quyền là quyền xem xét để kết luận và định đoạt một vấn đề theo pháp luật”.(1) Theo quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu, thẩm quyền của toà án là tổng hợp các quyền về hình thức cũng như nội dung mà pháp luật quy định cho toà án được xem xét, giải quyết những vụ việc nhất định, trong phạm vi, giới hạn nhất định và có những cách giải quyết, định đoạt nhất định.(2) Như vậy, thẩm quyền giám đốc thẩm của toà án là chế định có phạm vi rộng, bao gồm nhiều nội dung trong đó có những nội dung cơ bản đó là việc xác định chủ thể nào có quyền giám đốc thẩm (thẩm quyền giám đốc thẩm); giới hạn những vấn đề được giải quyết khi giám đốc thẩm (phạm vi giám đốc thẩm); có quyền giải quyết như thế nào (quyền hạn của hội đồng giám đốc thẩm). Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi đề cập việc xác định chủ thể có quyền giám đốc thẩm.
Điều 279 BLTTHS năm 2003 quy định:
“1. Uỷ ban thẩm phán TAND cấp tỉnh giám đốc thẩm những bản án hoặc quyết định đă có hiệu lực pháp luật của TAND cấp huyện. Uỷ ban thẩm phán TAQS cấp quân khu giám đốc thẩm những bản án hoặc quyết định đă có hiệu lực pháp luật của TAQS khu vực.
2. Toà hình sự TANDTC giám đốc thẩm những bản án hoặc quyết định đă có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh. TAQSTƯ giám đốc thẩm những bản án hoặc quyết định đă có hiệu lực pháp luật của TAQS cấp quân khu.
3. Hội đồng thẩm phán TANDTC giám đốc thẩm những bản án hoặc quyết định đă có hiệu lực pháp luật của TAQSTƯ, của toà hình sự, các toà phúc thẩm TANDTC bị kháng nghị.
4. Những bản án hoặc quyết định đă có hiệu lực pháp luật về cùng một vụ án hình sự thuộc thẩm quyền giám đốc thẩm của các cấp khác nhau được quy định tại các khoản 1, 2 và 3 của Điều này thì cấp có thẩm quyền cấp trên giám đốc thẩm toàn bộ vụ án”.
So với quy định của BLTTHS năm 1988, BLTTHS năm 2003 đă bổ sung quy định về thẩm quyền giám đốc thẩm đối với những bản án hoặc quyết định đă có hiệu lực pháp luật về cùng vụ án hình sự thuộc thẩm quyền giám đốc thẩm của các cấp khác nhau. Theo quy định trong BLTTHS năm 1988, thẩm quyền giám đốc thẩm luôn thuộc về toà án cấp trên trực tiếp của toà án đă ra bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật. Việc phân định thẩm quyền xét xử theo nguyên tắc toà án cấp trên trực tiếp giám đốc việc xét xử của toà án cấp dưới có nhiều điểm hợp lí, đảm bảo được yêu cầu phân quyền theo tổ chức toà án. Tuy nhiên, quy định này chỉ phù hợp với những vụ án mà chỉ có một bản án có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp vụ án phức tạp có nhiều bị cáo hoặc bị cáo phạm nhiều tội khác nhau và phải qua nhiều cấp xét xử như sơ thẩm, phúc thẩm hoặc đă qua giám đốc thẩm thì có thể trong cùng vụ án có nhiều bản án có hiệu lực pháp luật. Ví dụ, trường hợp chỉ có kháng nghị phúc thẩm đối với một phần bản án sơ thẩm của toà án cấp huyện thì phần bản án sơ thẩm không bị kháng nghị phúc thẩm sẽ có hiệu lực pháp luật, nếu phần bản án này có kháng nghị giám đốc thẩm thì toà án cấp tỉnh là toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm. Phần bản án bị kháng nghị phúc thẩm được toà án cấp tỉnh đă xét xử phúc thẩm, nếu bản án của toà án cấp phúc thẩm bị kháng nghị giám đốc thẩm thì toà hình sự TANDTC có thẩm quyền giám đốc thẩm. Quy định chỉ có toà án cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giám đốc làm cho việc giải quyết vụ án phức tạp và kéo dài vì phải chờ toà án này giám đốc thẩm xong, toà án khác mới có hồ sơ vụ án để giám đốc thẩm. Hơn nữa, việc hai cấp toà án cùng giám đốc thẩm một vụ án cũng hạn chế việc xét lại bản án một cách toàn diện. Quy định tại khoản 4 Điều 279 BLTTHS năm 2003 làm cho việc giám đốc thẩm linh hoạt hơn và khắc phục những vướng mắc nói trên. Tuy nhiên, thẩm quyền giám đốc thẩm như quy định hiện nay cũng vẫn c̣n nhiều cấp, cần phải được quy định tập trung hơn nữa.
Trước đây, theo quy định của BLTTHS năm 1988 thì có bốn cấp có thẩm quyền giám đốc thẩm. Như vậy, “về lí thuyết và thực tiễn một vụ án có thể trải qua sáu lần xét xử và đòi hỏi thời gian và các chi phí khác rất lớn và nhiều khi để lại trong tâm lí xă hội những ấn tượng rất không hay về hiệu quả hoạt động của cơ quan pháp luật nói chung và các toà án nói riêng”.(3) Việc BLTTHS năm 2003 không quy định thẩm quyền giám đốc thẩm cuả Uỷ ban thẩm phán TANDTC đă phần nào đă hạn chế được những hậu quả nói trên đồng thời phù hợp với quy định về tổ chức của TANDTC (theo khoản 2 Điều 18 Luật tổ chức TAND trong cơ cấu tổ chức không c̣n Uỷ ban thẩm phán). Tuy nhiên, theo chúng tôi, thẩm quyền giám đốc thẩm cần phải quy định tập trung vào TANDTC.
Thứ nhất, theo chúng tôi, không cần thiết phải quy định thẩm quyền giám đốc thẩm ở toà án cấp tỉnh mà nên tập trung thẩm quyền giám đốc thẩm vào TANDTC vì những lí do sau:
- Do tính chất đặc biệt của giám đốc thẩm là xét lại các bản án, quyết định khi các bản án, quyết định này đă có hiệu lực pháp luật, đă được thi hành, thậm chí đă thi hành xong nên việc xét lại phải hết sức thận trọng và đảm bảo chất lượng. Khi thẩm quyền giám đốc thẩm được tập trung ở TANDTC với những thẩm phán chuyên ngành có trình độ chuyên môn cao sẽ đảm bảo tốt hơn chất lượng của hoạt động giám đốc thẩm.
- Toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm thông qua hoạt động xét lại bản án, quyết định đă có hiệu lực pháp luật thực hiện nhiệm vụ hướng dẫn việc áp dụng và thi hành pháp luật đúng và thống nhất. Nếu quá nhiều toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm có thể dẫn đến trường hợp các toà án giải quyết không thống nhất đối với cùng vấn đề. Quy định thẩm quyền giám đốc thẩm tập trung ở TANDTC không chỉ nâng cao chất lượng giám đốc thẩm mà c̣n làm cho việc giám đốc thẩm thống nhất hơn.
- Việc giám đốc thẩm ở cấp tỉnh vì nhiều lí do khách quan và chủ quan nên hiệu quả chưa cao.
- Việc giảm bớt một cấp giám đốc thẩm làm cho thủ tục bớt phiền phức, kéo dài, đáp ứng được yêu cầu xử lí nhanh chóng, kịp thời tội phạm và người phạm tội, tránh t́nh trạng việc giải quyết vụ án bị kéo dài, làm giảm hiệu lực của các bản án và quyết định đă có hiệu lực pháp luật. Mặt khác, do giám đốc thẩm không phải là hoạt động xét xử nên khi xác định thẩm quyền giám đốc thẩm tập trung vào TANDTC cũng không ảnh hưởng đến những vấn đề mà khi xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm, phúc thẩm phải quan tâm như đảm bảo thuận lợi cho những người tham gia tố tụng, đảm bảo hiệu quả kinh tế của việc xét xử sao cho tiết kiệm nhất…
- Việc xác định chỉ có TANDTC có thẩm quyền giám đốc thẩm là phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng về cải cách tư pháp, trong Nghị quyết của Bộ chính trị số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đă định hướng; tổ chức hệ thống toà án theo thẩm quyền xét xử, việc xét xử sơ thẩm được tiến hành ở toà án sơ thẩm cấp khu vực và một số vụ án ở toà án phúc thẩm; việc xét xử phúc thẩm được tiến hành ở toà án cấp phúc thẩm và ở toà thượng thẩm; việc giám đốc thẩm và tái thẩm được tiến hành ở TANDTC.
- Việc xác định chỉ có TANDTC có thẩm quyền giám đốc thẩm là phù hợp với Hiến pháp năm 1992. Điều 34 Hiến pháp năm 1992 quy định: “TANDTC giám đốc việc xét xử của các TAND địa phương và các TAQS” mà không quy định cho TAND cấp tỉnh giám đốc việc xét xử của TAND cấp huyện.
Về thực tiễn, theo số liệu thống kê của TANDTC, trong 12 năm (1996 – 2007), số lượng án giám đốc thẩm thụ lí ở cấp tỉnh là 2.589/5.561 vụ, chiếm 46,55% tổng số án giám đốc thẩm mà toà án đă thụ lí. Nếu không quy định thẩm quyền giám đốc thẩm ở cấp tỉnh thì số lượng án cần giám đốc thẩm dồn lên TANDTC khoảng gần gấp đôi mức hiện nay. Tuy nhiên, với những giải pháp đồng bộ, số lượng án cần giám đốc thẩm sẽ giảm đi nhiều nên sẽ không vượt quá khả năng giải quyết của TANDTC. Trên thực tế, số lượng án có kháng nghị giám đốc thẩm ngày càng giảm và giảm mạnh trong năm 2004, 2005. Theo số liệu thống kê của TANDTC, năm 1996, số lượng án giám đốc thẩm hình sự là 620 vụ; năm 2007 chỉ c̣n 228 vụ, bằng 36,77%, giảm 63,23% so với số lượng án giám đốc thẩm hình sự năm 1996.
Từ lí luận và thực tiễn có thể thấy rằng việc tập trung thẩm quyền giám đốc thẩm vào TANDTC là cần thiết và đáp ứng thực tiễn xét xử. Nghiên cứu luật tố tụng hình sự của một số nước chúng tôi nhận thấy xu hướng chung các nước quy định chủ thể có quyền giám đốc thẩm rất hạn chế, hầu hết chỉ quy định một cấp toà án có quyền giám đốc thẩm, tập trung quyền này vào một toà án duy nhất là toà phá án hoặc toà án tối cao. Luật tố tụng hình sự các nước thường chỉ quy định một hoặc hai cấp giám đốc thẩm. Luật tố tụng hình sự Hàn Quốc, Nhật Bản, Canada quy định thẩm quyền giám đốc thẩm thuộc TATC.(4) Luật tố tụng hình sự Cộng hòa Pháp quy định thẩm quyền phá án thuộc toà phá án.(5) Cũng có nước như Liên bang Nga, Trung Quốc quy định ngoài TANDTC thì các toà án khác cũng có quyền giám đốc thẩm. Theo quy định tại Điều 403 BLTTHS Liên bang Nga, có ba cấp có thẩm quyền giám đốc thẩm: Uỷ ban thẩm phán của TATC nước Cộng hoà, toà án vùng, khu vực, toà án thành phố thuộc liên bang và uỷ ban thẩm phán TAQS vùng, khu vực; cấp thứ hai là Uỷ ban thẩm phán quân sự và Uỷ ban thẩm phán về các vụ án hình sự thuộc TATC Liên bang; cấp thứ ba là Hội đồng thẩm phán TATC Liên bang Nga.(6) Do tổ chức nhà nước của Liên bang Nga là nhà nước liên bang nên thẩm quyền giám đốc thẩm gồm nhiều cấp nhưng nếu xét trong phạm vi của nước cộng hòa thì chỉ có một cấp thuộc TATC nước cộng hòa; c̣n ở Liên bang chỉ có hai cấp thuộc TATC Liên bang. Như vậy, có thể thấy rằng thẩm quyền giám đốc thẩm theo quy định của Liên bang Nga cũng hạn chế tập trung vào TATC nước cộng hòa và TATC Liên bang.
Thứ hai, cần xem xét lại quy định về thẩm quyền giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán TANDTC.
Theo quy định của BLTTHS, Hội đồng thẩm phán của TANDTC là cấp giám đốc thẩm cao nhất và tiến hành giám đốc thẩm các bản án hoặc quyết định đă có hiệu lực pháp luật của các toà thuộc TANDTC, về tất cả các chuyên ngành hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính. Quy định này không hợp lí vì những lí do sau:
- Việc xét lại những bản án hoặc quyết định đă có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm ở Hội đồng thẩm phán TANDTC đòi hỏi những người tham gia Hội đồng giám đốc thẩm phải là những thẩm phán có trình độ chuyên môn cao (có thể nói là ở mức cao nhất) trong lĩnh vực mà họ tham gia giám đốc thẩm. Đòi hỏi này thứ nhất là do tính chất của những vụ án phải xét lại, nhìn chung, những vụ án phải xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm là những vụ án có sự phức tạp trong việc áp dụng pháp luật để giải quyết, cần phải có những chuyên gia giỏi để xem xét và giải quyết; thứ hai là do tính chất của quyết định giám đốc thẩm mà Hội đồng thẩm phán TANDTC đưa ra, Hội đồng thẩm phán TANDTC là cấp giám đốc thẩm cao nhất trong hệ thống TAND, quyết định của Hội đồng thẩm phán TANDTC không thể bị kháng nghị giám đốc thẩm để xét lại. VÌ vậy, quyết định của Hội đồng thẩm phán TANDTC phải đảm bảo tính đúng đắn ở mức cao nhất, phải là mẫu mực của việc áp dụng pháp luật, đảm bảo tính hướng dẫn đối với việc xét xử của toà án các cấp.
- Trong khi đó, theo quy định pháp luật hiện hành, Hội đồng thẩm phán của TANDTC không phải là Hội đồng chuyên ngành, thành viên của Hội đồng thẩm phán TANDTC gồm những thẩm phán thuộc những chuyên ngành khác nhau mà trong t́nh hình thực tế của nước ta hiện nay “không thể hoặc rất khó tìm ra những thẩm phán được đào tạo chuyên sâu, có tri thức tốt và khả năng giải quyết những vấn đề phức tạp về tất cả các ngành luật”.(7) VÌ vậy, việc Hội đồng thẩm phán TANDTC giám đốc tất cả các bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật về các vụ án thuộc các lĩnh vực khác nhau là không đảm bảo chất lượng, không đáp ứng đòi hỏi của việc giám đốc thẩm ở cấp cao nhất này.
- Việc Hội đồng thẩm phán TANDTC phải giám đốc thẩm tất cả những bản án hoặc quyết định đă có hiệu lực pháp luật của các toà thuộc TANDTC làm cho Hội đồng thẩm phán mất rất nhiều thời gian vào việc giám đốc thẩm, không có điều kiện thực hiện chức năng rất quan trọng là hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật.(8)
- Việc thực hiện quy định Hội đồng thẩm phán TANDTC giám đốc thẩm phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên của Hội đồng thẩm phán TANDTC không phải lúc nào cũng dễ dàng thực hiện mà có thể khó khăn do không đủ số lượng thành viên để lập hội đồng theo luật định.
- Việc quy định thành viên của Hội đồng thẩm phán TANDTC có thể không tham gia hội đồng giám đốc thẩm dẫn đến bất cập trong việc biểu quyết của hội đồng. Nếu theo quy định hiện nay (khi biểu quyết về nội dung của kháng nghị phải biểu quyết theo trình tự những ý kiến đồng ý với kháng nghị, những ý kiến không đồng ý với kháng nghị) thì vẫn có thể xảy ra t́nh trạng không có ý kiến nào được quá nửa tổng số thành viên của Hội đồng thẩm phán TANDTC biểu quyết tán thành dẫn đến việc phải hoăn phiên toà.
Để giải quyết những bất cập trên, một số nhà khoa học đă đưa ra giải pháp:
- Có quan điểm cho rằng cần thành lập hội đồng giám đốc thẩm chuyên ngành gồm từ 5 đến 7 thành viên của Hội đồng thẩm phán theo quyết định của Chánh án TANDTC.(9)
- Có quan điểm cho rằng có thể lựa chọn hai giải pháp: Hoặc là thành lập hội đồng giám đốc thẩm chuyên ngành bao gồm 9 hoặc 12 thẩm phán hoặc là khi bổ nhiệm thẩm phán vào chức vụ chánh toà các toà chuyên trách hoặc toà phúc thẩm của TANDTC (là những thành viên của Hội đồng thẩm phán TANDTC) phải tuyển chọn được những người giỏi về pháp luật, có trình độ và kiến thức tốt về tất cả các ngành luật, đây là vấn đề rất khó trong t́nh hình đào tạo cán bộ hiện nay.(10)
Trên cơ sở những phân tích như đã trình bày, chúng tôi nhất trí với quan điểm của PGS.TS Trần Văn Độ cho rằng: Không nên quy định thẩm quyền giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán TANDTC để Hội đồng tập trung vào việc hướng dẫn các tòa án áp dụng thống nhất pháp luật; tổng kết kinh nghiệm xét xử; thông qua báo cáo của Chánh án TANDTC về công tác của tòa án để trình bày Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội. Để thay thế vai trò của Hội đồng thẩm phán TANDTC trong giám đốc thẩm, thành lập Hội đồng thẩm phán chuyên ngành gồm 5 hoặc 7 thành viên do Chánh án TANDTC quyết định phân công cho từng vụ án cụ thể. Quy định như vậy là đảm bảo tính chuyên ngành của Hội đồng giám đốc thẩm. Mặt khác, nếu thành lập Hội đồng giám đốc thẩm chuyên ngành gồm 5 hoặc 7 thành viên do Chánh án TANDTC quyết định phân công cho từng vụ án cụ thể sẽ linh hoạt hơn rất nhiều so với quy định hiện hành. Việc quy định theo hướng đó cũng đảm bảo tính khả thi cho việc quy định tất cả các thành viên của Hội đồng giám đốc thẩm phải có mặt tại phiên tòa vì số lượng thẩm phán không có nhiều và có thể thay đổi. Khi các thành viên đã có mặt đầy đủ tại phiên tòa thì những bất cập hiện nay trong việc Hội đồng giám đốc thẩm biểu quyết để ra quyết định giám đốc thẩm cũng sẽ được giải quyết một cách triệt để hơn.

Chú thích:
(1).Xem: Trung tâm từ điển học, Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Khoa học xă hội, Hà Nội, 1994, tr. 890.
(2).Xem: Nguyễn Văn Hiện, “Vấn đề thực tiễn, lí luận và yêu cầu hoàn thiện thẩm quyền xét xử giám đốc thẩm các vụ án hình sự của toà án các cấp”, Tạp chí toà án nhân dân, số 4 năm 1997, tr.30. – Xem: Nguyễn Văn Huyên (2003), “Thẩm quyền xét xử của toà án”, Giai đoạn xét xử trong tố tụng hình sự Việt Nam – Những vấn đề lí luận và thực tiễn, Đề tài cấp cơ sở, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.32; – Xem: Nguyễn Đức Mai, “Thẩm quyền của toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm”, Tạp chí toà án nhân dân, số 2 năm 1994, tr.19.
(3).Xem: Trần Văn Độ, “Một số ý kiến về hoàn thiện thẩm quyền xét xử của toà án các cấp”, Tạp chí toà án nhân dân, số 6 năm 2001, tr.3.
(4). VKSNDTC, Viện khoa học kiểm sát, tố tụng hình sự Hàn Quốc, (bản dịch tiếng Việt), Hà Nội, 1998, tr.100; VKSNDTC, Viện khoa học kiểm sát, BLTTHS Nhật Bản, (bản dịch tiếng Việt), Hà Nội, 1993, tr. 74; VKSNDTC, Viện khoa học kiểm sát, BLTTHS Canada 1994, (bản dịch tiếng Việt), Hà Nội, 1998, tr.230.
(5). Nhà pháp luật Việt – Pháp, BLTTHS của nước Cộng hoà Pháp, bản dịch tiếng Việt, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.243.
(6). VKSNDTC, Viện khoa học kiểm sát, BLTTHS Liên bang Nga, (bản dịch tiếng Việt), Hà Nội, 2002, tr.167.
(7).Xem: Nguyễn Văn Hiện, “Tiếp tục hoàn thiện các quy định về giám đốc thẩm và tái thẩm, góp phần nâng cao hiệu quả công tác xét xử của toà án”, Tạp chí dân chủ và pháp luật, số 4 năm 1998, tr.12.
(8).Xem: Trần Văn Độ, “Một số vấn đề về tái thẩm”, Tạp chí luật học, số 4 năm 1995, tr.6.
(9).Xem: Trần Văn Độ, “Một số ý kiến về hoàn thiện thẩm quyền xét xử của toà án các cấp”, Tạp chí toà án nhân dân, số 6 năm 2001, tr.6.
(10).Xem: Nguyễn Văn Hiện, “Tiếp tục hoàn thiện các quy định về giám đốc thẩm và tái thẩm, góp phần nâng cao hiệu quả công tác xét xử của toà án”, Tạp chí dân chủ và pháp luật, số 4 năm 1998, tr.12.
 Nguồn: Tạp chí Luật học

Bàn về sử dụng thuật ngữ pháp lý trong một số bộ luật hiện hành


Một trong những vấn đề rất quan trọng đặt ra trong công tác lập pháp là độ chính xác, tính thống nhất trong việc sử dụng các thuật ngữ pháp lý. Độ chính xác, tính thống nhất trong sử dụng thuật ngữ pháp lý không chỉ ở một văn bản pháp quy mà cao hơn là trong các Bộ luật. Việc sử dụng thuật ngữ pháp lý không chính xác, không thống nhất đối với những vấn đề pháp lý giống nhau hoặc tương tự như nhau, cũng là một trong những nguyên nhân dẫn tới nhận thức về quy phạm pháp luật khác nhau và việc áp dụng pháp luật cũng không thống nhất. Chúng tôi xin nêu một số ví dụ như sau:
1-  Về việc sử dụng thuật ngữ “hậu quả” và “hiệu lực”:
Điều 254 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: Hậu quả của việc kháng cáo, kháng nghị:
1) Những phần của bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp pháp luật quy định cho thi hành ngay.
2) Bản án, quyết định hoặc những phần của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Điều 237 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: Hậu quả của việc kháng cáo, kháng nghị:
1) Những phần của bản án bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 255 của Bộ luật này. Khi có kháng cáo, kháng nghị đối với toàn bộ bản án thì toàn bộ bản án chưa được đưa ra thi hành.
Điều 240 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: Hiệu lực của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không có kháng cáo, kháng nghị:
Bản án, quyết định và những phần của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính không có quy định về vấn đề này.
Như vậy cùng là quy định về vấn đề kháng cáo, kháng nghị nhưng ở các điều luật, trong hai Bộ luật nêu trên lại dùng thuật ngữ khác nhau. Trong Bộ luật tố tụng dân sự và Bộ luật tố tụng hình sự sử dụng thuật ngữ “hậu quả” và Bộ luật tố tụng hình sự còn dùng thêm thuật ngữ “hiệu lực”. Vấn đề đặt ra là hai thuật ngữ này có đồng nghĩa với nhau không? Theo từ điển luật học (Nhà xuất bản từ điển bách khoa 1999) thì hậu quả pháp luật là “sự áp dụng các dạng chế tài pháp luật đối với các trường hợp vi phạm pháp luật. Ví dụ: phạm tội hình sự sẽ bị các hình phạt về hình sự, vi phạm nghĩa vụ hợp đồng sẽ dẫn đến bị phạt bồi thường thiệt hại; mua bán trái pháp luật sẽ dẫn đến hợp đồng mua bán bị tuyên bố vô hiệu; kết hôn trái pháp luật dẫn đến hôn nhân không được pháp luật công nhận v.v…”.
Như vậy hậu quả có nguồn gốc từ nguyên nhân, là cái tất yếu xảy ra hay nói cách khác đó là mối quan hệ nhân quả. Khi thực hiện một hành vi nào đó, người ta có thể thấy trước, lường trước được hậu quả xảy ra nên để hạn chế hậu quả thì phải chủ động đề phòng, hạn chế đến mức thấp nhất phát sinh những nguyên nhân gây ra những hậu quả bất lợi.
Hiệu lực pháp luật là giá trị bắt buộc và thời điểm bắt buộc thi hành các quy định của một văn bản quy phạm pháp luật. Thời điểm thi hành và thời điểm chấm dứt thi hành văn bản quy phạm pháp luật có thể được quy định trong chính văn bản quy phạm pháp luật đó. Theo nguyên tắc chung thì văn bản quy phạm pháp luật chỉ có hiệu lực về sau (hiệu lực về thời gian), tuy nhiên cũng có những trường hợp văn bản quy phạm pháp luật quy định hiệu lực trở về trước nếu văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn.
Ví dụ: Điều 7 Bộ luật hình sự Hiệu lực của Bộ luật hình sự về thời gian.
“… 3. Điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm nhẹ hình phạt, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành”.
Như vậy, thuật ngữ “hậu quả” và “hiệu lực” không đồng nghĩa với nhau hay đó là hai khái niệm khác nhau. Do đó việc sử dụng thuật ngữ nào trong quy định về kháng cáo, kháng nghị là đúng và chính xác, cần được làm rõ.
Theo chúng tôi, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án là một văn bản pháp lý có giá trị bắt buộc thi hành. Thời điểm được thi hành chính là nội dung được quy định trong các Điều 254 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 240 Bộ luật tố tụng hình sự. Đó là: Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật hoặc những phần của bản án, quyết định của Tòa án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; Bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm; Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm. Ngoài ra còn có một số trường hợp bản án, quyết định được thi hành ngay mặc dù bản án, quyết định đó chưa có hiệu lực pháp luật (Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả công lao động, nhận người lao động trở lại làm việc, trả lương, trợ cấp mất việc làm, bảo hiểm xã hội hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất tinh thần của công dân; trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo đang bị tạm giam, nếu họ không bị tạm giam về một tội phạm khác khi: bị cáo không có tội; bị cáo được miễn trách nhiệm hình sự hoặc được miễn hình phạt; bị cáo bị xử phạt bằng các hình phạt không phải là hình phạt tù; bị cáo bị xử phạt tù, nhưng được hưởng án treo; thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời gian bị cáo đã bị tạm giam.
Vì vậy, việc sử dụng thuật ngữ “hiệu lực của bản án, quyết định” là chính xác hơn thuật ngữ “hậu quả của việc kháng cáo, kháng nghị”. Vì hậu quả của việc kháng cáo, kháng nghị có nguyên nhân từ bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án và việc có kháng cáo, kháng nghị có thể dẫn tới việc mở phiên tòa xét xử theo thủ tục phúc thẩm, nhưng cũng có thể không có phiên tòa này vì rút kháng cáo, kháng nghị, hoặc kháng cáo, kháng nghị quá thời hạn quy định của pháp luật, bị cáo, đương sự chết v.v…
Nhân đây, chúng tôi cũng nhận thấy rằng Điều 240 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 là một điều luật mới được bổ sung nhằm khắc phục thiếu sót của Điều 211 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 và thực chất là bổ sung làm rõ hơn Điều 211. Về mặt kỹ thuật lập pháp theo chúng tôi không cần thiết phải bổ sung thành một điều luật riêng mà chỉ cần bổ sung vào Điều 211 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 (kết cấu như Điều 254 Bộ luật tố tụng dân sự) là phù hợp.
Điều luật mới này khẳng định hiệu lực pháp luật của bản án quyết định sơ thẩm của Tòa án, có nghĩa là khi bản án, quyết định và những phần của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Thế nhưng, các quy định tại Điều 255 Bộ luật tố tụng hình sự “những bản án và quyết định được thi hành” lại giữ nguyên nội dung của Điều 226 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 tức là không có quy định những phần của bản án, quyết định sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật là đối tượng được thi hành án. Do đó, nếu chỉ căn cứ vào Điều 255 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì “những phần của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị” nhưng không được đưa ra thi hành vì điều luật này không quy định. Trong thực tiễn thi hành án hình sự, nhiều Tòa án chưa đưa ra thi hành những phần bản án, quyết định không có kháng cáo, kháng nghị (mặc dù theo Điều 240 Bộ luật tố tụng hình sự thì đã có hiệu lực pháp luật). Điều này có nguyên nhân từ việc quy định tại Điều 255 Bộ luật tố tụng hình sự chưa đầy đủ như đã nêu ở trên, nhưng cũng còn do tâm lý chờ kết quả xét xử, giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm vì theo quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật tố tụng hình sự thì “Nếu có căn cứ, Toà án cấp phúc thẩm có thể giảm hình phạt hoặc áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn, chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn; giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo cho cả những bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng nghị”.
Để khắc phục thiếu sót này, chúng tôi đề nghị bổ sung thêm vào Điều 255 Bộ luật tố tụng hình sự “Những bản án và quyết định của Tòa án được thi hành”.
1) Những bản án và quyết định của Tòa án được thi hành là những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, bao gồm:
a- Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
2- Về sử dụng thuật ngữ “thay đổi” và “thay thế” người tiến hành tố tụng:
Hai thuật ngữ này được sử dụng tại các Điều 47, 48, 49, 50, 51, 214 và 198 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 42, 43, 44, 45, 46, 47, 186 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 16, 17, 23, 44, 45 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính và được sử dụng trong một số văn bản quy phạm pháp luật khác. Theo cách hiểu thông thường thì thay đổi và thay thế cũng gần như đồng nghĩa với nhau nhưng dưới góc độ pháp lý thì suy cho cùng hai thuật ngữ này có những điểm không đồng nghĩa với nhau.
Theo từ điển Tiếng Việt năm 2006 của Viện ngôn ngữ học Việt Nam thì: Thay đổi là thay cái này bằng cái khác, đổi khác đi so với trước; thay thế là thay vào chỗ, vị trí của người nào đó không có hoặc không còn thích hợp nữa.
Trong các Điều từ 42 đến 47 Bộ luật tố tụng hình sự; từ Điều 47 đến 50 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 23 và 44 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính đều sử dụng thuật ngữ “thay đổi”. Trong các Điều 198 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 186 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 45 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính đều sử dụng thuật ngữ “thay thế”.
Ngoài ra trong các chương về người tham gia tố tụng của Bộ luật tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính cũng sử dụng thuật ngữ “thay đổi” người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng (người giám định, người phiên dịch), nhưng trong những trường hợp nào thì những người tham gia tố tụng này phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi, thay thế thì chưa được Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn.
Như vậy, hậu quả pháp lý của việc người tiến hành tố tụng bị thay đổi, phải thay đổi, thay thế không hoàn toàn giống nhau.
Đối với trường hợp thay thế thì người tiến hành tố tụng được phân công thay vào chỗ, vị trí của người tiến hành tố tụng đã bị thay đổi hoặc phải từ chối tham gia xét xử; thay thế khi họ là người tiến hành tố tụng dự khuyết… Những trường hợp này người tiến hành tố tụng đó không có lỗi, không làm phát sinh nguyên nhân nên họ không phải chịu hậu quả pháp lý nào.
Đối với trường hợp người tiến hành tố tụng bị thay đổi, phải thay đổi nếu có căn cứ theo quy định của pháp luật tố tụng thì nhìn chung họ đều có lỗi và tùy theo lỗi đó như thế nào, họ phải bị xử lý.
Theo hướng dẫn tại điểm 4 mục I Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 02-10-2004 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về quy định tại Điều 42 của Bộ luật tố tụng hình sự thì:
“a- Theo quy định tại khoản 1 Điều 42 của Bộ luật tố tụng hình sự thì người tiến hành tố tụng phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi, nếu họ là người thân thích của một trong những người sau đây trong vụ án hình sự mà họ được phân công xét xử:
- Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
- Bị can, bị cáo.
b- Người thân thích của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, bị can, bị cáo là người có quan hệ sau đây với một trong những người này:
- Là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi;
- Là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột;
- Là cụ nội, cụ ngoại của một trong những người trên đây; là bác ruột, chú ruột, cô ruột, cậu ruột, dì ruột; là cháu ruột mà họ bà bác ruột, chú ruột, cô ruột, cậu ruột, dì ruột.
c- Có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ là ngoài các trường hợp quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 42 Bộ luật tố tụng hình sự thì trong các trường hợp khác (như trong quan hệ tình cảm, quan hệ thông gia, quan hệ công tác, quan hệ kinh tế …) có căn cứ rõ ràng để có thể khẳng định là Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án không thể vô tư trong khi làm nhiệm vụ. Ví dụ: Hội thẩm, Thư ký Tòa án là anh em kết nghĩa của bị can, bị cáo; Thẩm phán là con rể của bị cáo; người bị hại là Thủ trưởng cơ quan, nơi vợ của Thẩm phán làm việc… mà có căn cứ rõ ràng chứng minh là trong cuộc sống giữa họ có mối quan hệ tình cảm thân thiết với nhau, có mối quan hệ về kinh tế…
Cũng được coi là có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ nếu trong cùng một phiên tòa xét xử vụ án hình sự, kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm và Thư ký Tòa án, là người thân thích với nhau”.
Như vậy, nếu người tiến hành tố tụng biết rõ mình là người thân thích của những người nêu trên hoặc biết rõ là mình có những mối quan hệ nêu tại tiểu mục c điểm 4 Mục I Nghị quyết 03/2004/NQ-HĐTP nêu trên mà không từ chối tiến hành tố tụng hoặc khi ra phiên tòa họ bị thay đổi tức là họ đã vi phạm quy định của pháp luật tố tụng và họ phải chịu một hình thức xử lý nào đó chứ không thể chỉ bị thay đổi mà thôi.
Trong một số trường hợp, người tiến hành tố tụng bị thay đổi, phải thay đổi vì có căn cứ rõ ràng để khẳng định là họ đã thực hiện hành vi nhận hối lộ, làm sai lệch hồ sơ vụ án, bị mua chuộc bởi một lợi ích nào đó (vụ lợi)… thì chắc chắn họ phải chịu hình thức xử lý bằng hành chính hoặc cao hơn là xử lý về hình sự.
Những vấn đề về hậu quả pháp lý đối với người tiến hành tố tụng bị thay đổi, phải thay đổi; người tham gia tố tụng (giám định viên, người phiên dịch) bị thay đổi, hoặc thay thế trong những trường hợp nào, đề nghị Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn cụ thể để áp dụng thống nhất trong công tác xét xử các loại vụ án cũng như thống nhất trong việc xử lý hoặc không xử lý đối với Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án khi bị thay đổi trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa.

Nguồn: Cổng thông tin điện tử TANDTC 
 

Phân biệt tạm giữ người theo thủ tục tố tụng hình sự và tạm giữ người theo thủ tục hành chính


Tạm giữ người theo thủ tục tố tụng hình sự là biện pháp ngăn chặn được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự, do người có thẩm quyền áp dụng đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn người bị bắt trốn tránh việc điều tra; để xác minh tội phạm và để quyết định việc truy cứu trách nhiệm hình sự (khởi tố bị can) đối với họ.
So với quy định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988, thì đối tượng có thể bị tạm giữ được quy định tại Điều 86 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 rộng hơn, bao gồm: Người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp; người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang; người phạm tội tự thú, đầu thú; người bị bắt theo quyết định truy nã.
Thẩm quyền ra lệnh tạm giữ quy định tại khoản 2 Điều 86 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003.
Thủ tục tạm giữ bao gồm: Quyết định tạm giữ; các công việc mà người thi hành quyết định tạm giữ phải thực hiện trước hoặc sau khi tạm giữ người. Quyết định của người có thẩm quyền phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người bị tạm giữ, lý do tạm giữ, ngày hết hạn tạm giữ và phải được giao cho người bị tạm giữ một bản. Người thi hành quyết định tạm giữ phải giải thích cho người bị tạm giữ các quyền và nghĩa vụ của họ. Quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ được quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng Hình sự gồm các quyền: Được biết lý do mình bị tạm giữ; được giải thích về quyền và nghĩa vụ; trình bày lời khai; tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa; đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu; khiếu nại về việc tạm giữ, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị tạm giữ có nghĩa vụ thực hiện các quy định về tạm giữ theo quy định của pháp luật. Quy định về tạm giữ được quy định tại Quy chế về tạm giữ, tạm giam ban hành kèm theo Nghị định số 89/1998/NĐ-CP ngày 7 năm 11 năm 1998, bao gồm: Quy định về việc quản lý nhà tạm giữ, người bị tạm giữ; Quy định về chế độ đối với người bị tạm giữ.
Để bảo đảm cho công tác kiểm sát giam giữ, tránh vi phạm quyền tự do, bất khả xâm phạm về thân thể của công dân, tại khoản 3 Điều 86 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 đã quy định: Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi ra quyết định tạm giữ, quyết định tạm giữ phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp. Nếu xét thấy việc tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ và người ra quyết định tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.
Khi ra quyết định tạm giữ, nếu người bị tạm giữ có con chưa thành niên dưới 14 tuổi và thân nhân là người tàn tật, già yếu không có người chăm sóc, thì cơ quan ra lệnh tạm giữ phải giao những người đó cho người thân thích hoặc cho chính quyền địa phương chăm sóc. Trong trường hợp người bị tạm giữ có nhà hoặc tài sản khác mà không có người trông nom, thì cơ quan ra lệnh tạm giữ phải áp dụng những biện pháp bảo quản thích đáng. Cơ quan ra lệnh tạm giữ phải thông báo cho người bị tạm giữ những biện pháp đã được áp dụng để chăm sóc con nhỏ, người thân già yếu, tàn tật và bảo quản nhà cửa, tài sản của người bị tạm giữ.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 87 Bộ luật Tố tụng Hình sự, thì thời hạn tạm giữ không được quá ba ngày đêm, kể từ khi Cơ quan điều tra nhận người bị bắt. Việc Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định thời hạn tạm giữ là số ngày cụ thể (không quá ba ngày đêm), theo chúng tôi là chưa chính xác vì không phải mọi trường hợp người bị bắt đều có thể được giải ngay đến Cơ quan điều tra. Ví dụ: Bắt người ở trên máy bay, ở đồn biên phòng trên biên giới, ở ngoài hải đảo.v.v. Vậy thời hạn tạm giữ theo lệnh của người chỉ huy đơn vị bộ đội độc lập cấp Trung đoàn và tương đương, người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới; người chỉ huy máy bay, tàu biển, khi máy bay, tàu biển đã rời sân bay, bến cảng là bao nhiêu? Thời hạn tạm giữ trong các trường hợp này chưa được luật quy định. Nên chăng, trong những trường hợp này thời hạn tạm giữ phải được tính bằng một cách đặc biệt nào đó cho phù hợp. Trong những trường hợp này, việc đặt cố định cho thời hạn tạm giữ là không hợp lý vì các hoàn cảnh đặc biệt của việc bắt giữ.
Việc gia hạn tạm giữ được quy định tại khoản 2 Điều 87 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Theo quy định trên, chỉ có thể gia hạn tạm giữ hai lần, thời hạn gia hạn không quá ba ngày. Tổng thời hạn có thể tạm giữ một người theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự không quá chín ngày, kể từ khi Cơ quan điều tra nhận người bị bắt. Thời hạn tạm giữ được trừ vào thời hạn tạm giam. Một ngày tạm giữ được tính bằng một ngày tạm giam. Không phải trường hợp nào cũng được gia hạn tạm giữ mà chỉ trong trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ một lần và trong trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ mới có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai. Luật không giải thích khái niệm thế nào là trường hợp cần thiết và trường hợp đặc biệt. Theo chúng tôi căn cứ để gia hạn tạm giữ có thể là: Sự cần thiết phải có thêm thời gian để xác minh căn cước, lai lịch của người bị tạm giữ; hành vi phạm tội nghiêm trọng, phức tạp; khi xét cần ngăn chặn ngay người có hành vi phạm tội trốn. Nếu không gia hạn tạm giữ, người đó sẽ trốn hoặc có hành động cản trở việc điều tra làm rõ sự việc.
Trong khi tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì phải trả tự do ngay cho người đã bị tạm giữ. Tức là việc tạm giữ không nhất thiết phải kéo dài cho đến ngày hết hạn tạm giữ mà có thể trả tự do cho người bị tạm giữ trước ngày hết hạn tạm giữ. Đây là một quy định mới so với quy định tại Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988 (khi hết thời hạn tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì phải trả tự do ngay cho người đã bị tạm giữ). Việc thay đổi này xuất phát từ các lý do: Nhà nước đã chú ý hơn đến việc bảo vệ quyền bất khả xâm phạm thân thể của công dân; quy định chặt chẽ hơn việc tạm giữ người; hạn chế việc phải bồi thường thiệt hại cho người bị bắt oan.
Thời hạn tạm giữ đối với người phạm tội được áp dụng thủ tục rút gọn được quy định tại khoản 2 Điều 322 Bộ luật Tố tụng Hình sự là không được quá ba ngày, kể từ ngày Cơ quan điều tra nhận người bị bắt. Những vụ án được áp dụng theo thủ tục rút gọn là những vụ án do Viện kiểm sát quyết định áp dụng thủ tục rút gọn theo đề nghị của Cơ quan điều tra khi có đủ các điều kiện sau đây: Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang; sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng; tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng và người phạm tội có lai lịch rõ ràng.
2. Tạm giữ người theo thủ tục hành chính là một trong những biện pháp ngăn chặn hành chính và bảo đảm cho việc xử lý vi phạm hành chính do người có thẩm quyền theo quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính áp dụng trong trường hợp cần ngăn chặn, đình chỉ ngay những hành vi gây rối trật tự công cộng, gây thương tích cho người khác hoặc cần thu thập, xác minh những tình tiết quan trọng làm căn cứ để quyết định xử lý vi phạm hành chính.
Theo quy định tại Điều 44 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, thì: Mọi trường hợp tạm giữ người đều phải có quyết định bằng văn bản và phải giao cho người bị tạm giữ một bản. Thời hạn tạm giữ người theo thủ tục hành chính không được quá 12 giờ, kể từ thời điểm bắt đầu giữ người vi phạm; trong trường hợp cần thiết, thời hạn tạm giữ có thể kéo dài hơn nhưng không được quá 24 giờ. Đối với người vi phạm quy chế biên giới hoặc vi phạm hành chính ở vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh, hải đảo thì thời hạn tạm giữ có thể kéo dài hơn nhưng không được quá 48 giờ, kể từ thời điểm bắt đầu giữ người vi phạm.
Theo yêu cầu của người bị tạm giữ, người ra quyết định tạm giữ phải thông báo cho gia đình, tổ chức nơi làm việc hoặc học tập của họ biết. Trong trường hợp tạm giữ người chưa thành niên vi phạm hành chính vào ban đêm hoặc giữ trên 6 giờ, thì người ra quyết định tạm giữ phải thông báo ngay cho cha mẹ hoặc người giám hộ của họ biết. Nghiêm cấm việc giữ người vi phạm hành chính trong các phòng tạm giữ, phòng tạm giam hình sự hoặc những nơi không bảo đảm vệ sinh, an toàn cho người bị tạm giữ.
Những người có quyền quyết định tạm giữ người theo thủ tục hành chính chỉ bao gồm người đứng đầu của các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp những người nêu trên vắng mặt thì cấp Phó được uỷ quyền có quyền quyết định tạm giữ người theo thủ tục hành chính và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
Như vậy, so với tạm giữ người theo thủ tục hành chính thì tạm giữ người theo thủ tục tố tụng hình sự có một số điểm khác nhau sau đây:
Một là, đối tượng có thể bị tạm giữ theo thủ tục tố tụng hình sự là những ngườithực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự. Còn đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giữ theo thủ tục hành chính là những người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hành chính.
Hai là, mục đích áp dụng biện pháp ngăn chặn nói chung theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự là: Để kịp thời ngăn chặn tội phạm và để bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Mục đích áp dụng biện pháp tạm giữ (theo thủ tục tố tụng hình sự) nói riêng là để xác định căn cứ khởi tố bị can đối với người bị bắt hoặc giao người bị truy nã cho cơ quan đã ra lệnh truy nã. Còn mục đích tạm giữ người theo thủ tục hành chính là ngăn chặn, đình chỉ ngay những hành vi gây rối trật tự công cộng, gây thương tích cho người khác hoặc để thu thập, xác minh những tình tiết quan trọng làm căn cứ để quyết định xử lý vi phạm hành chính.
Ba là, những người sau đây có quyền ra lệnh tạm giữ theo thủ tục tố tụng hình sự: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp Trung đoàn và tương đương; Người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới; Người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng; Chỉ huy trưởng vùng Cảnh sát biển. Ngoài Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp huyện, người chỉ huy tàu bay, tàu biển, thì còn rất nhiều người có thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính. Như vậy, thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục tố tụng hình sự hạn chế hơn thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính.
Bốn là, về thủ tục thì cả tạm giữ người theo thủ tục tố tụng hình sự và tạm giữngười theo thủ tục hành chính đều phải có quyết định tạm giữ của người có thẩm quyền. Nhưng sau khi ra quyết định tạm giữ theo thủ tục tố tụng hình sự, thì người có thẩm quyền phải gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi ra quyết định tạm giữ. Viện kiểm sát có quyền xem xét và nếu xét thấy việc tạm giữ không có căn cứ, thì huỷ bỏ quyết định tạm giữ; khi đó người ra quyết định tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ. Còn quyết định tạm giữ người theo thủ tục hành chính không phải gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp.
Người bị tạm giữ theo thủ tục tố tụng hình sự bị tạm giữ ở nhà tạm giữ, hoặc buồng tạm giữ của trại tạm giam. Còn người bị tạm giữ theo thủ tục hành chính không bị giữ ở nhà tạm giữ, hoặc buồng tạm giữ của trại tạm giam.
Năm là, thời hạn tạm giữ theo thủ tục tố tụng hình sự là ba ngày và có thể gia hạnhai lần mỗi lần không quá ba ngày. Còn thời hạn tạm giữ theo thủ tục hành chính là 12 giờ và có thể kéo dài đến 24 giờ; đối với người vi phạm quy chế biên giới hoặc vi phạm hành chính ở vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh, hải đảo thì thời hạn tạm giữ có thể kéo dài hơn nhưng không được quá 48 giờ, kể từ thời điểm bắt đầu giữ người vi phạm.
Việc gia hạn tạm giữ theo thủ tục hành chính không cần phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát cùng cấp trước khi thi hành. Còn việc kéo dài thời tạm giữ theo thủ tục hành chính không cần có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát cùng cấp trước khi thi hành.
Thời hạn tạm giữ theo thủ tục tố tụng hình sự được trừ vào thời hạn tạm giam, cứ một ngày tạm giữ được tính bằng một ngày tạm giam. Nếu sau đó người đã bị tạm giữ bị kết án và phạt tù có thời hạn, thì thời hạn tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng một ngày tù (Điều 33 Bộ luật Hình sự). Còn thời hạn tạm giữ theo thủ tục hành chính không được trừ vào thời hạn tạm giam và do vậy cũng không được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt. Nhưng hiện nay, trong thực tiễn xét xử vẫn còn một số trường hợp Toà án trừ thời hạn tạm giữ theo thủ tục hành chính vào thời hạn chấp hành hình phạt. Cho nên, khi tính toán và trừ thời hạn tạm giữ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù cần chú ý một số trường hợp sau:
Thứ nhất, trường hợp công dân bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nãvà giải ngay đến Uỷ ban nhân dân. Uỷ ban nhân dân tiến hành việc giữ người bị bắt, lập biên bản nhận người và giải người bị bắt đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Công việc này chiếm một thời hạn nhất định nhưng không được tính thời hạn này là thời hạn tạm giữ theo thủ tục tố tụng hình sự bởi vì việc tạm giữ ở đây là tạm giữ người theo thủ tục hành chính.
Thứ hai, trường hợp người phạm tội tự thú, đầu thú tại Uỷ ban nhân dân. Uỷ bannhân dân cũng tiến hành việc giữ người bị bắt, lập biên bản nhận người và giải người bị bắt đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Và công việc này cũng chiếm một thời hạn nhất định nhưng không được tính thời hạn này vào thời hạn tạm giữ theo thủ tục tố tụng hình sự bởi vì việc tạm giữ ở đây là tạm giữ người theo thủ tục hành chính.
Thứ ba, theo quy định của Bộ luật Hình sự, thì “đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm” là dấu hiệu thuộc mặt khách quan của một số tội phạm như: Tội buôn lậu (điểm a và c khoản 1 Điều 153); tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (điểm a và c khoản 1 Điều 154); tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm (khoản 1 Điều 155); tội sản xuất, buôn bán hàng giả (khoản 1 Điều 156); tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi (khoản 1 Điều 158); tội kinh doanh trái phép (khoản 1 Điều 159)… Cho nên, sẽ xảy ra một số trường hợp người thực hiện hành vi vi phạm hành chính bị tạm giữ, sau đó Cơ quan ra lệnh tạm giữ người xét thấy hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm và chuyển hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền theo quy định tại Điều 62 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính. Sau khi thụ lý vụ án cơ quan tiến hành tố tụng đã ra lệnh tạm giam thì thời hạn tạm giữ theo thủ tục hành chính cũng không được trừ vào thời hạn tạm giam.
Trong các trường hợp nêu trên, nếu người đã bị tạm giữ theo thủ tục hành chính bị kết án và bị phạt tù, thì không được trừ thời hạn tạm giữ theo thủ tục hành chính vào thời hạn chấp hành hình phạt tù./.

 Nguồn: Tạp chí Kiểm sát