Thứ Năm, 28 tháng 4, 2011

Tiền lương của công nhân trong các doanh nghiệp tư nhân

Tính đến năm 2008, tổng số lao động cả nước đang làm việc trong các loại hình doanh nghiệp là khoảng 8,3 triệu người, trong đó, lao động thuộc các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) chiếm 20%, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (DNFDI) 24,4%, doanh nghiệp ngoài nhà nước (chủ yếu là doanh nghiệp tư nhân - DNTN) 56,6%.
 
Thu nhập bình quân/tháng của người lao động trong các loại hình doanh nghiệp như sau:
 
Trong tổng thu nhập hàng tháng của người lao động thì khoảng 90% là từ tiền lương (ví dụ năm 2006, DNNN là 90,50%; DN FDI là 90,64% và DNTN là 90,12%)1.
 
Từ các số liệu đã dẫn trên cho thấy, tiền lương và thu nhập của lao động trong các loại hình doanh nghiệp rất thấp, trong các DNTN còn thấp hơn mà các DNTN lại chiếm tuyệt đại bộ phận việc làm trong các loại hình doanh nghiệp. Chúng tôi sẽ đề cập tới một vài nguyên nhân của tình hình dưới.
 
1, Trước hết phải nói rằng, việc làm, tiền lương, thu nhập và nhiều vấn đề khác hiện nay cơ bản vẫn do người sử dụng lao động quyết định, trong khi Điều 55 Bộ luật Lao động (BLLĐ) hiện hành quy định: tiền lương của người lao động do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc.
 
Tại sao BLLĐ quy định như vậy mà trên thực tế lại do người sử dụng lao động quyết định về cơ bản? Số liệu điều tra của Bộ Lao động - Thương binh và xã hội năm 2008 cho thấy, trong các DNTN vẫn còn tới 52% số doanh nghiệp chưa có tổ chức công đoàn, trong khi DNFDI chỉ còn 19,5%, DNNN chỉ còn 2,6%. Đã thế, vai trò của nhiều tổ chức công đoàn lại rất kém, chỉ có 21,2% số tổ chức công đoàn trong các DNTN là hoạt động có hiệu quả (trong khi các DNFDI là 24,7% và DNNN là 65,2%). Những nơi chưa có tổ chức công đoàn thì không thể nào đàm phán, thương lượng được với giới chủ (người sử dụng lao động) để ký thỏa ước lao động tập thể (thỏa ước lao động tập thể bao gồm những nội dung hết sức quan trọng đối với từng người lao động cũng như cả tập thể lao động của doanh nghiệp mà khoản 2 Điều 46 BLLĐ đã quy định, đó là: việc làm và bảo đảm việc làm; thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp tiền lương; định mức lao động; an toàn lao động, vệ sinh lao động và bảo hiểm xã hội đối với người lao động). Thỏa ước lao động tập thể là căn cứ chủ yếu để từng người lao động ký hợp đồng lao động cá nhân với người sử dụng lao động. Những nơi chưa có tổ chức công đoàn thì giới chủ áp đặt, quyết định tất cả. Những nơi có tổ chức công đoàn nhưng hoạt động kém hiệu quả, thì dù có đàm phán, thương lượng... cũng không thể nào đem lại đầy đủ quyền lợi cho người lao động mà luật pháp đã quy định.
 
Tiền lương, thu nhập của người lao động ở các DNTN còn thấp hơn nhiều so với người lao động trong các DNNN và DNFDI (năm 2000 chỉ bằng 68,7% so với DNNN và bằng 41,7% so với DNFDI; năm 2008 tương ứng bằng 63,2% và 72,5%), dẫn đến đời sống của họ rất khó khăn, chật vật.
 
2, Định mức lao động trong các DNTN quá cao. Có một thiếu sót ở tầm vĩ mô là, từ khi nền kinh tế được vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước và nhất là từ khi chuyển hẳn sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì việc quản lý nhà nước về định mức lao động hầu như không thực hiện được (không xây dựng và công bố được các định mức mẫu, không hướng dẫn, không kiểm tra được công tác định mức lao động ở cơ sở...).
 
Ngược lại, do phải hạch toán chính xác để biết được thực chất lỗ - lãi, các doanh nghiệp lại xiết chặt công tác định mức, trong đó có định mức lao động. Không ít các doanh nghiệp có hai loại định mức lao động. Loại định mức theo đúng nghĩa “... là sự quy định hao phí lao động cần thiết để hoàn thành một công việc nào đó trong những điều kiện nhất định về tổ chức - kỹ thuật, về sinh lý và về kinh tế - xã hội”; loại định mức lao động đúng đắn này sẽ giúp doanh nghiệp hạch toán giá thành một cách chính xác, biết rõ thực chất các khoản lỗ - lãi, nó được doanh nghiệp giữ bí mật (chỉ lãnh đạo và người làm công tác định mức lao động được biết). Loại định mức lao động cao hơn định mức đúng nghĩa (bình thường) từ 1,2 đến 1,5 lần và cao hơn nữa là công cụ để giới chủ khai thác triệt để sức lao động của công nhân. Định mức này được công bố cho toàn thể công nhân thực hiện. Vì phải thực hiện định mức lao động quá cao nên công nhân khó có thể hoàn thành được khối lượng công việc trong ca làm việc, buộc phải làm thêm giờ. Ở một số doanh nghiệp, nhiều công nhân đã làm tới 12 giờ, thậm chí 14 giờ/ngày mà vẫn không hoàn thành định mức lao động. Một số chủ doanh nghiệp tuyên bố dõng dạc rằng, công nhân tự kéo dài thời gian làm việc trong ngày để tăng thu nhập chứ chúng tôi không yêu cầu họ làm thêm giờ! Ở những doanh nghiệp này cũng thường xuyên thay đổi một số lượng khá lớn người lao động do nhiều lý do, trong đó có lý do người lao động không hoàn thành nhiệm vụ, mà thực chất là chủ sử dụng đã khai thác cạn kiệt sức lao động của họ; còn công nhân thì thường xuyên thu nhập thấp, không đủ để tái sản xuất sức lao động giản đơn (chưa nói đến tái sản xuất sức lao động kỹ thuật và tái sản xuất sức lao động thế hệ sau) nên cũng không mặn mà với doanh nghiệp. Đây cũng là một trong những nguyên nhân cơ bản của sự di chuyển, biến động lao động với cường độ mạnh trong thời gian qua và hiện nay.
 
3, Việc xây dựng và thực hiện chính sách tiền lương tối thiểu còn nhiều khiếm khuyết. Nhìn lại quá trình xây dựng và thực hiện mức lương tối thiểu trong 20 năm qua cho thấy, bên cạnh những thành quả đã đạt được thì còn những khiếm khuyết, tồn tại rất đáng lưu tâm, trong đó khiếm khuyết đáng lưu ý nhất là, trong nhiều phương pháp tiếp cận mức lương tối thiểu, Nhà nước chỉ căn cứ chủ yếu vào khả năng ngân sách để quyết định, ít chú ý đến việc bảo đảm nhu cầu tối thiểu của người lao động có nuôi con (trong khi tiền lương của doanh nghiệp là do chính doanh nghiệp tạo ra, không phải lấy từ ngân sách nhà nước). Từ đó, mức lương tối thiểu được công bố để thực hiện luôn luôn thấp hơn thực tế nhu cầu tối thiểu khoảng 30%. Theo tính toán của Viện Khoa học lao động và xã hội (Bộ Lao động - Thương binh và xã hội) thì mức lương tối thiểu bảo đảm chi phí cho nhu cầu tối thiểu của người lao động có nuôi con như quy định tại Điều 56 BLLĐ thì năm 2006 phải là 679.000 đồng; năm 2008 là 792.000 đồng; năm 2010 là 924.000 đồng2. Trong khi đó, thực tế mức lương tối thiểu chung đã được công bố và thực hiện là: năm 2006 chỉ 450.000 đồng, bằng 66,27%; năm 2008 tăng lên 540.000 đồng, bằng 68,18%; năm 2010 tăng lên 730.000 đồng, bằng 79,00% so với mức lương tối thiểu bảo đảm chi phí cho nhu cầu tối thiểu của người lao động có nuôi con.
 
Chúng ta biết rằng, mức lương tối thiểu chung theo quy định tại Điều 56 BLLĐ là căn cứ để tính các mức lương cho các loại lao động khác. Do đó, mức lương tối thiểu của các doanh nghiệp, trong đó có DNTN không thể thoát ly mức lương tối thiểu chung đã được công bố.
 
Ngoài khiếm khuyết quy định và công bố mức lương tối thiểu luôn luôn thấp hơn nhu cầu tối thiểu của người lao động khoảng 30%, thì một khiếm khuyết khác là thời điểm công bố thực hiện thường muộn hơn thời điểm tính toán khoảng ba năm. Ví dụ, mức lương tối thiểu năm 2010 đang được thực hiện là 730.000 đồng thì năm 2007, con số này lẽ ra đã phải là 733.000 đồng. Trong ba năm đó, giá cả lại đã trượt lên mỗi năm khoảng 7-8%. Như vậy trên thực tế, mức lương tối thiểu khi công bố để thực hiện chỉ còn bằng 50-60% so với thực tế3.
 
Các doanh nghiệp nói chung, DNTN nói riêng luôn chỉ công bố và thực hiện mức lương tối thiểu “nhỉnh hơn” mức lương tối thiểu được Nhà nước công bố một chút để khỏi vi phạm Điều 55 BLLĐ: “Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định”.                       
 
4, Hướng khắc phục các khiếm khuyết: Ba nguyên nhân của tình trạng tiền lương và thu nhập của công nhân trong các doanh nghiệp quá thấp, ảnh hưởng lớn đến đời sống vật chất và tinh thần của họ đều là những nguyên nhân chủ quan xuất phát từ con người, trong đó phần trách nhiệm của Nhà nước là không nhỏ, cần sớm được khắc phục.
 
Trước hết, trong doanh nghiệp nhất thiết phải có tổ chức đại diện cho người lao động. Muốn vậy, song song với việc thành lập doanh nghiệp chúng ta phải thành lập công đoàn doanh nghiệp. Đưa việc có tổ chức công đoàn ngay từ khi thành lập doanh nghiệp thành một điều kiện để thành lập doanh nghiệp là rất cần thiết. Đây là điều kiện bắt buộc, tránh tình trạng cho thành lập doanh nghiệp rồi sau đó dây dưa có công đoàn cũng được, không cũng không sao, còn cơ quan chức năng thì chạy theo kiểm tra, đôn đốc như “đuổi bóng bắt hình” mà không sao “bắt” được. Và đến lúc này, cũng rất cần chuẩn hóa lại các điều kiện thành lập doanh nghiệp để giảm bớt tình trạng “doanh nghiệp ma” do các quy định quá dễ dàng, thông thoáng trong việc thành lập, trong đó có việc “tổ chức công đoàn sẽ được tính sau”. Việc sửa đổi, bổ sung BLLĐ và Luật Công đoàn sắp tới cũng cần thể hiện theo hướng bắt buộc phải có tổ chức công đoàn từ khi thành lập doanh nghiệp, kiên quyết xóa bỏ tình trạng có đủ điều kiện nhưng vẫn trốn tránh việc thành lập tổ chức công đoàn.
 
Hai là, phải tăng cường quản lý nhà nước về công tác định mức lao động. Cơ quan quản lý nhà nước về lao động phải nghiên cứu tổng kết tình hình định mức lao động từ khi thực thi nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đến nay; nghiên cứu đưa ra các định mức mẫu, hướng dẫn việc xây dựng định mức lao động ở cơ sở và thanh tra, kiểm tra nghiêm ngặt việc thực hiện. Công đoàn doanh nghiệp phải đàm phán quyết liệt, dân chủ, bình đẳng với chủ sử dụng lao động trong việc quyết định các định mức lao động cụ thể của doanh nghiệp theo tinh thần Điều 46 BLLĐ; khi các điều kiện thực hiện định mức lao động đã thay đổi nhiều thì phải kịp thời đưa ra yêu cầu đàm phán, thương lượng để điều chỉnh lại cho phù hợp với tình hình mới.
 
Ba là, Chính phủ xây dựng và công bố mức lương tối thiểu phải đúng với nhu cầu thực tế cuộc sống ở thời điểm công bố, “mức lương tối thiểu được ấn định theo giá sinh hoạt, bảo đảm cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp sức lao động giản đơn và một phần tích lũy tái sản xuất sức lao động mở rộng...” (Điều 56 BLLĐ). Cũng cần phải nói thêm rằng, khiếm khuyết thứ ba nói trên là khiếm khuyết lớn, có phần nặng nề vì nó ảnh hưởng đến đời sống của toàn bộ lao động hưởng lương chứ không riêng gì lao động trong các doanh nghiệp. Nếu xây dựng và công bố mức lương tối thiểu đúng với nhu cầu thực tế ở thời điểm công bố sẽ là một bước khắc phục vô cùng hiệu quả, khơi dậy một cách mãnh liệt tinh thần lao động của tất cả những người đang làm việc ở mọi lĩnh vực (không riêng gì trong doanh nghiệp). Đây cũng là thái độ nghiêm túc nhất trong việc thi hành pháp luật lao động.
 
 
(1) Nguồn: Báo cáo tổng hợp đề tài khoa học độc lập cấp nhà nước mã số ĐT Đl 2007. G/50 của Bộ Lao động - Thương binh và xã hội, bảo vệ năm 2009, kết quả xuất sắc; xem các trang 75- 96.
 
(2) Nguồn: Chính sách tiền lương tối thiểu ở Việt Nam; Nxb Lao động - xã hội, H. 2007, tr 53.              
 
(3) Tlđd.
Nguồn: Tạp chí nghiên cứu lập pháp điện tử

Có nên áp đặt chỉ tiêu trong chiến lược phát triển nghề luật sư

Có thể nói, cho đến nay đội ngũ luật sư đã phát triển và có vị thế nhất định trong đời sống xã hội. Việc phát triển đội ngũ luật sư để đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế là rất cần thiết và phải có định hướng để phát triển. Tuy nhiên, dự thảo Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020 dường như lại không đáp ứng được kỳ vọng ấy.
Mới dừng ở số liệu
Dự thảo đưa ra khá nhiều chỉ tiêu như phát triển số lượng luật sư mỗi năm được từ 800 – 1.000 luật sư, tại các địa phương có khó khăn về kinh tế - xã hội được từ 20 – 30 luật sư để đến năm 2020, tỷ lệ luật sư trên số dân là 1/4.500; phát triển đủ số lượng luật sư đáp ứng tham gia 100% số lượng vụ án hình sự theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng tại các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; chú trọng đến việc đào tạo 1.000 luật sư phục vụ yêu cầu hội  nhập kinh tế quốc tế…
Dự thảo chiến lược cũng đặt ra mục tiêu phát triển các tổ chức hành nghề luật sư hoạt động chuyên sâu trong các lĩnh vực pháp luật. Trong đó, có việc phát triển một số tổ chức hành nghề luật sư quy mô lớn từ 50 - 100 luật sư và từ 100 luật sư trở lên, hoạt động chuyên sâu trong lĩnh vực thương mại quốc tế, có khả năng cạnh tranh với các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài. Ngoài ra là “hình thành một số tập đoàn công ty luật lớn của Việt Nam, từng bước nội địa hóa các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam”.
Theo Trưởng ban Pháp chế VCCI - LS Trần Hữu Huỳnh, Chiến lược này mới chỉ dừng lại ở số liệu, phân định vùng miền trong khi đáng lẽ phải phục vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền, tạo môi trường hoạt động thuận lợi cho luật sư. Còn trong cuộc họp cho ý kiến mới đây, các thành viên Hội đồng khoa học Bộ Tư pháp nhìn nhận rằng, nhiều chỉ tiêu trên đây mang tính áp đặt và rất xa rời thực tế.
Phải được coi là “bạn đồng hành” của Nhà nước
Nhiều ý kiến cho rằng, để tạo điều kiện cho nghề luật sư thì Chiến lược phải đưa ra được các giải pháp có tính trọng tâm như xây dựng môi trường pháp lý tốt, có chính sách hỗ trợ phát triển nghề luật sư, sớm hoàn thiện cơ chế pháp lý trong các hoạt động hành nghề của luật sư như tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật. Cũng có ý kiến đề nghị bổ sung giải pháp về triển khai cải cách tư pháp bởi lẽ cải cách tư pháp triệt để thì mới tạo môi trường thúc đẩy dịch vụ luật sư phát triển.
Thứ trưởng thường trực Bộ Tư pháp Hoàng Thế Liên khẳng định, xây dựng Chiến lược là nhằm tạo cơ chế và môi trường cho nghề luật sư phát triển chứ Nhà nước không áp đặt phải phát triển được bao nhiêu luật sư, bao nhiêu tổ chức hành nghề luật sư. “Vì vậy, muốn nghề luật sư phát triển cần phải làm 3 việc cụ thể là tác động vào cơ chế thực thi pháp luật, làm thay đổi nhận thức của xã hội về nghề luật sư và nâng cao tính chuyên nghiệp trong hoạt động của đội ngũ luật sư”, Thứ trưởng Hoàng Thế Liên đúc kết.
Tuy nhiên, ông Huỳnh lại có suy nghĩ khác. Theo ông, trước khi đưa ra các giải pháp, cần xác định Nhà nước phải coi luật sư là “bạn đồng hành” của mình và là đối tượng phục vụ. Có như vậy, luật sư mới có cơ hội tham gia sâu hơn vào xây dựng pháp luật về kinh doanh, thương mại và rà soát các văn bản pháp luật có liên quan đến luật sư, hành nghề luật sư để kiến nghị sửa đổi.
Nguồn: Báo pháp luật Việt nam điện tử

Không nên quy định thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự

Được sự hỗ trợ của Dự án JICA, Bộ Tư pháp hôm qua tổ chức tọa đàm “Một số định hướng trong sửa đổi cơ bản Bộ luật Dân sự năm 2005”.

Liên quan đến vấn đề thời hiệu khởi kiện trong Bộ luật Dân sự, qua thảo luận, có hai ý kiến khác nhau. Loại ý kiến thứ nhất cho rằng, nên tiếp tục quy định thời hiệu khởi kiện với ý nghĩa là thời hiệu thụ lý của Tòa án để tránh khởi kiện tràn lan, gây khó khăn cho công tác giải quyết tranh chấp của Tòa án và nâng cao trách nhiệm của các chủ thể luật tư.
Ngược lại, loại thứ hai phân tích, với quan điểm “Tòa án không có quyền từ chối thụ lý giải quyết các yêu cầu của chủ thể luật tư” thì việc quy định thời hiệu khởi kiện vi phạm nguyên tắc này. Theo thông lệ quốc tế, Tòa án phải thụ lý vụ việc dân sự khi có yêu cầu, nhưng căn cứ vào thời hiệu hưởng quyền và thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự để bác yêu cầu của chủ thể khởi kiện, công nhận quyền hoặc miễn trừ nghĩa vụ cho chủ thể trong quan hệ có tranh chấp.
Theo chuyên gia của Dự án JICA, Bộ luật Dân sự cũng Nhật Bản không quy định thời hiệu khởi kiện mà chỉ quy định thời hiệu hưởng quyền và thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự.
Hiện nay, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 đã được Quốc hội Việt Nam thông qua, trong đó thời hiệu khởi kiện với ý nghĩa là thời hiệu thụ lý của Tòa án vẫn tiếp tục được thừa nhận. Tuy nhiên có sự thay đổi so với Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 là Luật sửa đổi, bổ sung đã loại bỏ quy định cho phép Tòa án trả lại đơn khởi kiện vì lý do hết thời hiệu. Trong quá trình giải quyết vụ việc nếu phát hiện thấy thời hiệu khởi kiện đã hết, Tòa án có quyền đình chỉ giải quyết vụ việc.
Trưởng phòng Pháp luật dân sự (Vụ Pháp luật Dân sự Kinh tế) Nguyễn Hồng Hải cho biết, đề xuất của Vụ là không quy định về thời hiệu khởi kiện với ý nghĩa là thời hiệu thụ lý của Tòa án mà nên thay thế nó bằng thời hiệu hưởng quyền và thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự theo thông lệ quốc tế.
Nhưng theo ông Hải, việc sửa đổi, bổ sung các quy định về thời hiệu trong Bộ luật Dân sự cần làm rõ những vấn đề như bản chất của việc quy định thời hiệu; mối quan hệ giữa thời hiệu hưởng quyền, thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự và thời hiệu khởi kiện; cần ghi nhận những loại thời hiệu nào trong Bộ luật Dân sự.
Nguồn: Báo pháp luật Việt Nam điện tử

Thứ Ba, 19 tháng 4, 2011

XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH THÀNH VIÊN CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN: GÓC NHÌN TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN

Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là loại hình doanh nghiệp rất phổ biến ở nước ta và nhiều nước trên thế giới. Số lượng công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên được thành lập ngày càng tăng cao trong các năm qua ở Việt Nam.
Công ty TNHH (trách nhiệm hữu hạn) hai thành viên trở lên được hiểu là một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, có số lượng thành viên bị giới hạn ở mức tối thiểu là 02 và tối đa là 50. Thành viên công ty có thể là cá nhân, pháp nhân tham gia góp vốn vào công ty. Các thành viên chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp. Các thành viên bị hạn chế trong việc định đoạt phần vốn góp của mình. Công ty không được phát hành cổ phần
Một câu hỏi đặt ra nhưng chưa thể tìm được câu trả lời thuyết phục từ quy định của pháp luật hiện hành đó là : tư cách thành viên công ty phát sinh khi nào? Việc xác định thời điểm phát sinh tư cách thành viên công ty có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định thời điểm hưởng các quyền lợi cũng như gánh vác các nghĩa vụ của thành viên. Và trong một số trường hợp, việc xác định thời điểm phát sinh tư cách thành viên (mới) của công ty gắn liền với việc xác định thời điểm chấm dứt tư cách thành viên (cũ) là căn cứ cho việc phân định việc hưởng quyền và gánh vác nghĩa vụ liên quan đến phần vốn góp trong công ty cũng như việc phân định thẩm quyền xét xử, giải quyết các tranh chấp liên quan khi có tranh chấp xảy ra. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin đề cập một số trường hợp xác định tư cách thành viên của công ty TNHH hai thành viên trở lên qua thực tiễn xét xử của Tòa án.
Thứ nhất, trường hợp khi các thành viên thỏa thuận góp vốn để thành lập công ty thì đã phát sinh tư cách thành viên hay chưa?
Để trả lời cho câu hỏi này, chúng tôi xin nêu một vụ việc cụ thể đã được Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết bằng Bản án kinh doanh thương mại số 1851/2008/KDTMST ngày 14/11/2008, vụ việc được tóm tắt như sau: tháng 4 năm 2006, bà Nguyễn Thị Lan, ông Tạ Hùng Quốc Việt, ông Nguyễn Tấn Lộc, ông Nguyễn Phú Tài và bà Đặng Thị Phương Anh cùng nhau bàn bạc và thống nhất là thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Đắc Phúc (viết tắt là công ty Đắc Phúc), dự kiến giao cho ông Lộc làm giám đốc và đại diện theo pháp luật của công ty. Các thành viên cũng thống nhất dự kiến bà Lan sẽ làm chủ tịch hội đồng thành viên, ông Trần Công Minh (do bà Lan giới thiệu) làm thủ quỹ. Để các cổ đông yên tâm góp vốn và thể hiện sự công bằng, các thành viên giao cho ông Tài mở và đứng tên tài khoản, việc rút tiền từ ngân hàng phải có chữ ký của cả ông Tài và ông Minh. Các cổ đông phải nộp một phần tiền trước ngày 10/4/2006 để trang trải cho việc thành lập công ty. Ông Lộc chịu trách nhiệm soạn thảo điều lệ công ty để các thành viên thông qua và đăng ký với sở kế hoạch và đầu tư qua mạng Internet. Ngày 07/4/2006, các thành viên gồm ông Lộc, ông Tài và bà Anh, có cả ông Minh, ông Việt cùng đến Vietcombank – chi nhánh Bình Tây mở tài khoản cho ông Tài đứng tên. Việc nộp tiền được thực hiện như sau : ông Nguyễn Phú Tài nộp 191.000.000đ; bà Đặng Thị Phương Anh nộp 250.000.000đ ; ông Nguyễn Tấn Lộc nộp 250.000.000đ. Sau khi nộp hồ sơ và được cấp biên nhận, Sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hồ Chí Minh phát hiện số CMND mang tên Nguyễn Thị Lan không trùng khớp với số CMND ghi trong sổ hộ khẩu nên yêu cầu bà Lan điều chỉnh hoặc có xác nhận hợp lệ bổ sung hồ sơ thành lập công ty nhưng bà Lan không đáp ứng yêu cầu này. Việc rút tiền từ tài khoản ngân hàng do ông Tài đứng tên để chi tiêu được ông Minh cập nhật vào cuốn sổ riêng do ông Minh giữ và có chữ ký duyệt  của ông Lộc (dự kiến là Giám đốc) trong các khoản tiền rút từ ngân hàng hay chi cho việc thành lập công ty theo thỏa thuận của các thành viên góp vốn. Đến tháng 5/2006, ông Mai Thanh Bình được tuyển làm kế toán trưởng đã thống kê lại chi thu quỹ tiền mặt trong tháng 4/2006, ông Lộc thấy các khoản chi tiêu không rõ từ phía bà Lan, ông Minh nên nhiều lần nhắc nhở kiểm quỹ, quyết toán đối chiếu nhưng hai người không làm. Đến ngày 25/5/2006, bà Lan tuyên bố không thành lập công ty Đắc Phúc và chỉ đạo di dời, tẩu tán tài sản cũng như trả nhà thuê, trốn tránh việc trả lại vốn góp cho các thành viên.

Nguyên đơn ông Nguyễn Tấn Lộc yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Lan (người dự kiến là chủ tịch Hội đồng thành viên công ty Đắc Phúc) và ông Trần Công Minh phải hoàn trả số tiền góp vốn là 220.000.000đ (đã trừ chi phí thành lập công ty 30.000.000đ), vì ngay từ lúc thỏa thuận góp vốn, bà Lan đã xác định chịu trách nhiệm về thủ quỹ mà mình giới thiệu.
            Quyết định của bản án : Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn (ông Nguyễn Tấn Lộc) buộc ông Trần Công Minh có trách nhiệm phải trả cho ông Nguyễn Tấn Lộc 155.000.000đ.
Trong thực tiễn, không ít trường hợp tại thời điểm thỏa thuận góp vốn thành lập công ty, những người góp vốn đã thực hiện việc góp tài sản như thỏa thuận (ví dụ những người góp vốn cùng thỏa thuận mở một tài khoản rồi chuyển số tiền góp vốn vào đó, khi công ty được thành lập thì toàn bộ số tài khoản này sẽ được chuyển sang cho công ty). Nhưng thực tế là công ty vẫn chưa được thành lập, tư cách pháp nhân của công ty vẫn chưa phát sinh, tài sản vẫn chưa được chuyển giao sang cho công ty. Vậy nên, tại thời điểm công ty chưa được thành lập, mặc dù đã thực hiện nghĩa vụ góp vốn theo thỏa thuận nhưng tư cách thành viên công ty của người góp vốn vẫn chưa phát sinh. Và đó là căn cứ quan trọng để xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án. Với vụ việc nêu trên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 33, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm h khoản 1 Điều 36 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận hoặc Tòa án nhân dân quận 1 chứ không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Bởi vì, tại thời điểm này công ty chưa được thành lập, vì vậy tư cách thành viên công ty chưa thể phát sinh. Mặc dù luật cho phép các thành viên được quyền ký các loại hợp đồng phục vụ cho việc thành lập và hoạt động của doanh nghiệp trước khi đăng ký kinh doanh nhưng sau khi doanh nghiệp được thành lập thì mới chuyển giao các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng này cho công ty được. Còn trường hợp công ty không được thành lập thì người ký hợp đồng chịu trách nhiệm hoặc liên đới chịu trách nhiệm tài sản về việc thực hiện hợp đồng này. Quy định này của pháp luật là hoàn toàn chính xác, phù hợp với thực tiễn cuộc sống và thực tiễn xét xử của tòa án. Tại bản án số 51/2009/KDTM-PT ngày 28/4/2009 của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử vụ án về “tranh chấp đòi tiền góp vốn thành lập công ty” đã xét xử theo hướng: vì công ty chưa tồn tại, pháp nhân chưa được thành lập nên những người góp vốn chưa thể là thành viên công ty (…) tranh chấp giữa những người góp vốn chỉ là tranh chấp hợp đồng dân sự chứ không phải là tranh chấp giữa các thành viên trong công ty[1].
Thứ hai, trường hợp khi công ty được thành lập thì tư cách thành viên sẽ phát sinh?
Trong trường hợp thành lập mới công ty thì tư cách thành viên công ty phát sinh tại thời điểm công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nghe có vẻ thuyết phục hơn. Có thể tại thời điểm này người góp vốn cũng chưa thực hiện nghĩa vụ góp vốn, chưa chuyển quyền sở hữu tài sản sang cho công ty (vì chưa đến thời hạn như thỏa thuận chẳng hạn) nhưng công ty này được thành lập là bởi những người góp vốn, họ đã thành lập ra nó, quyền lợi và nghĩa vụ của họ cũng gắn với nó. Có thể họ chưa thực hiện việc góp vốn, chưa chuyển tài sản vào công ty nhưng tài sản góp vốn sẽ được đưa vào công ty trong tương lai theo như cam kết. Bên cạnh đó, luật cũng quy định thành viên chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn cam kết góp vào công ty. Như vậy, luật buộc các thành viên chịu trách nhiệm theo số vốn cam kết góp vào công ty chứ không căn cứ vào số vốn thực góp của họ trong công ty. Nên trong trường hợp thành lập mới công ty, tư cách thành viên công ty phát sinh tại thời điểm công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là hoàn toàn phù hợp. Và đối với trường hợp này thì thực tiễn xét xử cho thấy khá dễ dàng xác định tư cách thành viên công ty và việc phân định thẩm quyền xét xử ít khi bị nhầm lẫn và việc giải quyết các tranh chấp nếu có cũng đơn giản.
Thứ ba, trường hợp tại thời điểm góp đủ giá trị phần vốn góp, thành viên được công ty cấp giấy chứng nhận phần vốn góp[2] là trở thành thành viên công ty ?
Tương tự như biên bản giao nhận tài sản góp vốn, luật cũng quy định những nội dung chủ yếu, cần phải ghi trong giấy chứng nhận phần vốn góp tuy nhiên luật cũng không xác định cụ thể giá trị pháp lý của giấy chứng nhận này. Điểm khác biệt chính giữa giấy chứng nhận và biên bản giao nhận đó là giấy chứng nhận phần vốn góp được công ty cấp cho thành viên tại thời điểm góp đủ giá trị phần vốn góp, đối với toàn bộ số tài sản mà thành viên góp thì chỉ được cấp một giấy chứng nhận phần vốn góp, còn biên bản giao nhận thì có thể được lập nhiều lần tùy theo số lần giao nhận thực tế. Tuy nhiên, khi có tranh chấp liên quan đến việc góp vốn của thành viên góp vốn thì bản thân giấy chứng nhận phần vốn góp, biên bản giao nhận chưa đủ để chứng minh việc hoàn thành nghĩa vụ góp vốn của thành viên. Nếu hai loại giấy trên được lập với các nội dung chủ yếu như luật định và có chữ ký của người đại diện theo pháp luật của công ty kèm theo việc đóng dấu của công ty thì thường đủ căn cứ để chứng minh là thành viên nào đó đã góp vốn vào công ty. Trường hợp giấy chứng nhận phần vốn góp, biên bản giao nhận được lập giữa cá nhân người góp vốn với đại diện theo pháp luật của công ty mà không sử dụng con dấu của công ty, ngoài ra trong sổ sách kế toán không thể hiện việc tài sản góp vốn được đưa vào trong công ty thì thực tế xét xử Tòa án thường xem đây là giao dịch cá nhân giữa người góp vốn và người đại diện theo pháp luật của công ty (hoặc người nhận tài sản thông qua biên nhận nhận tài sản)[3]. Như vậy, bản thân giấy chứng nhận phần vốn góp không có giá trị xác định thời điểm phát sinh tư cách thành viên công ty. Nó chỉ có giá trị xác định việc thành viên đã hoàn tất nghĩa vụ góp vốn còn tư cách thành viên đương nhiên được xác lập và phát sinh theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mà không cần phải có giấy chứng nhận phần vốn góp.
            Trong quá trình hoạt động của công ty, nếu như để chứng minh về việc góp vốn thành viên có giấy chứng nhận công ty chưa được thành lập, biên bản giao nhận thì bản thân phía công ty lại lưu giữ thông tin về thành viên và việc thực hiện nghĩa vụ góp vốn thông qua Sổ đăng ký thành viên. Nếu như trong công ty cổ phần, người ta có thể căn cứ vào Sổ đăng ký cổ đông để xác định thời điểm người mua cổ phần trở thành cổ đông công ty[4](đó là thời điểm những thông tin về cổ đông được ghi đầy đủ trong Sổ đăng ký cổ đông) thì trong công ty TNHH thiếu vắng hẳn những quy định như vậy. Giá trị pháp lý của Sổ đăng ký thành viên là gì luật không minh định. Nên chăng dùng Sổ đăng ký thành viên để ghi nhận thời điểm phát sinh tư cách thành viên công ty cho từng trường hợp cụ thể.
            Nếu như ở trường hợp thành lập mới chúng ta dễ dàng chấp nhận quan điểm rằng, thời điểm phát sinh tư cách thành viên là thời điểm công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì trong quá trình hoạt động của công ty, khi có sự thay đổi thành viên góp vốn do sự chuyển dịch phần vốn góp (do chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, trả nợ…) thì việc xác định thời điểm phát sinh tư cách thành viên công ty không dễ dàng chút nào và pháp luật cũng đang còn bỏ ngỏ vấn đề này. Thực tiễn cho thấy, việc xét xử phải mất khá nhiều thời gian, công sức để xác định tư cách thành viên của công ty TNHH hai thành viên trở lên, cũng như việc giải quyết các tranh chấp liên quan.
Theo chúng tôi, thời điểm phát sinh, chấm dứt tư cách thành viên có ý nghĩa xác định ai là người được hưởng quyền cũng như gách vác nghĩa vụ đối với phần vốn góp được dịch chuyển. Thời điểm phát sinh tư cách thành viên công ty trong từng trường hợp cụ thể có thể là khác nhau nhưng chúng ta hoàn toàn có thể sử dụng Sổ đăng ký thành viên công ty để ghi nhận những thông tin của thành viên mới và lấy đó làm căn cứ để xác định thời điềm phát sinh tư cách thành viên công ty. Xuất phát từ quan điểm phần vốn góp là một loại tài sản (quyền tài sản) không phải đăng ký quyền sở hữu, Sở Kế hoạch và đầu tư cũng không phải là một cơ quan có chức năng đăng ký quyền sở hữu tài sản và xét cho cùng thì phần vốn góp cũng là tài sản thuộc sở hữu riêng của người sở hữu nó. Do đó, pháp luật doanh nghiệp cần thiết xác định thời điểm phát sinh tư cách thành viên trong từng trường hợp cụ thể làm căn cứ cho việc phân định việc hưởng quyền và gánh vác nghĩa vụ liên quan đến phần vốn góp trong công ty cũng như việc phân định thẩm quyền xét xử, giải quyết các tranh chấp khi có tranh chấp xảy ra

[1] Bản án số 51/2009/KDTM-PT ngày 28/4/2009 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh .
[2] Điều 39 khoản 4 Luật Doanh nghiệp 2005.
[3] Bản án số 54/2009/KDTM-PT ngày 29/4/2009 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh .
[4] Điều 87 khoản 4 Luật Doanh nghiệp 2005: Cổ phần được coi là đã bán khi được thanh toán đủ và những thông tin về người mua quy định tại khoản 2 Điều 86 của Luật này được ghi đúng, ghi đủ vào sổ đăng ký cổ đông; kể từ thời điểm đó, người mua cổ phần trở thành cổ đông của công ty.
Nguồn: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

MỘT VÀI HẠN CHẾ VƯỚNG MẮC TRONG VIỆC THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT ĐẤT ĐAI VỀ VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT

Luật Đất đai năm 2003 là một bước tiến bộ trong chính sách quản lý về đất đai, sử dụng đất đai của Nhà nước; quy định đầy đủ, rõ ràng và chặt chẽ hơn các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Tuy nhiên trong thực tế thi hành Luật Đất đai còn một số tồn tại vướng mắc có ảnh hưởng đến  quyền lợi của người sử dụng đất.
1- Những tồn tại trong thực tế và vướng mắc của pháp luật
- Về việc giao đất có mồ mả: Trước đây theo phong tục, tập quán của từng địa phương, người dân thường chôn cất người chết trong vườn nhà hoặc trên phần đất ruộng trồng lúa, hoa màu của gia đình mình. Mặc dù đã có Nghị định số 64/1993/NĐ-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ ban hành Bản quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp. Nhưng đến nay vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể về việc giao đất có mồ mả của chủ mồ mả cho người khác sử dụng; cũng chưa có quy định cụ thể người có quyền sử dụng đất có mồ mả được phép trồng cây lâu năm, xây cất công trình kiến trúc cách mộ là bao nhiêu mét? nhằm tránh gây ảnh hưởng đến phần mộ của người khác và tâm linh của người chết. Chính vì vậy, khi thực hiện việc giao đất theo hiện trạng cho người sử dụng và phân chia lại đất thì đất do hộ này canh tác lại được giao cho hộ khác nên đã xảy ra tranh chấp đất gần mộ và đất trồng cây lâu năm trên đất gần mộ của chủ khác.
- Về quy định của Luật Đất đai đối với thời hạn sử dụng đất và gia hạn thời hạn sử dụng đất: Trên thực tế quy định về thời hạn sử dụng đất không đạt được ý nghĩa vì rất nhiều người dân chưa sử dụng hết thời hạn sử dụng đất được Nhà nước giao đã chuyển nhượng lại cho người khác; cũng rất ít trường hợp khi thời hạn sử dụng đất đã hết mà người dân cầm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến cơ quan có thẩm quyền xin gia hạn thời hạn sử dụng đất.
- Về vấn đề bồi thường giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất: Trong quá trình thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng để xây dựng hạ tầng cơ sở, thực hiện các dự án đầu tư của Nhà nước, của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế… Người sử dụng đất có quyền được bồi thường  nhưng việc thu hồi giải phóng mặt bằng nhiều khi không tuân thủ trình tự do pháp luật quy định, giá đất bồi thường và giá đất thực tế chênh nhau quá lớn không đảm bảo quyền lợi cho người sử dụng đất.
- Về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Khoản 1 Điều 105 Luật Đất đai quy định người sử dụng đất : “được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Đây là quyền của người sử dụng đất, nhưng trên thực tế quyền này của người sử dụng đất bị xem như là nghĩa vụ. Để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, người sử dụng đất phải qua nhiều thủ tục phức tạp, vì vậy dẫn đến tiến độ triển khai việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhìn chung còn chậm làm ảnh hưởng đến quyền của người sử dụng đất trong việc thực hiện quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, vay vốn…

- Trường hợp chủ sử dụng đất là người đi làm ăn ở những vùng kinh tế mới hoặc tham gia kháng chiến, sau giải phóng vì điều kiện công tác, học tập, làm ăn ở xa nên không đăng ký quyền sử dụng đất. Vì vậy, đã bị người khác tự ý kê khai đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay họ trở về đòi lại quyền sử dụng đất thì giải quyết tranh chấp như thế nào? Việc này cần có các quy định cụ thể của pháp luật.
-Về việc thế chấp quyền sử dụng đất để vay tiền: Khoản 7 Điều 113 Luật Đất đai quy định, hộ gia đình và cá nhân chỉ được thế chấp bằng quyền sử dụng đất “để vay vốn sản xuất , kinh doanh” mà không được thế chấp để phục vụ nhu cầu  đời sống như vay vốn để học tập hay chữa bệnh cứu người… Như vậy, nếu hộ gia đình, cá nhân sử dụng tiền vay để phục vụ nhu cầu đời sống thì có thể bị xem là vi phạm hợp đồng để phía cho vay khởi kiện. Quy định này đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của bên vay.
- Về thời hiệu khởi kiện: Khoản 5 điều 105 Luật đất đai 2003 quy định về quyền của người sử dụng đất “Được Nhà nước bảo hộ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình”. Tuy nhiên lại có quy định về thời hiệu khởi kiện, như vậy đã làm hạn chế về quyền của người sử dụng đất. Hiện nay, theo quy định tại Điều 159 Bộ luật Tố tụng dân sự  thì thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự là 2 năm đãlàm ảnh hưởng đến quyền lợi của người sử dụng đất và dẫn đến không có cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Việc quy định thời hiệu khởi kiện như hiện nay là chưa hợp lý và mâu thuẫn với chức năng của nhà nước là giải quyết tranh chấp, ổn định xã hội. Đây là một trong những chức năng quan trọng của Nhà nước, nhưng nếu quy định thời hiệu để Nhà nước không giải quyết tranh chấp , thì ai sẽ giải quyết và sẽ giải quyết thế nào nếu mâu thuẫn tiếp tục phát sinh gây bất ổn xã hội.
- Quyền của người sử dụng đất còn bị ảnh hưởng do chưa có các quy định đầy đủ để đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ hợp đồng kinh doanh thương mại, đặc biệt là việc xử lý quyền sử dụng đất trong các vụ phá sản. Tại khoản 2 Điều 38 Luật Đất đai năm 2003 quy định Nhà nước thu hồi đất trong các trường hợp sau đây: “Tổ chức được nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước hoặc cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất” và tại điểm a khoản 1 Điều 43 Luật này có quy định: Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 38 của luật này. Trên thực tế khi doanh nghiệp bị phá sản, Ủy ban nhân dân tỉnh ra quyết định thu hồi đất của doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp Nhà nước mà không có bồi thường, đồng thời lại giao đất cho đơn vị khác; còn tài sản trên đất như trụ sở, nhà xưởng lại phải đưa ra trung tâm bán đấu giá tài sản để đấu thầu, nên rất khó để thanh lý tài sản vì nếu bất động sản bị tách rời quyền sử dụng đất thì bất động sản đó bị giảm giá trị rất lớn.
2-Kiến nghị:
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, Nhà nước cần phải trao quyền nhiều hơn nữa  cho người dân đối với đất đai để người dân thấy được rằng mình là người chủ thực sự của mảnh đất mà mình đã gắn bó vào nó. Vì vậy cần xóa bỏ thời hạn mà người dân được sử dụng đất khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giao đất không xác định thời hạn sử dụng đất cho người dân. Bởi vì khi cần thiết , Nhà nước vẫn có quyền thu hồi đất thì tại sao lại không giao cho người dân quyền sử dụng đất ổn định lâu dài. Nếu làm được điều này sẽ tạo ra sự an tâm và tin tưởng của người dân vào Đảng và Nhà nước, đồng thời không gây tốn kém cho Nhà nước khi phải cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới khi hết thời hạn giao đất.
- Cần xem xét, quy định lại thời hiệu khởi kiện ít nhất là 10 năm ( giống như thời hiệu khởi kiện của thừa kế ) tính kể từ ngày quyền lợi bị xâm phạm, hoặc có thể kéo dài thời hiệu hơn nữa. Với thời gian kéo dài thêm, các tranh chấp sẽ dần giảm đi tính căng thẳng và khi đó áp dụng hết thời hiệu khởi kiện mới đem lại hiệu quả cao nhất.
-Nhà nước cần rà soát và loại bỏ các thủ tục hành chính không cần thiết trong việc chuyển quyền sử dụng đất để  người dân thực hiện các quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê quyền sử dụng đất…tạo điều kiện cho thị trường bất động sản hoạt động lành mạnh.
-Cần tạo thuận lợi hơn nữa cho người dân khi làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hạn chế những thủ tục rườm rà không cần thiết. Đồng thời phải tuyên truyền cho người dân biết được quyền và nghĩa vụ của mình do pháp luật quy định để thực hiện cho đúng. Tiến hành niêm yết công khai các thủ tục để người dân biết và thực hiện, điều này góp phần hạn chế những tranh chấp đất đai không đáng có xảy ra.
- Phải xây dựng giá đất, giá cả đền bù đảm bảo lợi ích thỏa đáng của người bị thu hồi đất. Trong đó người dân cần được đền bù theo giá thị trường trong điều kiện bình thường. Không nên áp giá do chính quyền địa phương quy định mà nên cho phép các doanh nghiệp thỏa thuận đền bù đất với người sử dụng để có thể linh hoạt hơn, thuận lợi hơn cho công tác giải phóng mặt bằng. Nếu làm được như vậy sẽ hạn chế và giải quyết được rất nhiều những tranh chấp, khiếu kiện liên quan đến công tác giải phòng mặt bằng, tranh chấp đất đai.
- Cần sửa đổi những quy định của Luật Đất đai năm 2003  theo hướng:  Nếu đơn vị nào trúng thầu mua lại bất động sản là nhà xưởng, công trình gắn liền với đất của doanh nghiệp bị phá sản thì sẽ được tiếp tục thuê đất của Nhà nước ở nơi có bất động sản của doanh nghiệp bị phá sản gắn liền với đất đó.
- Nhà nước cần có quy định cụ thể diện tích một ngôi mộ tối đa là bao nhiêu  để chủ được giao quyền sử dụng đất mà trên đó có mồ mả của người khác có quyền trồng cây hoặc xây dựng công trình kiến trúc trên đất có mộ.
- Để đảm bảo tính thống nhất trong việc giải quyết khiếu nại các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong các lĩnh vực thuộc quản lý hành chính Nhà nước, cần điều chỉnh thống nhất giữa Luật Đất đai với các Luật khác có liên quan để không còn những bất cập, chồng chéo. Đồng thời các văn bản luật, hướng dẫn áp dụng luật cần rõ ràng,  tránh trường hợp nhiều văn bản khi nghiên cứu áp dụng vào thực tiễn để giải quyết  từng vụ việc cụ thể lại có nhiều cách hiểu khác nhau , dẫn đến việc áp dụng thực thi cũng khác nhau gây khó khăn trong công tác xét xử.
Nguồn: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

“DI TẶNG” THEO QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 671 BỘ LUẬT DÂN SỰ

1. Điều kiện để được nhận di tặng
Điều 671 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 quy định về di tặng: “1. Di tặng là việc người lập di chúc dành một phần di sản để tặng cho người khác. Việc di tặng phải được ghi rõ trong di chúc. 2. Người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này”.
Theo quy định này, căn cứ phát sinh di tặng là do người lập di chúc chỉ định cho người được di tặng được hưởng di sản trong một bản di chúc có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, người được di tặng không phải là người thừa kế theo di chúc. Mặc dù họ cũng được hưởng một phần di sản của người lập di chúc giống như người thừa kế theo di chúc, nhưng họ lại không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ của người này. Đây là căn cứ xác định sự khác biệt giữa người được di tặng với người thừa kế theo di chúc.
Nhưng Điều 671 không quy định cụ thể điều kiện để một người được nhận di tặng mà chỉ quy định chung: Người lập di chúc được dành một phần tài sản để di tặng cho người khác. Vậy “người khác” ở đây được hiểu như thế nào? Chỉ là cá nhân hay có thể bao gồm cả cơ quan, tổ chức?
Theo chúng tôi, người được di tặng có thể là cá nhân và cũng có thể là cơ quan, tổ chức. Bởi lẽ, mặc dù không quy định cụ thể “người khác” bao gồm những ai, nhưng BLDS cũng không quy định: người được di tặng chỉ có thể là cá nhân.
Vấn đề được đặt ra ở đây là, người được di tặng có cần thỏa mãn các điều kiện như đối với người thừa kế hay không?
Nếu là cá nhân, người được di tặng có cần phải là “đã thành thai trước khi người để lại di sản chết” hay không? Nếu là tổ chức thì tổ chức đó có phải “tồn tại vào thời điểm mở thừa kế” hay không? Sở dĩ phải đặt ra vấn đề này là do trong thực tế, có rất nhiều trường hợp người để lại di sản đã lập di chúc định đoạt một phần tài sản của mình với mục đích tặng cho các quỹ (quỹ học bổng, quỹ từ thiện…).

Về vấn đề này, Điều 81 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan quy định: quỹ là một tổ chức được thành lập vì “mục đích từ thiện, tôn giáo, khoa học, văn học hoặc những mục đích khác vì lợi ích công cộng chứ không phải vì mục đích chia lời”. Người để lại di sản có quyền lập di chúc giao trách nhiệm cho một người gây dựng một quỹ, hoặc tự mình trực tiếp hiến tài sản gây dựng các quỹ có mục đích nói trên (Điều 1676). Khi quỹ được gây dựng theo di chúc đã được lập như một pháp nhân, thì tài sản được người lập di chúc hiến cho mục đích thành lập quỹ đó được coi như thuộc về pháp nhân đó, kể từ khi di chúc có hiệu lực, trừ khi di chúc có quy định khác (Điều 1678). Nếu việc hiến này không thể thực hiện được, hoặc nếu quỹ đó không thể tồn tại vì sự tồn tại của nó trái với quy định của pháp luật, hoặc vi phạm trật tự công cộng hay trái đạo đức, thì việc sắp đặt theo di chúc đó sẽ vô hiệu (Điều 1679). Việc lập quỹ không được gây tổn hại đến quyền lợi của các chủ nợ của người để lại di sản (Điều 1680).
BLDS Việt Nam chưa có quy định cụ thể về vấn đề này. Tuy nhiên, theo chúng tôi, người được di tặng dù không phải là người thừa kế, nhưng về bản chất họ là người được hưởng di sản theo sự định đoạt của người lập di chúc. Vì vậy, để được nhận di tặng, người được di tặng cũng phải thỏa mãn những điều kiện của người thừa kế được quy định tại Điều 635 BLDS năm 2005, cụ thể: người được di tặng là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trong trường hợp người được di tặng là cơ quan, tổ chức thì phải là cơ quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
Để có cơ sở pháp lý giải quyết những trường hợp di tặng trong đời sống dân sự, theo chúng tôi, BLDS nên sửa đổi lại tên gọi cũng như thuật ngữ được sử dụng tại Điều 635 theo hướng thay thuật ngữ “người thừa kế” bằng thuật ngữ có tính khái quát cao hơn là “người được hưởng di sản”. Cụ thể: “Người được hưởng di sản là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trong trường hợp người được hưởng di sản là cơ quan, tổ chức thì phải là cơ quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế”.
Với quy định này thì không chỉ những người thừa kế (theo di chúc hoặc theo pháp luật) mà cả những người được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc và những người được di tặng cũng cần phải thỏa mãn các điều kiện tối thiểu nói trên.
Tương tự như vậy, để đảm bảo tính thống nhất giữa các điều luật cũng như tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc áp dụng pháp luật trong thực tế, Điều 642 BLDS năm 2005 cũng nên thay cụm từ “người thừa kế” bằng cụm từ “người hưởng di sản”. Và để tránh dẫn đến cách hiểu: chỉ người thừa kế mới có quyền từ chối nhận di sản, còn người được di tặng không có quyền từ chối (khoản 1, Điều 642), chúng tôi đề nghị nên sửa Điều 642 như sau:
1. Người hưởng di sản có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.
2. Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản; người từ chối phải báo cho những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản, cơ quan công chứng hoặc ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mở thừa kế về việc từ chối nhận di sản.
3. Thời hạn từ chối nhận di sản là sáu tháng, kể từ ngày mở thừa kế. Sau sáu tháng kể từ ngày mở thừa kế nếu không có từ chối nhận di sản thì được coi là đồng ý nhận di sản.
2. Những người có những hành vi quy định tại khoản 1 Điều 643 có được hưởng di tặng hay không?
Khoản 1 Điều 643 BLDS quy định những người không được quyền hưởng di sản bao gồm: a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó; b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản; c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng; d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
Theo chúng tôi, những người này cũng không được hưởng tài sản di tặng. Bởi vì, thông thường một người chỉ để lại tài sản để tặng cho người khác khi giữa họ và người được hưởng tài sản có mối quan hệ thân thiết nhất định. Người có tài sản muốn lưu giữ tình cảm tốt đẹp đó nên đã tặng một phần tài sản cho người được di tặng. Nếu người được di tặng lại có hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản; hoặc lừa dối, cưỡng ép, ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản, thì người đó hoàn toàn không xứng đáng được hưởng di sản.
Hơn nữa, tên gọi của Điều 643 là “Người không được quyền hưởng di sản” cũng đã thể hiện quan điểm này. Vì “người được hưởng di sản” bao gồm không chỉ là người thừa kế mà còn cả những người được di tặng. Do đó đương nhiên những người được di tặng nếu có những hành vi quy định tại khoản 1 Điều 643 sẽ không được hưởng di tặng.
Khi nghiên cứu vấn đề này, chúng ta thấy sự cần thiết phải xem xét trong trường hợp người được di tặng không có quyền hưởng di sản (theo khoản 1 Điều 643), từ chối nhận di tặng, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người di tặng thì phần di chúc liên quan đến người này về thực chất là phần di chúc mất hiệu lực pháp luật. Mà phần di sản liên quan đến phần di chúc không có hiệu lực pháp luật sẽ được áp dụng chia theo quy định của pháp luật cho những người thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản.
Tuy nhiên, đây mới chỉ là những suy đoán mang tính chủ quan, còn trên thực tế các văn bản pháp luật hiện hành vẫn chưa có quy định rõ ràng. Vì vậy, để tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết phần di sản này, theo chúng tôi, điểm c khoản 2 Điều 675 BLDS – quy định những trường hợp thừa kế theo pháp luật – cần được bổ sung theo hướng: “c. Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc, người được di tặng nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối quyền nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn vào thời điểm mở thừa kế”.
3. Trong trường hợp nào di tặng được dùng để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc?
Khoản 2 Điều 671 quy định: “Người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này”.
Quy định này dường như đã đồng nhất giữa di sản chia thừa kế với di sản. Bởi vì: Di sản = phần di sản dành cho người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc + phần di sản dành cho di tặng + phần di sản dùng vào việc thờ cúng + phần di sản chia thừa kế. Như vậy, di sản chia thừa kế chỉ là một thành phần của di sản. Chỉ trong trường hợp không có phần di sản dành cho người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, di tặng và di sản dùng vào việc thờ cúng thì di sản chia thừa kế mới bằng di sản thừa kế. Nhưng quy định rằng: Người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản, thì phải hiểu thế nào là “toàn bộ” di sản? Nếu hiểu theo công thức trên, thì “toàn bộ” di sản rõ ràng phải bao gồm cả di tặng. Nhưng nếu như “toàn bộ di sản” đã bao gồm cả di tặng, tức là cả di tặng cũng đã được đem ra thanh toán nghĩa vụ rồi, thì không thể có quy định: nếu “toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này”.
Như vậy, rõ ràng “toàn bộ di sản” được nói tới trong điều luật này không phải là “toàn bộ di sản thừa kế” mà chính xác phải là “toàn bộ di sản chia thừa kế”. Điều này đồng nghĩa với việc: nếu có nghĩa vụ tài sản thì phải dùng phần di sản chia thừa kế để thực hiện nghĩa vụ trước, nếu di sản chia thừa kế vẫn không đủ để thực hiện nghĩa vụ thì mới dùng phần di tặng. Trong trường hợp này, di tặng là phần di sản còn lại sau khi đã thanh toán xong các nghĩa vụ tài sản và các chi phí khác liên quan đến thừa kế theo Điều 683.
Vì vậy, để tạo cách hiểu thống nhất trong trường hợp trên, ta nên thay cụm từ “di sản” bằng “di sản chia thừa kế”. Cụ thể, khoản 2 Điều 671 nên được sửa đổi như sau: “Người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản chia thừa kế không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này”.
Với quy định này, sẽ có một cách hiểu thống nhất là: di tặng chỉ được dùng để thực hiện nghĩa vụ khi toàn bộ di sản chia thừa kế không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc. Mặc dù, cùng là người được hưởng di sản của người chết để lại nhưng kể từ thời điểm mở thừa kế, người thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ của người để lại thừa kế trong phạm vi di sản được hưởng. Ngược lại, người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ đó. Chỉ trong trường hợp toàn bộ di sản chia thừa kế không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người chết để lại, thì phần tài sản là di tặng mới được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ tài sản còn lại này.
Vấn đề đặt ra trong trường hợp có cả di tặng và di sản dùng vào việc thờ cúng, thì phải dùng phần di sản nào để thanh toán nghĩa vụ tài sản trước? Di tặng hay phần di sản dùng vào việc thờ cúng?
Có ý kiến cho rằng, do tính chất đặc biệt của phần di sản dùng vào việc thờ cúng – là sự biết ơn của con cháu đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên, nếu xếp di sản dùng vào việc thờ cúng ngang với di sản chia thừa kế hay di tặng đồng nghĩa với việc “hy sinh truyền thống cổ xưa vì lợi ích của quyền tự do cá nhân”1. Chính vì vậy, trong trường hợp này, ta phải dùng phần di sản dành cho di tặng để thanh toán nghĩa vụ trước, nếu không đủ thì mới dùng đến di sản dùng vào việc thờ cúng.
Ý kiến khác lại cho rằng, phải dùng di sản dùng vào việc thờ cúng để thanh toán nghĩa vụ trước, nếu không đủ mới dùng đến di tặng, bởi tài sản dành cho di tặng thường có ý nghĩa đặc biệt với người di tặng cũng như người được di tặng. Việc để lại di tặng thường nhằm mục đích làm kỷ niệm, lưu dấu một mối quan hệ tốt đẹp thân thiết giữa người di tặng với người được di tặng.
Dung hòa cả hai ý kiến trên, ý kiến thứ ba cho rằng, trong trường hợp này chúng ta phải dùng cả di tặng cũng như di sản dùng vào việc thờ cúng để thanh toán. Việc cắt giảm hai phần di sản này sẽ được thực hiện theo tỷ lệ. Theo chúng tôi, ý kiến này là hợp lý hơn cả. Bởi theo quy định tại Điều 670 và 671 thì hai loại di sản này có địa vị pháp lý tương đối “cân bằng” nhau, bởi cơ sở để dùng hai loại di sản này để thanh toán nghĩa vụ đều là “toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó”. Hơn nữa, trong thực tế đời sống, rất khó lý giải nên dùng loại di sản nào để thanh toán trước trong trường hợp nói trên, vì điều này còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: tính đa dạng của quan hệ pháp luật về thừa kế, mức chênh lệch về giá trị di sản dùng vào việc thờ cúng và di tặng, yếu tố tâm lý, sự khác nhau về phong tục tập quán giữa các vùng, miền trên cả nước.

Chú thích:
(1) Nguyễn Ngọc Điện (2001), Bình luận khoa học về thừa kế trong luật dân sự Việt Nam, Nxb. Trẻ, tr. 243.
Nguồn: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ

GIẢI PHÁP HẠN CHẾ TÍN DỤNG PHI CHÍNH THỨC Ở NÔNG THÔNG

Mục tiêu của bài viết là tìm kiếm giải pháp hạn chế tín dụng phi chính thức ở nông thôn thông qua việc phân tích các rào cản khiến các tổ chức tín dụng chính thức hạn chế cho vay ở khu vực nông thôn, dẫn đến việc nhiều người dân nông thôn phải lệ thuộc vào tín dụng phi chính thức. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất giải pháp tăng cường hoạt động của các tổ chức tín dụng chính thức để hạn chế tín dụng phi chính thức ở khu vực nông thôn.
1. Giới thiệu
Hiện tượng cho vay nặng lãi ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống người dân nông thôn là mối quan tâm thường xuyên của chính phủ lẫn các nhà nghiên cứu. Lập luận thường được sử dụng để giải thích nguyên nhân của hiện tượng này là: vì không có sự hiện diện của các tổ chức tín dụng chính thức nên những người cho vay phi chính thức gần như độc quyền, do đó ấn định lãi suất cao. Nhận thấy điều đó, chính phủ nhiều nước đã thành lập các tổ chức tín dụng chính thức ở nông thôn với hy vọng hạn chế và đi đến loại trừ tín dụng phi chính thức nhằm xóa bỏ hiện tượng cho vay nặng lãi. Tuy nhiên, bất chấp sự cố gắng đó, nhiều người dân nông thôn vẫn khó tiếp cận tín dụng chính thức nên phải vay phi chính thức để đáp ứng nhu cầu chi tiêu phát sinh hằng ngày cũng như nhu cầu vốn cho sản xuất. Từ đó, tín dụng phi chính thức có cơ hội để tồn tại, thậm chí còn rất phát triển, ở nhiều nơi. Thật vậy, các nghiên cứu (như Tsai, 2004; Conning và Udry, 2007; Mansuri, 2007; Boucher và Guirkinger, 2007; Fletschner, 2009; Turvey và Kong, 2010; v.v.) đã ghi nhận sự hiện diện của tín dụng phi chính thức ở nhiều nước trên thế giới như Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Pakistan, Phi-lip-pin, Bangladesh, Kenya, Peru, Nigeria, Ghana, Guatemala, … Ở Việt Nam, theo Barslund và Tarp (2008), có đến 36% số giao dịch tín dụng ở nông thôn là phi chính thức; đặc biệt ở Phú Thọ, tín dụng phi chính thức chiếm đến 50% tổng số giao dịch và ở Hà Tây (cũ) con số này là 48%. Khảo sát của Dương (2010) đối với 480 nông hộ ở An Giang cho thấy có đến 199 hộ (41,5%) có vay phi chính thức. Theo các nghiên cứu trên, tín dụng phi chính thức tiếp tục hiện diện ở nông thôn nhờ những ưu thế mà các tổ chức tín dụng chính thức không có được như sự am hiểu người vay (do đó giảm thiểu được hiện tượng thông tin bất đối xứng), chi phí giao dịch thấp, khả năng kiểm soát và cưỡng chế trả nợ tốt, tính linh hoạt trong quyết định cho vay,… do rất gần gũi với người vay.
Các nghiên cứu đã phân tích nguyên nhân của việc mặc dù được xác định là đối tượng cho vay chủ yếu của các tổ chức tín dụng chính thức nhưng nhiều người dân nông thôn (nhất là người nghèo ở những vùng xa xôi) vẫn bị từ chối cho vay nên tiếp tục bị lệ thuộc vào tín dụng phi chính thức. Theo các nghiên cứu này, vấn đề mấu chốt là các tổ chức tín dụng không thể điều chỉnh lãi suất để bù đắp chi phí và rủi ro cao khi cho vay ở nông thôn do người vay thường gặp các bất trắc khó lường ảnh hưởng xấu đến khả năng trả nợ như mất mùa, dịch bệnh, giá nông sản bấp bênh,… trong khi lại thiếu tài sản thế chấp và không có cơ chế bảo hiểm cây trồng, vật nuôi. Kết quả là các tổ chức tín dụng sẽ hạn chế cho vay ở nông thôn, từ đó mở ra cơ hội cho tín dụng phi chính thức phát triển vì người dân nông thôn rất cần vốn cho sản xuất, cần tiền để trang trải cho các nhu cầu đột xuất (như bệnh tật, ma chay, cưới hỏi, học hành của con cái,…) trong khi thu nhập nhiều lúc không đủ để đáp ứng.
Mục tiêu của bài viết là phân tích nguyên nhân của việc các tổ chức tín dụng chính thức ngần ngại cho vay ở nông thôn, dẫn đến sự tồn tại dai dẳng của tín dụng phi chính thức ở đây. Trên cơ sở phân tích này, bài viết sẽ đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế tín dụng phi chính thức thông qua việc tăng cường hoạt động của các tổ chức tín dụng chính thức ở nông thôn, đặc biệt là ở những vùng xa xôi.

2. Nguyên nhân của hạn chế tín dụng bởi các tổ chức tín dụng chính thức
2.1. Thông tin bất đối xứng, sự không chắc chắn và rủi ro trong cho vay
Các tổ chức tín dụng gặp nhiều khó khăn khi cho vay ở nông thôn do không thật am hiểu người vay vì ít gần gũi họ như những người cho vay phi chính thức. Khi đó, sẽ xuất hiện hiện tượng thông tin bất đối xứng giữa các tổ chức tín dụng và người vay, nghĩa là các tổ chức tín dụng không biết rõ người vay bằng chính bản thân họ nên khó kiểm soát việc sử dụng tiền vay và sẽ gặp rủi ro khi cho vay. Để thấy điều đó, hãy phân tích một tình huống trong đó một tổ chức tín dụng xem xét cho vay hai dự án có tỷ suất sinh lợi lần lượt là 15% (Dự án 1) và 20% (Dự án 2), mỗi dự án cần vay 100 đơn vị tiền (đvt) để đầu tư, lãi suất cho vay là 10%.
Giả sử hai dự án chắc chắn mang lại thu nhập lần lượt là 115 đvt (Dự án 1) và 120 đvt (Dự án 2). Khi đó, sẽ có sự tương thích giữa lợi ích của tổ chức tín dụng và lợi ích của người vay. Thật vậy, tổ chức tín dụng muốn thu được lãi suất 10% (dĩ nhiên là cùng với tiền gốc) nên muốn người vay thực hiện dự án có tỷ suất sinh lợi cao hơn (Dự án 2). Nếu người vay muốn có lợi nhất thì cũng sẽ thực hiện Dự án 2. Như vậy, cả hai đều hài lòng và vốn vay được sử dụng hiệu quả nhất.
Tuy nhiên, thu nhập của các dự án thường không chắc chắn vì thực tế luôn biến động khó lường. Để phản ánh thực tế này, giả sử Dự án 1 sẽ mang lại thu nhập là 230 đvt nếu thành công với xác suất là 50% và mất hết nếu thất bại với xác suất 50%; thu nhập của Dự án 2 vẫn chắc chắn như trước. Như vậy, thu nhập kỳ vọng của Dự án 1 bằng với thu nhập trước đây: (1/2) x 230 + (1/2) x 0 = 115 đvt.
Hãy xem xét lợi ích của tổ chức tín dụng và của người vay trong trường hợp không chắc chắn này, với giả định là nếu dự án thất bại, người vay sẽ không trả nợ vì đã mất hết. Rõ ràng, tổ chức tín dụng vẫn muốn người vay thực hiện Dự án 2 với tỷ suất sinh lợi là 20% vì dự án này giúp hoàn trả đầy đủ tiền vay cộng với tiền lãi một cách chắc chắn trong khi Dự án 1 chỉ có thể hoàn trả đầy đủ với xác suất 50%. Song, người vay sẽ không thực hiện Dự án 2 vì thu nhập từ Dự án 2 chỉ là: 120 đvt – (100 + 100 x 10%) = 10 đvt, trong khi thu nhập kỳ vọng từ Dự án 1 là: (1/2)x(230 – 110) + (1/2)x0 = 60 đvt. Rõ ràng, người vay sẽ thực hiện Dự án 1 (rủi ro) và tổ chức tín dụng sẽ không hài lòng nhưng không thể hay quá tốn kém để kiểm soát và cưỡng chế người vay thực hiện điều mình muốn (đó là thực hiện Dự án 2).
Sự khác biệt về lợi ích như trên phát sinh do trách nhiệm hữu hạn của người vay, nghĩa là người vay chỉ trả nợ nếu dự án thành công và không trả nợ nếu thất bại. Nói cách khác, trách nhiệm hữu hạn là nguyên nhân của việc người vay sẽ thực hiện các dự án rủi ro vì sẽ được lợi nếu thành công và không mất mát gì nếu thất bại (do không trả nợ). Một cách để các tổ chức tín dụng tránh hiện tượng này là yêu cầu người vay thế chấp tài sản.
Thế chấp tài sản là cần thiết nhưng sẽ làm cho nhiều người dân nông thôn càng khó tiếp cận tín dụng chính thức vì thiếu tài sản thế chấp hay tài sản thế chấp của họ quá đặc thù nên không được chấp nhận. Chẳng hạn, một hộ nghèo có một mảnh đất rất nhỏ để thế chấp nhưng các tổ chức tín dụng sẽ không chấp nhận vì chi phí bán đấu giá tài sản này là quá cao nếu người vay không trả nợ mà xác suất không trả nợ lại cao do người vay nghèo. Tương tự, một người nghèo khác muốn thế chấp sức lao động của bản thân để vay tiền điều trị căn bệnh hiểm nghèo cho con nhưng không tổ chức tín dụng nào chấp nhận vì có thể vi phạm pháp luật hay người này không thể làm được công việc mà tổ chức tín dụng cần, do đó sẽ từ chối cho vay. Kết quả là họ phải vay phi chính thức, tạo cơ hội cho loại hình tín dụng này tồn tại vì có cầu ắt sẽ có cung.
2.2. Khả năng kiểm soát và cưỡng chế trả nợ
Một yếu tố khác khiến cho các tổ chức tín dụng chính thức ngần ngại cho vay ở nông thôn chính là các khó khăn gặp phải trong việc kiểm soát và cưỡng chế người vay trả nợ. Nếu kiểm soát tốt, người cho vay có thể can thiệp kịp thời để thu hồi vốn ngay khi người vay có biểu hiện lệch lạc. Tính phong phú của thị trường tín dụng nông thôn là tài sản hiện có hay thu nhập sắp có dùng để thế chấp khó được chấp nhận bởi các tổ chức tín dụng chính thức nhưng lại dễ dàng được chấp nhận bởi những người cho vay phi chính thức. Hiện tượng này có thể thấy rõ khi nghiên cứu mối quan hệ giữa một người cho thuê đất với thỏa thuận chia sẻ kết quả thu hoạch với người thuê đất và đồng thời cho người thuê đất vay. Người thuê đất cần vay một số tiền để sản xuất và đề nghị người cho vay (cũng là chủ đất) cho mình thế chấp khoản thu hoạch sắp tới để vay. Rõ ràng, không tổ chức tín dụng nào chấp nhận loại thế chấp này vì thu hoạch sắp tới của người vay rất khó xác định, phụ thuộc vào nỗ lực của chính anh ta, thời tiết, giá sản phẩm và nhiều yếu tố khác mà các tổ chức tín dụng gần như không thể kiểm soát. Trái lại, người cho thuê đất sẽ chấp nhận thế chấp đó và đồng ý cho người thuê đất vay.
Điều gì khiến người cho thuê đất chấp nhận kết quả thu hoạch của người vay trong khi cũng phải đối mặt với rủi ro không trả nợ giống như các tổ chức tín dụng. Nếu phân tích kỹ, ta sẽ thấy người cho thuê đất có lợi thế hơn. Đồng ý chia sẻ kết quả thu hoạch với người thuê đất nghĩa là người cho thuê đất gắn lợi ích của mình với kết quả thu hoạch và do đó, sẽ có động cơ cho người thuê đất vay tiền để chăm sóc mùa màng cho tốt. Ngược lại, người thuê đất cũng có động cơ chăm sóc mùa màng tốt hơn vì nếu không thì người cho vay sẽ phát hiện (do sống cạnh bên hay gần đó) và sẽ không tiếp tục cho thuê đất cũng như không cho vay. Như vậy, người cho thuê đất phụ thuộc vào người thuê đất để có thu nhập; đồng thời, người thuê đất phụ thuộc vào người cho thuê đất để có đất canh tác và vốn sản xuất. Mối quan hệ tương hỗ này làm tăng lợi ích cho đôi bên nhưng không tổ chức tín dụng nào xây dựng được nên ngại cho vay vì sợ không thu hồi được tiền cho vay.
Một nguyên nhân khác của việc các tổ chức tín dụng ngại cho vay ở nông thôn trong khi những người cho vay phi chính thức vẫn đều đặn làm việc này là khả năng cưỡng chế trả nợ nhằm giảm thiểu rủi ro. Để thấy điều đó, hãy phân tích một tình huống trong đó một người vay có xác suất trả nợ là p   muốn vay số tiền L. Gọi r là chi phí cơ hội của vốn (thường được đo lường bằng lãi suất trên thị trường tín dụng chính thức) và i là lãi suất cho vay của một người cho vay phi chính thức. Do xác suất trả nợ là p nên lợi nhuận kỳ vọng của người cho vay phi chính thức khi cho vay số tiền L sẽ là: p (1 + i) L – (1 + r) L. Cạnh tranh sẽ đưa lãi suất (dài hạn) về điểm cân bằng mà tại đó, lợi nhuận cho vay bằng không, nghĩa là:
clip_image001.               (1)
Kết quả trên cho thấy nếu p càng cao thì i càng thấp. Thật vậy, nếu p = 1 (người vay chắc chắn trả nợ) thì i = r hay lãi suất phi chính thức sẽ bằng với lãi suất chính thức. Do p giảm thì i tăng nên nếu p < 1 (nghĩa là có rủi ro không trả nợ) thì i > r hay lãi suất phi chính thức phải cao hơn lãi suất chính thức để bù đắp rủi ro không trả nợ. Do đó, khi quyết định cho vay, người cho vay phải tính toán rủi ro (hay xác suất không trả nợ) để ấn định lãi suất sao cho phù hợp. Từ công thức (1), ta có thể hình thành công thức tính xác suất không trả nợ (đo lường bởi đại lượng 1 – p) như sau:
clip_image002.        (2)
Sử dụng công thức (2) và số liệu khảo sát của một số nghiên cứu trước đây, ta có thể ước lượng xác suất không trả nợ (1 – p) ngầm chứa trong một số giao dịch tín dụng phi chính thức như trong bảng Ước lượng xác suất trả nợ dưới đây:
Ước lượng xác suất trả nợ


Tác giả (năm)
Quốc gia
i (%)
r (%)
1 – p (%)
Boucher và Guirkinger (2007)
Peru
117,0
69,0
22,1
Barslund và Tarp (2008)
Việt Nam
21,4
10,4
9,1
Dương (2010)
Việt Nam
65,7
12,3
32,2
Nguồn: Tự tính toán dựa vào số liệu của các nghiên cứu được đề cập.
Kết quả ở bảng trên cho thấy những người cho vay phi chính thức ấn định lãi suất cao do phải đối mặt với rủi ro không trả nợ cao. Khác với những người cho vay phi chính thức, các tổ chức tín dụng chính thức không thể ấn định lãi suất cao như vậy do bị ràng buộc bởi quy định của chính phủ (chẳng hạn, ở nước ta, Ngân hàng Nhà nước không cho phép các tổ chức tín dụng cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản) và do ảnh hưởng của sự chọn lựa sai lầm và động cơ lệch lạc – các hệ quả của hiện tượng thông tin bất đối xứng ở thị trường tín dụng.
Trong lĩnh vực tín dụng, thông tin bất đối xứng ngụ ý rằng các tổ chức tín dụng không hiểu rõ mức độ rủi ro của người vay như chính bản thân họ cho nên không thể phân biệt giữa người vay rủi ro và người vay an toàn. Nếu không phân biệt được, điều tự nhiên là các tổ chức tín dụng sẽ yêu cầu mọi người vay trả lãi suất cao hơn để bù đắp thiệt hại do rủi ro gây ra. Song, việc tăng lãi suất như vậy có thể làm giảm lợi nhuận của các tổ chức tín dụng do sự chọn lựa sai lầm của chính các tổ chức tín dụng và động cơ lệch lạc của người vay. Luận điểm này có thể được giải thích như sau (Stiglitz và Weiss, 1981).
Việc tăng lãi suất sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của các tổ chức tín dụng theo hai hướng đối nghịch nhau. Một mặt, lãi suất tăng sẽ làm tăng lợi nhuận nếu các yếu tố khác không đổi. Mặt khác, lãi suất tăng lại có thể làm giảm lợi nhuận của các tổ chức tín dụng do ảnh hưởng của sự chọn lựa sai lầm với cơ chế tác động như nhau. Trong thực tế, các dự án đầu tư càng rủi ro thì khả năng sinh lợi càng cao và ngược lại. Do đó, khi lãi suất tăng, khách hàng với dự án ít rủi ro sẽ không vay vì khả năng sinh lợi của dự án khó đủ để trả nợ. Vì vậy, nếu các tổ chức tín dụng tăng lãi suất thì chỉ có khách hàng rủi ro cao chấp nhận vay nên rủi ro của các tổ chức tín dụng sẽ tăng. Hiện tượng này được gọi là sự chọn lựa sai lầm, nghĩa là nếu tăng lãi suất thì các tổ chức tín dụng chỉ chọn được những người vay rủi ro hơn. Chọn lựa sai lầm sẽ làm giảm lợi nhuận của các tổ chức tín dụng vì rủi ro cao hơn đồng nghĩa với xác suất trả nợ của khách hàng thấp đi. Bên cạnh đó, sự gia tăng của lãi suất cũng sẽ làm thay đổi cách lựa chọn dự án đầu tư của người vay. Lãi suất tăng sẽ gây ra thiệt hại nhiều hơn cho các dự án ít rủi ro nhưng có khả năng sinh lợi thấp so với các dự án rủi ro cao nhưng có khả năng sinh lợi cao vì với lãi suất cao các dự án có khả năng sinh lợi thấp dễ bị rơi vào tình trạng lỗ và phá sản. Do đó, sau khi vay vốn, người vay sẽ có xu hướng thực hiện các dự án rủi ro hơn nếu phải trả lãi suất cao hơn. Đây chính là động cơ lệch lạc của người vay. Hiện tượng này cũng làm tăng rủi ro và do đó làm giảm lợi nhuận của các tổ chức tín dụng.
Chính vì hai lý do trên nên các tổ chức tín dụng chỉ tăng lãi suất khi khoản lợi nhuận tăng do lãi suất tăng vẫn còn lớn hơn khoản lợi nhuận giảm dưới ảnh hưởng của chọn lựa sai lầm và động cơ lệch lạc và sau đó không cho vay thêm hay hạn chế tín dụng. Như vậy, để không phải hạn chế tín dụng, các tổ chức tín dụng phải tìm cách giảm thiểu rủi ro, nhưng điều này rất khó vì chi phí chọn lọc, kiểm soát và cưỡng chế khách hàng rất cao vì người dân nông thôn thường vay các khoản nhỏ mà lại sống rải rác trên một địa bàn nông thôn rộng lớn. Ngược lại, do gần gũi nên người cho vay phi chính thức rất hiểu người vay và vì vậy có thể sử dụng các biện pháp cưỡng chế trả nợ rất hiệu quả với chi phí thấp trong khi vẫn có thể duy trì lãi suất cao để thu lợi (Barslund và Tarp, 2008).
3. Bất lợi của người dân nông thôn khi vay tín dụng phi chính thức
Hệ quả của việc các tổ chức tín dụng chính thức hạn chế cho vay ở nông thôn là nhiều người dân nông thôn bị lệ thuộc vào tín dụng phi chính thức nên phải chịu lãi suất rất cao, như đã phân tích ở phần trước. Đặc biệt, ở nông thôn, nhiều khoản vay phi chính thức bằng tiền được thực hiện trước khi mùa thu hoạch bắt đầu (thời điểm giá lương thực cao và những người thiếu ăn cần vay tiền để mua lương thực) phải được hoàn trả bằng hiện vật sau khi thu hoạch, khiến cho lãi suất vay rất cao.
          Để thấy điều đó, hãy xem phân tích sau. Giả sử một người nghèo cần vay số tiền là L0 để mua lương thực với giá P0 vào thời điểm trước thu hoạch. Gọi Q0 là số lương thực mua được, ta có: L0 = P0Q0. Nếu lãi suất cho vay là i thì người vay phải trả số tiền là: L1 = (1 + i)L0 sau khi thu hoạch. Do giá lương thực vào thời điểm sau khi thu hoạch (P1) thấp nên P1 < P0 và số lương thực mà người vay phải trả là: Q1 = L1/P1 > QA = L1/P0. Chênh lệch giữa Q1 và QA được quyết định bởi chênh lệch giữa P0 và P1. Chẳng hạn, nếu Q0 = 30 kg, P0 = 3 đvt/kg (nghĩa là L0 = 90 đvt) và i = 20%.
          Khi đó, người vay sẽ phải trả số tiền là: L1 = (1 + 0,2)clip_image00390 = 108 đvt. Tuy nhiên, sau khi thu hoạch giá lương thực lại giảm đi, giả sử còn 1,5 đvt/kg. Khi đó, số lương thực mà người vay phải dùng để trả nợ sẽ là: 108 đvt/1,5 đvt/kg = 72 kg. Nếu tính bằng hiện vật (số lương thực) thì người vay phải trả lãi suất là:
clip_image004.
Lãi suất này quá cao, khiến cho người nghèo ở nông thôn dễ bị lâm vào tình trạng đói nghèo triền miên một khi đã lỡ vay phi chính thức.
4. Giải pháp
Các phân tích trên cho thấy việc nhiều người dân nông thôn phải phụ thuộc vào tín dụng phi chính thức là do các tổ chức tín dụng chính thức hạn chế cho vay ở nông thôn bởi gặp rủi ro và chi phí giao dịch quá cao trong khi không thể điều chỉnh lãi suất cho thích hợp do bị ràng buộc bởi quy định của chính phủ hay do hệ quả của hiện tượng thông tin bất đối xứng. Do đó, giải pháp hạn chế tín dụng phi chính thức cũng đồng thời là giải pháp tăng cường hoạt động của các tổ chức tín dụng chính thức ở nông thôn.
(i) Trong hệ thống giải pháp trên, chính sách kinh tế vĩ mô đóng vai trò then chốt, nhất là các chính sách ổn định nền kinh tế vĩ mô như kiểm soát lạm phát nhằm giúp các tổ chức tín dụng thẩm định năng lực trả nợ của người vay chính xác hơn để giảm thiểu rủi ro và mạnh dạn mở rộng hoạt động ở khu vực nông thôn. Chính phủ cần hướng dẫn nông dân điều chỉnh cơ cấu mùa vụ hay vật nuôi để tránh hiện tượng thu hoạch quá dồn dập trong khi thị trường đầu ra chưa đảm bảo, khiến cho giá nông sản giảm mạnh khi vào vụ thu hoạch và dẫn đến việc cả thu nhập lẫn khả năng trả nợ của người dân nông thôn bị giảm sút đáng kể. Điều này cũng có nghĩa là phát triển thị trường sản phẩm, đặc biệt là thị trường nông sản, là rất quan trọng.
Ngoài ra, việc phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng (đường giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, v.v.) cũng sẽ góp phần tăng cường việc trao đổi thông tin (kể cả thông tin tín dụng) và mua bán sản phẩm, qua đó làm giảm hiện tượng thông tin bất đối xứng và làm tăng thu nhập của người dân nông thôn. Bên cạnh đó, cần hỗ trợ xây dựng hệ thống bảo hiểm cây trồng, vật nuôi để giúp ổn định thu nhập cho người dân nông thôn. Một khi thu nhập của người vay ổn định thì các tổ chức tín dụng sẽ mạnh dạn hơn trong việc cho vay, từ đó hạn chế tín dụng phi chính thức.
(ii) Các tổ chức tín dụng cũng cần chú trọng đến các sáng kiến giúp tăng hiệu quả hoạt động, như cho vay theo nhóm, trả nợ đều đặn, tuyển dụng người ở địa phương vào làm việc (vì những người này hiểu rất rõ người vay),… cùng với việc đa dạng hóa hoạt động (như huy động tiết kiệm, cung cấp dịch vụ tư vấn hay cung cấp thông tin thị trường) để vừa kinh doanh vừa thu thập thêm thông tin và qua đó am hiểu khách hàng của mình hơn.
(iii) Lý thuyết cũng như thực tiễn đã chứng minh rằng loại hình hợp tác xã tín dụng có rất có ưu thế trong việc khắc phục hiện tượng thông tin bất đối xứng bởi có nhiều ưu điểm:
Thứ nhất, người vay sẽ được thẩm định bởi các thành viên trong ban quản lý hợp tác xã, mà các thành viên này sống ngay ở địa phương nên có đầy đủ thông tin về tài sản, rủi ro và cách thức sử dụng vốn vay của người vay. Thông tin địa phương sẽ giúp các hợp tác xã tín dụng ước lượng được rủi ro của người vay cũng như giảm chi phí giao dịch.
Thứ hai, các hợp tác xã tín dụng sẽ giúp làm giảm tính không hiệu quả của thị trường tín dụng do thông tin không hoàn hảo. Chẳng hạn, việc một xã viên giàu bảo lãnh cho một xã viên nghèo vay sẽ tạo ra sự gắn kết chặt chẽ hơn ở địa phương và cũng là dấu hiệu về uy tín của người vay. Hợp tác xã tín dụng cũng hiệu quả hơn trong việc kiểm soát và cưỡng chế các hợp đồng tín dụng bằng cách kết hợp thông tin địa phương với quan hệ cộng đồng, qua đó nâng cao tỷ lệ trả nợ. Do người vay sống gần nhau và hiểu biết lẫn nhau nên năng lực và hành vi của từng người có thể được theo dõi một cách sát sao và chịu ảnh hưởng rất lớn của các quy ước đạo đức xã hội ở địa phương.
Các hợp tác xã tín dụng còn có một đặc thù quan trọng nữa là cung cấp dịch vụ tiền gửi để huy động các khoản tiết kiệm nhỏ. Việc huy động tiết kiệm của các hợp tác xã tín dụng là điểm mấu chốt để đảm bảo rằng việc trả nợ được quan tâm và kiểm soát một cách đầy đủ. Nếu các khoản cho vay chủ yếu là từ tiền tiết kiệm ngay tại địa phương thì người gửi tiền tiết kiệm sẽ tham gia (mặc dù có thể là gián tiếp) vào quá trình kiểm soát cách thức sử dụng vốn của người vay và quyết định cho vay của các hợp tác xã tín dụng. Khi đó, nguồn tiền tiết kiệm sẽ được sử dụng tốt hơn để làm lợi cho cả người tiết kiệm và người vay. Chính vì những lý do trên nên cần khuyến khích thành lập các hợp tác xã tín dụng ở nông thôn.
5. Kết luận
Việc các tổ chức tín dụng chính thức ngần ngại cho vay ở nông thôn do gặp phải chi phí giao dịch và rủi ro cao đã dẫn đến tình trạng là nhiều người dân nông thôn phải bị phụ thuộc vào tín dụng phi chính thức và phải trả lãi suất rất cao.
Do đó, cần có biện pháp khuyến khích các tổ chức tín dụng chính thức tăng cường cho vay ở nông thôn thông qua việc tạo lập một môi trường kinh doanh thuận lợi bằng cách giảm thiểu các khuyết tật của thị trường như thông tin không bất đối xứng, giá sản phẩm không ổn định, thu nhập thấp và bấp bênh, kết cấu hạ tầng yếu kém, thiếu cơ chế bảo hiểm cây trồng và vật nuôi, … nhằm giúp các tổ chức tín dụng hoạt động có hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, cần khuyến khích các tổ chức tín dụng vận dụng các sáng kiến như cho vay theo nhóm, trả nợ đều đặn, tuyển dụng người ở địa phương vào làm việc, đa dạng hóa hoạt động,… để giúp hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của thông tin bất đối xứng và từ đó có thể cho vay nhiều hơn mà ít gặp rủi ro hơn. Cuối cùng, cần hỗ trợ để thành lập các hợp tác xã tín dụng vì loại hình tổ chức tín dụng này có thể làm giảm ảnh hưởng của thông tin bất đối xứng nhờ vào việc các thành viên trong hợp tác xã là những người sống ở địa phương, có mối quan hệ ràng buộc xã hội, đạo đức và kinh tế nên có thể làm tốt hơn chức năng cung ứng vốn cho người dân nông thôn, nhất là người nghèo sống ở các vùng xa xôi.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.       Barslund, M. và F. Tarp, 2008, “Formal and Informal Rural Credit in Four Provinces of Vietnam,” World Development 44(4), tr. 485–503.
2.       Boucher, S. và C. Guirkinger, 2007, “Risk, Wealth, and Sectoral Choice in Rural Credit Markets,” American Journal of Agricultural Economics 89(4), tr. 991–1004.
3.       Jonathan Conning và Christopher Udry (2007), Rural Financial Markets in Developing Countries, Handbool of Agricultural Economics Vol. 3, tr. 2858 – 2900.
4.       Fletschner, D., 2009, “Rural Womens Access to Credit: Market Imperfections and Intrahousehold Dynamics,” World Development 37(3), tr. 618–631.
5.       Dương, P.V., 2010, Phân tích yếu tố quyết định việc vay vốn của hộ nông dân ở tỉnh An Giang, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Cần Thơ.
6.       Stiglitz, J.E. & A. Weiss, 1981, “Credit Rationing in Markets with Imperfect Information,” American Economic Review 71, 393–410.
7.       Tsai, K.S., 2004, “Imperfect Substitutes: The Local Political Economy of Informal Finance and Microfinance in Rural China and India,” World Development 32(9), tr. 1487–1507.
8.       Turvey, C.G. và R. Kong, 2010, “Informal Lending Amongst Friends and Relatives: Can Microcredit Compete in Rural China?” China Economic Review.
Nguồn: TẠP CHÍ NGÂN HÀNG SỐ 5/2011

Chủ Nhật, 10 tháng 4, 2011

Nước Nhật là một xã hội thiền

Đối diện với thế gian “vô thường” bằng cảnh giới “thường”, người Nhật đã vượt qua chính mình từ đó.
Sau trận động đất kinh hoàng kéo theo sóng thần xảy ra ngày 11/3 tại vùng đông bắc nước Nhật, cư dân trên địa cầu lại bị “chấn động” bởi tinh thần quật cường, ý chí bền bỉ, dẻo dai, phẩm chất khắc kỷ, tự trọng và tâm thái cam chịu, bình thản tuyệt vời của người dân Nhật. Những dấu hiệu ban đầu càng cho thấy sức mạnh hồi sinh tiềm ẩn đằng sau một dân tộc từ lâu đã hứng chịu nhiều thiên tai. Và điều đáng nói nhất ở đây đó là tâm thái của người Nhật – một tâm thái “thường” trước những diễn biến “vô thường” trên thế gian.

Cách ứng xử văn hóa của người Nhật trong thời khắc sinh tử, khi con người phải đối diện với vấn đề hiện sinh càng khiến cho nhiều người bàng hoàng. Tinh thần Nhật không đi từ chiều rộng hoành tráng của chiến dịch “chống thiên tai”, mà thấm xuống tầng sâu, bằng những chi tiết nhỏ đi vào tâm hồn và lòng trắc ẩn của con người. Trong cuốn “Sự va chạm của các nền văn minh”, tác giả Samuel Huntington từng chỉ ra sự lúng túng của nhiều nhà nghiên cứu trong việc sắp xếp nền văn minh Nhật. Từng chịu ảnh hưởng bởi văn minh Trung Hoa, Châu Âu, nhưng rốt cuộc, “Nhật Bản về mặt văn hóa là một nước đơn độc”, hiểu theo ngôn ngữ đương đại, đó là quốc gia có bản sắc văn hóa.

Rất nhiều bài báo mô tả quang cảnh trật tự xếp hàng nhận thực phẩm cứu trợ của người Nhật nhằm ngợi ca tính kỷ luật của người dân nơi đây. Thực tế, thói quen xếp hàng phổ biến ở nhiều quốc gia công nghiệp, người dân nước ta vào thời kỳ bao cấp cũng từng xếp hàng “rồng rắn” để hứng nước hay mua nhu yếu phẩm... Song, chúng ta cần khu biệt giữa xếp hàng trong điều kiện “thường” và “vô thường”. Tính kỷ luật của người Việt nói chung phổ biến bằng hành vi chịu sự ràng buộc bởi thuộc tính ngoại tại, khi thiếu giám sát, nó sẽ tự giải cấu (giải thể cơ cấu). Giống như việc tham gia giao thông, có cảnh sát, người ta dừng trước đèn đỏ, còn không có công an, đèn xanh, đèn đỏ hay đèn vàng đều “vô phân biệt”. Nói thế nhằm tránh lối tư duy suy diễn giản đơn theo kiểu “nhân rộng”, “sinh sản vô tính” một cách hồn nhiên tinh thần, văn hóa Nhật. Vì, dù rằng chúng ta có thượng tôn pháp luật hay thực thi nghiêm khắc, chắc sẽ chỉ có tác dụng trong điều kiện “thường” mà thôi! Cái “giới” bên ngoài và “giới” bên trong vốn khác nhau, giữa một đằng là hành vi “tự lập pháp” còn một bên là “luật pháp”.

Công dân Nhật là những người được giáo dục bằng lòng tự trọng, tự kỷ, tự lập pháp, nên giá trị văn hóa mà họ thủ đắc có tác dụng điều tiết hành vi một cách đơn độc như chính nền văn hóa “độc nhất vô nhị” này phơi bày ra trước nhiều niền văn minh khác. Chúng ta đã biết về tinh thần thượng võ của giới Samurai. Tinh thần ấy cũng phủ lấp cả giới nhân sĩ, trí sĩ, cùng nhiều công dân đất nước Nhật. Chính vì thế, việc xếp hàng trật tự như nhiều báo chí mô tả không chỉ đơn thuần nằm ở khía cạnh đạo đức, hay pháp luật. Tính kỷ luật của hệ giá trị Pháp luật chủ yếu phát huy tác dụng trong điều kiện “thường”, còn trong tình trạng “vô thường”, hay vô chính phủ, thiếu người giám sát, Pháp luật sẽ giảm tác dụng đáng kể, thậm chí mất đi chức năng điều tiết hành vi vốn có. Vì thế, những biểu hiện của tinh thần Nhật không thể lý giải bằng tư duy “luật” thường. Qua những dẫn chứng hiển hiện trên bề nổi, tảng băng chìm sâu dưới lòng văn hóa ấy cho thấy nước Nhật chính là một xã hội Thiền!

Mặc dù Thiền tông du nhập Nhật Bản khá muộn (thế kỷ XII), nhưng có ảnh hưởng sâu rộng tới văn hóa Nhật Bản, thậm chí trở thành hình thái ý thức của xã hội Nhật. Và hình thái ý thức ở đây cần được hiểu theo nghĩa của Louis Althusser, nhà triết học người Pháp nổi tiếng thế kỷ XX là hình thái ý thức đã được vô thức hóa, tiềm ẩn, không hiện hữu, nhưng chi phối đời sống xã hội. Để tìm hiểu nó, người ta không chỉ dựa vào ngôn ngữ, hệ thống tái hiện, mà còn phải tham chiếu hình thức vật chất, hiểu là những sản phẩm văn hóa được sản sinh qua lăng kính của Thiền tông.

Thiền có nhiều cách hiểu khác nhau, ban đầu chỉ đơn giản là tinh thần coi cái chết như là sự trở về, “sinh tử như một” phổ biến trong giới võ sĩ đạo, sau triển khai thành quan niệm sống bình dị, giản đơn, coi trọng hiện tại, từ khoảnh khắc tĩnh lặng, tịch mịch, bình thản cho đến tâm thái hồn nhiên như mây trời, gió nước… Thiền là phương thuốc diệu dụng chữa trị căn bệnh sốc nổi của tâm hồn con người. Đối diện với thế gian “vô thường” bằng cảnh giới “thường”, người Nhật đã vượt qua chính mình từ đó. Lòng Thiền (lòng tin, lòng yêu thương, lòng thành tâm) đủ sức gánh chịu tất cả, kể cả động đất và sóng thần như vừa xảy ra.

Thiền không chỉ là hình thái ý thức, một khung tư tưởng khuôn con người vào những quy phạm hành vi hay đạo đức mà còn là hệ giá trị thuộc về bản thể của nền văn hóa Nhật. Chúng ta biết, người Nhật từ nhỏ đã quen với cách ngồi Du già (tư thế Vajrâsana), một kiểu ngồi Thiền trong Yoga nhằm rèn luyện sức bền bỉ, dẻo dai và quan trọng là tĩnh tâm. Nhạc Nhật là một ví dụ điển hình về sự lĩnh hội đi vào chiều sâu tĩnh lặng, cộng hưởng với nhịp đập bên trong. Tác phẩm âm nhạc truyền thống nổi tiếng thế giới của Nhật là bản Sakura minh chứng rất rõ cho điều này. Những người chơi nhạc đều biết, cái khó của Sakura không nằm ở nốt đàn, mà nằm trong sự thể hiện chiều sâu nội tại, đặc biệt là sự ổn định về tiết nhịp. Người vội vàng, hấp tấp, tính khí nóng nảy, khó thể đàn hay được tác phẩm phẩm này. Vì, Sakura cần sự ổn định từ bên trong, một sự thẩm thấu nội tại, không phải chu kỳ đều đặn của chiếc máy đập nhịp.


Tôi có dịp tiếp xúc với trẻ Nhật nhờ dạy chúng học nhạc. Điều dễ dàng nhận thấy sự khác biệt giữa trẻ em Nhật và các dân tộc khác là chúng rất “tĩnh”, ít hiếu động hơn hẳn so với con nít ở ta. Bởi vậy, tính chuyên chú của trẻ em Nhật Bản đặc biệt cao. Chúng ta không nên vội vàng đưa ra kết luận cho hai cách giáo dục ở hai nền văn hóa khác biệt. Nhưng, qua đó nhằm lý giải cho tình hình hiện nay của nước Nhật. Nhờ vào tu Thiền, dù ý thức hay vô thức giúp cho người Nhật cực kỳ tinh tế, tinh xảo, chuyên chú cao độ để làm ra những sản phẩm tuy phổ biến, nhưng độc đáo, từ Trà đạo, Bonsai cho đến võ thuật, nghệ thuật, tư tưởng… Thiền của người Nhật là thứ tham Thiền trong cuộc sống, một tinh thần dấn thân, tiến lên “núi có hổ” nhằm hướng dẫn cuộc sống. Và đặc biệt, nhờ vào trí tuệ Thiền, người Nhật mới giữ được tâm thái thường trong điều kiện bất thường, “định” ngay cả khi “vô thường”. Phẩm chất ấy thuộc về điểm cực hạn trong giới hạn thường, nhưng nó cũng chính là “thường” trong pháp Thiền bao la.

Nguồn: Tạp chí Tia Sáng