Hiển thị các bài đăng có nhãn vụ án kinh doanh thương mại. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn vụ án kinh doanh thương mại. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 25 tháng 12, 2012

Nhận đơn khởi kiện và thụ lý vụ án kinh doanh thương mại


Công việc chính và kỹ năng thực hiện:
  • Thủ tục nhận đơn, kiểm tra đơn khởi kiện, cũng như việc xác định thẩm quyền, thời hiệu khởi kiện, v.v. giống như thủ tục giải quyết vụ án dân sự .
  • Các tranh chấp về kinh doanh, thương mại mà một hoặc các bên không có đăng ký kinh doanh, nhưng đều có mục đích lợi nhuận thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa kinh tế (điểm b tiểu mục 1.1 mục 1 phần I Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP).
  • Khi nhận đơn khởi kiện, Thẩm phán phải kiểm tra, xem xét các tài liệu gửi kèm theo đơn kiện (hợp đồng kinh tế) để xác định trong vụ tranh chấp đó các bên có thoả thuận trọng tài hay không. Nếu có căn cứ cho thấy trong vụ tranh chấp đó các bên đã có thoả thuận trọng tài thì Toà án căn cứ vào điểm e Điều 168 BLTTDS để trả lại đơn kiện cho người khởi kiện (tiểu mục 1.1 mục 1 Nghị quyết số 05/2003/NQ-HĐTP).
  • Trong trường hợp sau khi thụ lý vụ án Toà án mới phát hiện được trong vụ tranh chấp đó các bên đã có thoả thuận trọng tài, thì Toà án căn cứ vào Điều 168, khoản 2 Điều 192 vàĐiều 193 của BLTTDSra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án, trả lại đơn kiện và các tài liệu gửi kèm theo đơn kiện cho đương sự (tiểu mục 1.1 mục 1 Nghị quyết số 05/2003/NQ-HĐTP).
  • Thẩm quyền của TAND các cấp:
-     TAND cấp huyện giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại được quy định từđiểm a đến điểm i khoản 1 Điều 29 của BLTTDS;
-     TAND cấp tỉnh giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại được quy định từđiểm k đến điểm o khoản 1 Điều 29 và tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 29 của BLTTDS.
  • Khi Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử vụ án phát hiện ra vụ án không thuộc thẩm quyền của Toà kinh tế thì sẽ xử lý theo hướng dẫn tại tiểu mục 1.1 mục 1 Nghị quyết số 05/2003/NQ-HĐTP.
  • Trong quá trình chuẩn bị xét xử, Thẩm phán phải xem xét xác định vụ án thuộc loại án cụ thể nào trong số những loại án được quy định tại Điều 29 BLTTDS để áp dụng đúng luật chuyên ngành điều chỉnh loại quan hệ pháp luật đó.
  • Khi giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại Thẩm phán phải tuân theo Luật TM và pháp luật có liên quan. Hoạt động thương mại đặc thù được quy định trong luật khác thì Thẩm phán áp dụng quy định của luật đó. Hoạt động thương mại không được quy định trong Luật TM và trong các luật khác thì Thẩm phán áp dụng quy định của Bộ luật dân sự.
  • Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên, nếu có thành viên là cá nhân làm người đại diện theo pháp luật của công ty bị tạm giữ, tạm giam, trốn khỏi nơi cư trú, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị Toà án tước quyền hành nghề vì phạm các tội buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép, trốn thuế, lừa dối khách hàng và các tội khác theo quy định của pháp luật thì thành viên còn lại đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của công ty cho đến khi có quyết định mới của Hội đồng thành viên (khoản 2 Điều 12 Nghị định số 139/2007/NĐ-CP).
Ls Phan Khắc Nghiêm

Các bên đương sự có được quyền lựa chọn tòa án giải quyết tranh chấp kinh tế -thương mại không


Câu hỏi: 
1/ Công ty A và công ty B ký hợp đồng vay vốn tín dụng. Trong hợp đồng kinh tế này không có điều khoản nếu có tranh chấp không tự giải quyết được thì hai bên sẽ cùng nhau đưa ra tòa án nơi nào giải quyết. Khi tranh chấp xảy ra, 2 bên thống nhất chọn Tòa án tỉnh Q giải quyết, tuy nhiên vụ án này lại thuộc thẩm quyền giải quyết của huyện B. Như vậy, tòa án tỉnh Q thụ lý giải quyết có đúng thẩm quyền không?
2/ Tranh chấp kinh tế: Tòa án tỉnh A thụ lý không đúng thẩm quyền. Sau chuyển cho Tòa án tỉnh B thụ lý lại. Vậy Tòa án tỉnh B có phải làm lại tất cả các thủ tục mà Tòa án A đã làm rồi không? (Ví dụ như hòa giải...)
Trả lời (Có tính chất tham khảo)
Về câu hỏi thứ nhất, tôi xin được tư vấn như sau:
Do thông tin bạn cung cấp rất chung chung, tôi không được rõ toà án tỉnh Q mà hai bên thoả thuận có liên quan như thế nào với hai bên tranh chấp, cụ thể: là nơi một trong hai bên đặt trụ sở? nơi thực hiện hợp đồng?... nên tôi xin được tư vấn như sau để bạn tuỳ theo tình huống thực tế mà xem xét.
 Về tranh chấp kinh tế, việc thoả thuận chọn nơi giải quyết tranh chấp chỉ có ý nghĩa trong việc chọn Trọng tài thương mại (theo Luật Trọng tài thương mại), chứ không có ý nghĩa trong việc chọn Toà án giải quyết. Vì vậy, việc trong hợp đồng có thoả thuận hay không, và thoả thuận vào thời điểm nào không có ý nghĩa pháp lý. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là không được chọn Toà án giải quyết vụ việc, nhưng việc chọn Toà án không được tự do như lựa chọn Trọng tài thương mại do Toà án là một cơ quan nhà nước nên việc lựa chọn phải đáp ứng các yêu cầu luật định và quyền lựa chọn chỉ thuộc về quyền của bên nguyên đơn (trong trường hợp bạn hỏi, sự thoả thuận của hai bên cũng có giá trị như sự lựa chọn của nguyên đơn). Pháp luật quy định cụ thể về vấn đề này như sau:
Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011, Điều 36 quy định về thẩm quyền của Toà án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu, như sau:
1. Nguyên đơn có quyền lựa chọn Toà án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây:
a) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết;
b) Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết;
c) Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ án về tranh chấp việc cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết;
d) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết;
đ) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội, quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác đối với người lao động thì nguyên đơn là người lao động có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết;
e) Nếu tranh chấp phát sinh từ việc sử dụng lao động của người cai thầu hoặc người có vai trò trung gian thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi người sử dụng lao động là chủ chính cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi người cai thầu, người có vai trò trung gian cư trú, làm việc giải quyết;
g) Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết;
h) Nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;
i) Nếu tranh chấp bất động sản mà bất động sản có ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi có một trong các bất động sản giải quyết.
Như vậy, trong trường hợp bạn hỏi, nếu toà án tỉnh Q là nơi hợp đồng giữa A và B được thực hiện thì Toà án tỉnh Q có thẩm quyền giải quyết vụ việc.
Về câu hỏi thứ hai, tôi xin trả lời như sau:
Khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011 quy định về vấn đề Chuyển vụ việc dân sự cho Toà án khác, giải quyết tranh chấp về thẩm quyền như sau:
1. Vụ việc dân sự đã được thụ lý mà không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án đã thụ lý thì Toà án đó ra quyết định chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho Toà án có thẩm quyền và xoá sổ thụ lý. Quyết định này phải được gửi ngay cho đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan.
Đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Chánh án Toà án đã ra quyết định chuyển vụ việc dân sự phải giải quyết khiếu nại.
Theo đó, mục 6, phần I Thẩm quyền của Toà án, Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 quy định cụ thể như sau:
Khi xét thấy vụ việc dân sự đã được thụ lý không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình mà thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân địa phương khác cùng cấp hoặc khác cấp, thì Toà án đã thụ lý vụ việc dân sự ra quyết định chuyền hồ sơ vụ việc dân sự cho Toà án có thẩm quyền và xoá sổ thụ lý. Trong trường hợp đương sự đã nộp tiền tạm ứng án phí, thì Toà án chuyển hồ sơ vụ việc dân sự không phải trả lại tiền tạm ứng án phí cho đương sự mà tiền tạm ứng án phí đã nộp được xử lý khi Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Quyết định chuyển hồ sơ vụ việc dân sự do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc dân sự ký tên và đóng dấu của Toà án. Quyết định này phải được gửi ngay cho đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan. Toà án có thẩm quyền sau khi nhận được quyết định chuyển vụ việc dân sự và hồ sơ vụ việc dân sự phải vào sổ thụ lý và tiếp tục giải quyết vụ việc đó theo quy định chung.
Như vậy, căn cứ quy định nêu trên, trong trường hợp Toà án A thụ lý vụ việc không đúng thẩm quyền, chuyển hồ sơ vụ việc cho Toà án B, thì Toà án B chỉ tiếp tục giải quyết vụ việc chứ không thực hiện lại các thủ tục mà toà án A đã thực hiện.

Ls Phan Khắc Nghiêm