Hiển thị các bài đăng có nhãn định giá. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn định giá. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 14 tháng 12, 2012

Đánh giá điểm mới theo luật thi hành án về kê biên, định giá và bán đấu giá tài sản thi hành án


Kê biên, định giá và bán đấu giá tài sản là một trong những biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự có tính nghiêm khắc nhất trong các biện pháp cưỡng chế. Theo đó, cơ quan thi hành án đã tước bỏ hẳn quyền tự định đoạt tài sản của đương sự là người phải thi hành án có nghĩa vụ trả tiền theo quyết định của bản án, quyết định của Tòa án. Các trình tự thủ tục để thực hiện biện pháp nghiệp vụ này đòi hỏi Chấp hành viên phải hết dức chặt chẽ, áp dụng đúng những quy định của pháp luật để giải quyết công việc.
             Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật để thi hành theo trình tự, thủ tục này gặp không ít khó khăn và vướng mắc nhất định. Vì luật thi hành án dân sự năm 2008 mới ban hành, có một quy định chưa được cụ thể hóa hoặc hướng dẫn chi tiết thi hành án, dẫn đến khi có vấn đề phát sinh Chấp hành viên lúng túng không biết cách để tháo gở, giải quyết.
PHẦN THỨ NHẤT
NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NĂM 2008 VỀ KÊ BIÊN, ĐỊNH GIÁ VÀ BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN 
I. NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT THI HÀNH ÁN VỀ KÊ BIÊN TÀI SẢN:
Luật thi hành án dân sự được ban hành trên cơ sở kế thừa một số quy định của Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 và thực tiễn công tác thi hành án trong thời gian qua. Vì vậy, Luật thi hành án có những điểm rất mới về kê biên tài sản trong thi hành án.
1. LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ QUY ĐịNH CỤ THỂ TỪNG TRƯỜNG HỢP KÊ BIÊN TÀI SẢN:
Căn cứ vào từng đối tượng tài sản khác nhau, Luật thi hành án quy định từng biện pháp kê biên khác nhau để thi hành nghĩa vụ trả tiền theo bản án, quyết định của Tòa án.
Theo Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004, tài sản bị kê biên chỉ quy định một các chung chung, không cụ thể. Nhưng Luật thi hành án dân sự 2008 phân loại ra từng đối tượng tài sản cụ thể để có biện pháp cưỡng chế thích hợp. Chẳng hạn, đối với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ, thì Điều 84 quy định như sau:
"Điều 84. Kê biên, sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ
1. Chấp hành viên ra quyết định kê biên quyền sở hữu trí tuệ thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án.
Trường hợp người phải thi hành án là chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ chuyển quyền sử dụng quyền sở hữu trí tuệ cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thì quyền sở hữu trí tuệ vẫn bị kê biên.
2. Khi kê biên quyền sở hữu trí tuệ của người phải thi hành án, tùy từng đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ, Chấp hành viên thu giữ các giấy tờ có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ của người phải thi hành án.
3. Trường hợp nhằm bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và lợi ích của Nhà nước, xã hội quy định tại Luật sở hữu trí tuệ mà Nhà nước quyết định chủ sở hữu trí tuệ phải chuyển giao quyền của mình cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác sử dụng trong thời gian nhất định thì Chấp hành viên không được kê biên quyền sở hữu trí tuệ của người phải thi hành án trong thời gian bắt buộc phải chuyển giao.
4. Chấp hành viên quyết định giao cho cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ phải nộp số tiền thu được sau khi trừ các chi phí cần thiết cho cơ quan thi hành án dân sự để thi hành án.
Trường hợp cần thiết, Chấp hành viên yêu cầu tổ chức chuyên môn, nghề nghiệp về sở hữu trí tuệ thu và quản lý thu nhập, lợi nhuận từ việc sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ của người phải thi hành án.
5. Trường hợp người phải thi hành án đã chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác mà chưa được thanh toán hoặc mới được thanh toán một phần tiền thì Chấp hành viên ra quyết định buộc cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao nộp khoản tiền chưa thanh toán để thi hành án”.
Đối với tài sản là vật thì Luật thi hành án dân sự quy định như sau:
" Điều 93. Kê biên đồ vật bị khóa, đóng gói
Khi kê biên đồ vật đang bị khoá hoặc đóng gói thì Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang sử dụng, quản lý đồ vật mở khoá, mở gói; nếu họ không mở hoặc cố tình vắng mặt thì Chấp hành viên tự mình hoặc có thể thuê cá nhân, tổ chức khác mở khoá, phá khoá hoặc mở gói, trong trường hợp này phải có người làm chứng. Người phải thi hành án phải chịu thiệt hại do việc mở khoá, phá khóa, mở gói.
Trường hợp cần thiết, sau khi mở khoá, phá khoá, mở gói, Chấp hành viên niêm phong đồ vật và giao bảo quản theo quy định tại Điều 58 của Luật này.
Việc mở khoá, phá khoá, mở gói hoặc niêm phong phải lập biên bản, có chữ ký của những người tham gia và người làm chứng.
Điều 94. Kê biên tài sản gắn liền với đất
Khi kê biên tài sản là công trình xây dựng gắn liền với đất phải kê biên cả quyền sử dụng đất, trừ trường hợp quyền sử dụng đất không được kê biên theo quy định của pháp luật hoặc việc tách rời tài sản kê biên và đất không làm giảm đáng kể giá trị tài sản đó.
Điều 95. Kê biên nhà ở
1. Việc kê biên nhà ở là nơi ở duy nhất của người phải thi hành án và gia đình chỉ được thực hiện sau khi xác định người đó không có các tài sản khác hoặc có nhưng không đủ để thi hành án, trừ trường hợp người phải thi hành án đồng ý kê biên nhà ở để thi hành án.
2. Khi kê biên nhà ở phải kê biên cả quyền sử dụng đất gắn liền với nhà ở. Trường hợp nhà ở gắn liền với đất thuộc quyền sử dụng của người khác thì Chấp hành viên chỉ kê biên nhà ở và quyền sử dụng đất để thi hành án nếu người có quyền sử dụng đất đồng ý. Trường hợp người có quyền sử dụng đất không đồng ý thì chỉ kê biên nhà ở của người phải thi hành án, nếu việc tách rời nhà ở và đất không làm giảm đáng kể giá trị căn nhà.
3. Khi kê biên nhà ở của người phải thi hành án đang cho thuê, cho ở nhờ thì Chấp hành viên phải thông báo ngay cho người đang thuê, đang ở nhờ biết.
Trường hợp tài sản kê biên là nhà ở, cửa hàng đang cho thuê được bán đấu giá mà thời hạn thuê hoặc thời hạn lưu cư vẫn còn thì người thuê có quyền tiếp tục được thuê hoặc lưu cư theo quy định của Bộ luật dân sự.
4Việc kê biên nhà ở bị khoá được thực hiện theo quy định tại Điều 93 của Luật này.
Điều 96. Kê biên phương tiện giao thông
1. Trường hợp kê biên phương tiện giao thông của người phải thi hành án, Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng phương tiện đó phải giao giấy đăng ký phương tiện đó, nếu có.
2. Đối với phương tiện giao thông đang được khai thác sử dụng thì sau khi kê biên Chấp hành viên có thể thu giữ hoặc giao cho người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tiếp tục khai thác sử dụng, bảo quản nhưng không được chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp.
Trường hợp giao cho người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tiếp tục khai thác sử dụng phương tiện giao thông thì Chấp hành viên cấp cho người đó biên bản thu giữ giấy đăng ký để phương tiện được phép tham gia giao thông.
3. Chấp hành viên có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấm chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp, cho thuê hoặc hạn chế giao thông đối với phương tiện bị kê biên.
4. Việc kê biên đối với tàu bay, tàu biển để thi hành án được thực hiện theo quy định của pháp luật về bắt giữ tàu bay, tàu biển.
Điều 97. Kê biên hoa lợi
Trường hợp người phải thi hành án có tài sản mang lại hoa lợi, Chấp hành viên kê biên hoa lợi đó để bảo đảm thi hành án. Đối với hoa lợi là lương thực, thực phẩm thì khi kê biên, Chấp hành viên phải để lại một phần để người phải thi hành án và gia đình họ sinh sống theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 87 của Luật này”.
Căn cứ vào hình thức sở hữu tài sản để áp dụng các biện pháp kê biên thích hợp:
Điều 89. Kê biên tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm
1. Trước khi kê biên tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật, Chấp hành viên yêu cầu cơ quan đăng ký cung cấp thông tin về tài sản, giao dịch đã đăng ký.
2. Sau khi kê biên, Chấp hành viên thông báo bằng văn bản cho cơ quan đăng ký về việc kê biên tài sản đó để xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Luật này.
Điều 90. Kê biên, xử lý tài sản đang cầm cố, thế chấp
1. Trường hợp người phải thi hành án không còn tài sản nào khác hoặc có tài sản nhưng không đủ để thi hành án, Chấp hành viên có quyền kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp nếu giá trị của tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án.
            2. Khi kê biên tài sản đang cầm cố, thế chấp, Chấp hành viên phải thông báo ngay cho người nhận cầm cố, nhận thế chấp; khi xử lý tài sản kê biên, người nhận cầm cố, nhận thế chấp được ưu tiên thanh toán theo quy định tại khoản 3 Điều 47 của Luật này.
Điều 91. Kê biên tài sản của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ
Trường hợp xác định người thứ ba đang giữ tài sản của người phải thi hành án, kể cả trường hợp tài sản được xác định bằng bản án, quyết định khác thì Chấp hành viên ra quyết định kê biên tài sản đó để thi hành án; trường hợp người thứ ba không tự nguyện giao tài sản thì Chấp hành viên cưỡng chế buộc họ phải giao tài sản để thi hành án.
Trường hợp tài sản kê biên đang cho thuê thì người thuê được tiếp tục thuê theo hợp đồng đã giao kết.
Điều 92. Kê biên vốn góp
1. Chấp hành viên yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức nơi người phải thi hành án có vốn góp cung cấp thông tin về phần vốn góp của người phải thi hành án để kê biên phần vốn góp đó. Trong trường hợp cần thiết, Chấp hành viên yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác định phần vốn góp của người phải thi hành án; trưng cầu tổ chức, cá nhân có chuyên môn xác định phần giá trị vốn góp của người phải thi hành án để cưỡng chế thi hành án.
2. Đương sự có quyền yêu cầu Toà án xác định phần vốn góp của người phải thi hành án”.

2. LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ QUY ĐịNH CHặT CHẼ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC KÊ BIÊN TÀI SẢN:
Theo pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004, các trình tự, thủ tục trong việc kê biên tài sản chỉ quy định chung chung, không rõ ràng tách bạch với các biện pháp cưỡng chế thi hành án khác. Nhưng đến Luật thi hành án, trình tự, thủ tục thực hiện việc kê biên tài sản được quy định một cách chi tiết và đầy đủ hơn.
Điều 88. Thực hiện việc kê biên
1. Trước khi kê biên tài sản là bất động sản ít nhất là 03 ngày làm việc, Chấp hành viên thông báo cho đại diện chính quyền cấp xã hoặc đại diện tổ dân phố nơi tổ chức cưỡng chế, đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, tài sản kê biên, trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án.
Trường hợp đương sự vắng mặt thì có thể uỷ quyền cho người khác thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình. Trường hợp đã được thông báo hợp lệ mà đương sự hoặc người được uỷ quyền vắng mặt thì Chấp hành viên vẫn tiến hành việc kê biên, nhưng phải mời người làm chứng và ghi rõ vào nội dung biên bản kê biên. Trường hợp không mời được người làm chứng thì Chấp hành viên vẫn tiến hành việc kê biên nhưng phải ghi rõ vào nội dung biên bản kê biên.
Khi kê biên đồ vật, nhà ở, công trình kiến trúc nếu vắng mặt người phải thi hành án hoặc người đang quản lý, sử dụng tài sản đó mà phải mở khoá, phá khoá, mở gói thì Chấp hành viên thực hiện theo quy định tại Điều 93 của Luật này.
2. Việc kê biên tài sản phải lập biên bản. Biên bản phải ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm kê biên, họ, tên Chấp hành viên, đương sự hoặc người được ủy quyền, người lập biên bản, người làm chứng và người có liên quan đến tài sản; diễn biến của việc kê biên; mô tả tình trạng từng tài sản, yêu cầu của đương sự và ý kiến của người làm chứng.
Biên bản kê biên có chữ ký của đương sự hoặc người được uỷ quyền, người làm chứng, đại diện chính quyền cấp xã hoặc đại diện tổ dân phố nơi tổ chức cưỡng chế, Chấp hành viên và người lập biên bản”.

Trước khi tiến hành kê biên, Chấp hành viên phải xác minh tài sản xem có thuộc diện không được kê biên hay không để có biện pháp xử lý thích hợp. Những tài sản không được kê biên đuợc quy định tại Điều 87 như sau:
"Điều 87. Tài sản không được kê biên
1. Tài sản bị cấm lưu thông theo quy định của pháp luật; tài sản phục vụ quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng; tài sản do ngân sách nhà nước cấp cho cơ quan, tổ chức.
2. Tài sản sau đây của người phải thi hành án là cá nhân:
a) Số lương thực đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người phải thi hành án và gia đình trong thời gian chưa có thu nhập, thu hoạch mới;
b) Số thuốc cần dùng để phòng, chữa bệnh của người phải thi hành án và gia đình;
c) Vật dụng cần thiết của người tàn tật, vật dụng dùng để chăm sóc người ốm;
d) Đồ dùng thờ cúng thông thường theo tập quán ở địa phương;
đ) Công cụ lao động cần thiết, có giá trị không lớn được dùng làm phương tiện sinh sống chủ yếu hoặc duy nhất của người phải thi hành án và gia đình;
e) Đồ dùng sinh hoạt cần thiết cho người phải thi hành án và gia đình.
3. Tài sản sau đây của người phải thi hành án là doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sảnxuất, kinh doanh, dịch vụ:
a) Số thuốc phục vụ việc phòng, chữa bệnh cho người lao động; lương thực, thực phẩm, dụng cụ và tài sản khác phục vụ bữa ăn cho người lao động;
b) Nhà trẻ, trường học, cơ sở y tế và thiết bị, phương tiện, tài sản khác thuộc các cơ sở này, nếu không phải là tài sản để kinh doanh;
c) Trang thiết bị, phương tiện, công cụ bảo đảm an toàn lao động, phòng, chống cháy nổ, phòng, chống ô nhiễm môi trường”.

II. NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 2008 VỀ ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN ĐÃ KÊ BIÊN
Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 có quy định về nội dung và hình thức định giá tài sản. Nhưng Luật thi hành án dân sự năm 2008 có quy định định mới về việc định giá tài sản thông qua tổ chức thẩm định giá, cụ thể, tài Điều 98 quy định như sau:
" Điều 98. Định giá tài sản kê biên
1. Ngay khi kê biên tài sản mà đương sự thoả thuận được về giá tài sản hoặc về tổ chức thẩm định giá thì Chấp hành viên lập biên bản về thỏa thuận đó. Giá tài sản do đương sự thoả thuận là giá khởi điểm để bán đấu giá. Trường hợp đương sự có thoả thuận về tổ chức thẩm định giá thì Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá đó.
2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày kê biên tài sản, Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có tài sản kê biên trong các trường hợp sau đây:
a) Đương sự không thoả thuận được về giá và không thoả thuận được việc lựa chọn tổ chức thẩm định giá;
b) Tổ chức thẩm định giá do đương sự lựa chọn từ chối việc ký hợp đồng dịch vụ;
c) Thi hành phần bản án, quyết định quy định tại khoản 1 Điều 36 của Luật này.
3. Chấp hành viên xác định giá trong các trường hợp sau đây:
a) Không thực hiện được việc ký hợp đồng dịch vụ quy định tại khoản 2 Điều này;
b) Tài sản kê biên thuộc loại tươi sống, mau hỏng hoặc có giá trị nhỏ mà đương sự không thoả thuận được với nhau về giá. Chính phủ quy định về tài sản có giá trị nhỏ”.
Hình thức ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá nơi có tài sản kê biên là bắt buộc cho quá trình định giá của Chấp hành viên. Chỉ khi nào không ký được hợp đồng dịch vụ với trung tâm thẩm định giá thì Chấp hành viên mới áp dụng các hình thức định giá khác.
Căn cứ theo nội dung của việc định giá, Luật thi hành án còn quy định cho người phải thi hành án, người được thi hành án có quyền yêu cầu định giá lại theo quy định tại Điều 99 như sau:
Điều 99. Định giá lại tài sản kê biên
1. Việc định giá lại tài sản kê biên được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Chấp hành viên có vi phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 98 của Luật này dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản;
b) Đương sự có yêu cầu định giá lại trước khi có thông báo công khai về việc bán đấu giá tài sản.
2. Việc định giá lại tài sản kê biên được thực hiện theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 98 của Luật này”.
Ngoài ra, Luật thi hành án dân sự có quy định các trường hợp Chấp hành viên phải tự mình xác định giá mà không thành lập Hội đồng định giá tài sản.
   
III.NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT THI HÀNH ÁN VỀ BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN THI HÀNH ÁN
Luật thi hành án dân sự 2008 kế thừa và có bổ sung một số quy định về bán đấu giá của Pháp lệnh thi hành án dân sự 2004. Trong đó, đáng chú ý là quy định về việc hủy kết quả bán đấu giá tài sản tại Điều 102 như sau:
Điều 102. Huỷ kết quả bán đấu giá tài sản
1. Đương sự, Chấp hành viên có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản.
2. Trường hợp kết quả bán đấu giá tài sản bị huỷ theo bản án, quyết định của Toà án thì việc xử lý tài sản để thi hành án được thực hiện theo quy định của Luật này.
3. Việc xử lý hậu quả và bồi thường thiệt hại do kết quả bán đấu giá tài sản bị huỷ được giải quyết theo quy định của pháp luật”.
Các quy định về hình thức bán đấu giá, tài sản được đưa ra bán đấu giá có khác so với Pháp lệnh thi hành án 2004 nhưng vẫn giống cơ bản về mặt nội dung thực hiện việc bán đấu giá:
" Điều 101. Bán tài sản đã kê biên
1. Tài sản đã kê biên được bán theo các hình thức sau đây:
a) Bán đấu giá;
b) Bán không qua thủ tục đấu giá.
2. Việc bán đấu giá đối với tài sản kê biên là động sản có giá trị từ trên 10.000.000 đồng và bất động sản do tổ chức bán đấu giá thực hiện.
Đương sự có quyền thoả thuận về tổ chức bán đấu giá trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày định giá. Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản với tổ chức bán đấu giá do đương sự thoả thuận. Trường hợp đương sự không thoả thuận được thì Chấp hành viên lựa chọn tổ chức bán đấu giá để ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản.
Việc ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản được tiến hành trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày định giá.
Việc bán đấu giá đối với động sản phải được thực hiện trong thời hạn là 30 ngày, đối với bất động sản là 45 ngày, kể từ ngày ký hợp đồng.
3. Chấp hành viên bán đấu giá tài sản kê biên trong các trường hợp sau đây:
a) Tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có tài sản chưa có tổ chức bán đấu giá hoặc có nhưng tổ chức bán đấu giá từ chối ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản;
b) Động sản có giá trị từ 2.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Việc bán đấu giá đối với động sản phải được thực hiện trong thời hạn là 30 ngày, đối với bất động sản là 45 ngày, kể từ ngày định giá hoặc từ ngày nhận được văn bản của tổ chức bán đấu giá từ chối bán đấu giá.
4. Chấp hành viên bán không qua thủ tục bán đấu giá đối với tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng hoặc tài sản tươi sống, mau hỏng.
Việc bán tài sản phải được thực hiện trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày kê biên.
5. Trước khi mở cuộc bán đấu giá 01 ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá.
Người phải thi hành án có trách nhiệm hoàn trả phí tổn thực tế, hợp lý cho người đăng ký mua tài sản. Mức phí tổn do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.
6. Thủ tục bán đấu giá được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản”.
Trong những điểm mới về kê biên tài sản, định giá và bán đấu giá tài sản kê biên theo Luật thi hành án dân sự năm 2008, thì việc quy định kê biên, định giá và bán đấu giá quyền sở hữu trí tuệ là một quy định hoàn toàn mới của Luật thi hành án dân sự 2008. Trong thực tiển cuộc sống xã hội, quyền sở hữu trì tuệ là một tài sản rất có giá trị nhưng trước đến nay, việc kê biên, xử lý tài sản là quyền sở hữu trí tuệ của người phải thi hành án chưa được quy định một cách cụ thể bằng một văn bản quy phạm pháp luật. Do đó, đã bỏ sót nhiều trường hợp có thể giải quyết xong việc thi hành án thay vì phải trả đơn yêu cầu thi hành án lại cho người được thi hành án khi người phải thi hành án không còn tài sản nào khác để thi hành án.
  
PHẦN THỨ HAI
NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG THỰC TIỄN KÊ BIÊN, ĐỊNH GIÁ VÀ BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN THEO LUẬT THI HÀNH ÁN

I. NHỮNG THUẬN LỢI TRONG THỰC TIỄN KÊ BIÊN, ĐỊNH GIÁ VÀ BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN THEO LUẬT THI HÀNH ÁN
Do được kế thừa và phát huy những mặt tích cực của Pháp lệnh thi hành án dân sự 2004 nên việc Kê biên, định giá và bán đấu giá tài sản theo luật thi hành án dân sự năm 2008 gặp rất nhiều thuận lợi. Mỗi giai đoạn từ khi kê biên, định giá đến khi bán tài sản kê biên đều gặp được những thuận lợi riêng nhất định.

1. NHỮNG THUẬN LỢI TRONG THỰC TIỄN KÊ BIÊN TÀI SẢN ÁP DỤNG THEO LUẬT THI HÀNH ÁN:
Thông qua việc quy định một cách cụ thể từng biện pháp kê biên tài sản tương ứng với mỗi loại tài sản khác nhau, Chấp hành viên dễ dàng lựa chọn được đối tượng và biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản thích hợp. Ví dụ, Ông Nguyễn Văn Lâm, sinh năm 1975, ngụ tại khóm Sơn Đông, thị trấn Nhà Bàng, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang phải thi hành án cho ông Lâm Minh Nhựt, sinh năm 1967, ngụ tại khóm Thới Hòa, thị trấn Nhà Bàng, huyện Tịnh Biên , tỉnh An Giang số tiền 62.000.000 đồng. Sau khi xác minh, Chấp hành viên phát hiện ông Lâm có các tài sản sau:
- Nhà ở duy nhất có giá trị 100.000.000 đồng
- Một chiếc xe ô tô có giá trị 80.000.000 đồng
- Một chiếc xe găn máy có giá trị 10.000.000 đồng và một số tài sản nội thất có giá trị 30.000.000 đồng.
Căn cứ theo quy định tại Điều 95 Luật thi hành án dân sự, trường hợp này không thể kê biên căn nhà của ông Lâm được, vì theo quy định tại Điều 95, việc kê biên nhà ở của người phải thi hành án chỉ được thực hiện sau khi xác định người đó không có các tài sản khác hoặc có nhưng không đủ để thi hành án.
Căn cứ theo quy định tại Điều 8, Nghị định 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế- kê biên tài sản- phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết khác. Theo ví dụ trên, thì Chấp hành viên áp dụng ngày Điều 96 Kê biên phương tiện giao thông là chiếc xe ô tô có giá trị 80.000.000 đồng của ông Lâm để đảm bảo thi hành án. Vì các tài sản khác không đủ giá trị thi hành án…
Thông qua việc quy định chặt chẽ về trình tự, thủ tục kê biên, Chấp hành viên khi tiến hành việc kê biên có thể xử lý dễ dàng các tình huống xảy ra trong thực tế. Ví dụ: Chấp hành viên tiến hành kê biên căn nhà của ông Nguyễn Phước Lợi, sinh năm 1966, ngụ tại ấp Tân Long, xã Tân Lợi, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang để đảm bảo thi hành nghĩa vụ trả tiền của ông Lợi cho ông Huỳnh Phước Lộc ngụ cùng địa phương. Khi Đoàn cưỡng chế đến tại nơi có tài sản để kê biên thì ông Lợi đã khóa cửa lại, không cho Chấp hành viên vào nhà thực hiện việc kê biên tài sản. Khi đó, Chấp hành viên áp dụng ngay Điều 93 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 để tiến hành kê biên căn nhà, đảm bảo cho việc cưỡng chế kê biên tài sản được thực hiện đúng theo kế hoạch cưỡng chế được phê duyệt. Trước đây khi chưa có quy định này, Chấp hành viên phải họp bàn với hội đồng cưỡng chế trước khi tiếp tục việc cưỡng chế, nhưng vừa tổ chức cưỡng chế lại vừa lo không biết nếu có hậu quả xảy ra thì lấy căn cứ đẩu để giải quyết….
 2. NHỮNG THUẬN LỢI TRONG THỰC TIỄN ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN ÁP DỤNG THEO LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 2008
Căn cứ những quy định về định giá tài sản theo Pháp lệnh thi hành án, Chấp hành viên tổ chức thi hành án quyết định thi hành án muốn xử lý được tài sản đã kê biên phải tiến hành định giá tài sản. Nhưng việc định giá tài sản phải được thành lập bằng một Hội đồng định giá gồm có thành viên tham gia là các cơ quan ban ngành liên quan. Muốn tổ chức định giá đúng theo thời hạn quy định của pháp luật, Chấp hành viên phải lệ thuộc rất nhiều vào các thành viên tham gia, phải hết sức tranh thủ mới có thể triệu tập được đầy đủ thành phần, có trường hợp buộc phải hoãn lại việc định giá do có một vài thành viên không tham dự được do yêu cầu công việc chuyên môn.
Căn cứ theo Luật thi hành án, Chấp hành viên chỉ cần ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá nơi có tài sản kê biên trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày kê biên tài sản là đã giải quyết được việc định giá. Lúc trước, khi tiến hành định giá bằng Hội đồng định giá, ý kiến của các thành viên tham gia đưa ra nhưng trách nhiệm trong việc định giá lại thuộc về Chấp hành viên, nay, người chịu trách nhiệm trong việc định giá là Tổ chức thẩm định giá, tháo gỡ cho Chấp hành viên một phần trách nhiệm trong quá trình tổ chức thi hành án.
Thông qua việc ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá, Chấp hành viên chủ động được thời gian tổ chức thi hành án, có thể rảnh tay để lo tổ chức các việc thi hành án khác mà mình đang tổ chức thi hành.

3. NHỮNG THUẬN LỢI TRONG THỰC TIỄN BÁN TÀI ĐẤU GIÁ TÀI SẢN ÁP DỤNG THEO LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 2008
Theo Pháp lệnh thi hành án, Chấp hành viên chỉ có thể bán đấu giá tài sản không qua thủ tục bán đấu giá tài sản có giá trị dưới 500.000 đồng và bán qua thủ tục đấu giá các tài sản có giá trị từ 500.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng. Điều này khiến Chấp hành viên gặp rất nhiều khó khăn và mất rất nhiều thời gian để hoàn tất thủ tục bán đấu giá đối với các tài sản có giá trị trên 500.000 đồng nhưng dưới 1.000.000 đồng như Xe gắn máy gây tai nạn giao thông, tủ gỗ thao lao, bàn, ghế gỗ… Nhưng nay theo quy định tại Điều 101 Luật thi hành án dân sự năm 2008, Chấp hành viên có thể bán không qua thủ tục đấu giá các tài sản có giá trị dưới hai triệu đồng hoặc tươi sống, hư hỏng( như gà, vịt, heo, bò …). Điểm mới này giúp Chấp hành viên tháo gở, giải quyết ngay được một lượng lớn án có giá trị thi hành nhỏ trong thực tế thi hành án, nâng cao ý thức giáo dục pháp luật về thi hành án cho người phải thi hành án và những người xung quanh.

II. NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG THỰC TIỄN KÊ BIÊN, ĐỊNH GIÁ VÀ BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN THI HÀNH ÁN ÁP DỤNG THEO LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 2008
Do Luật thi hành án dân sự năm 2008 vừa mới có hiệu lực pháp luật và chưa có nhiều văn bản hướng dẫn thi hành nên trong thực tiễn áp dụng trong việc Kê biên, định giá và bán đấu giá tài sản gặp rất nhiều khó khăn nhất định.
Theo quy định của Luật thi hành án dân sự năm 2008 về kê biên quyền sở hữu trí tuệ, Chấp hành viên có quyền kê biên quyền sở hữu trí tuệ của người phải thi hành án để đảm bảo thi hành án. Nhưng việc kê biên quyền sở hữu trí tuệ hiện nay chưa có cơ quan thi hành án nào tổ chức thực hiện, chưa có một cuộc tổng kết kinh nghiệm nào được triển khai để Chấp hành viên có điều kiện tập huấn. Do đó, thực tiễn khi phát hiện người phải thi hành án có tài sản là quyền sở hữu trí tuệ vẫn chưa mạnh tay áp dụng biện pháp kê biên ngay mà lựa chọn biện pháp kê biên tài sản khác để đảm bảo thi hành án.
Ví dụ, ông Nguyễn Văn Nghĩa là một nghệ nhân về cây cảnh phải trả cho Ngân hang nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Tịnh Biên số tiền 200.000.000 đồng. Quá trình lao động, ông tìm ra được phương pháp làm cho cây kiểng có thể trổ hoa bất kể mùa nào trong năm, và giải pháp hữu ích của ông được đăng ký bảo hộ tại cơ quan có thẩm quyền. Hiện nay, thu nhập hàng tháng của ông trong việc áp dụng giải pháp này trong việc chăm sóc cây kiểng thuê cho người khác không dưới 10.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi xác minh tài sản của ông Nghĩa, Chấp hành viên chỉ áp dụng biện pháp kê biên tài sản là quyền sử dụng đất của ông Nghĩa đã thế chấp vay tại ngân hàng( mặc dù bản án không tuyên kê biên tài sản thế chấp để bảo đảm thi hành án). Lý do, không cơ quan, tổ chức nào đứng ra thẩm định được giá trị của giải pháp hữu ích trên để có thể xử lý thi hành án.
 Trong việc định giá tài sản, Luật thi hành án quy định đương sự có quyền yêu cầu định giá lại trước khi có thông báo công khai về việc bán đấu giá tài sản, nhưng không quy định thời hạn và số lần yêu cầu định giá lại của đương sự, dẫn đến đương sự lợi dụng quy định này để cố tình trì hoãn, kéo dài thời gian định giá để được lợi về giá trong quá trình thị trường có biến động lớn về giá. Theo quy định, mỗi năm mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đều ban hành những quy định mới về giá đất để áp dụng trong đền bù, giải tỏa, giải phóng mặt bằng. Thời điểm ban hành quyết định thường là tháng 11 và thời điểm quyết định mới có hiệu lực là vào ngày 01 tháng 01 của năm sau. Do đó, khoảng thời gian từ tháng 11 đến tháng 01 của năm kế tiếp đương sự luôn tìm cách trì hoãn việc kê biên, định giá tài sản để chờ giá đất lên, đồng thời, kéo dài thời giant hi hành án, vì khi đến thời điểm tháng 01 mà chưa thể đưa tài sản ra bán đấu giá thì trong tháng hai có thể sẽ không thể xử lý được, phải kéo dài qua tháng 3 hoặc tháng 4 vì tháng 02 hay rơi vào dịp Tết Nguyên Đán, Tết cổ truyền của dân tộc.
 Trong vấn đề bán đấu giá tài sản thi hành án, trước đây, cơ quan thi hành án gặp khó khăn trong việc bán đấu giá tài sản kê biên do không người tham gia đấu giá vì việc áp dụng Nghị định 05/2005/NĐ-CP ngày 18/01/2005 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản. Vì có nhiều trường hợp chỉ có một người đăng ký mua tài sản bán đấu giá. Theo quy định, trong trường hợp đã hết thời hạn đăng ký tham gia đấu giá tài sản mà chỉ có một người đăng ký mua tài sản bán đấu giá và trả giá ít nhất bằng giá khởi điểm thì tài sản được bán cho người đó, nếu người có tài sản bán đấu giá đồng ý. Hiện nay, Luật thi hành án quy định thủ tục bán đấu giá được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản. Mà chỉ có nghị định 05/2005/NĐ-CP là quy định về bán đấu giá mà thôi. Theo đó, người có tài sản bán đấu giá là ai chưa có quy định cụ thể, nếu đó là cơ quan thi hành án hoặc Chấp hành viên được ủy quyền ký hợp đồng bán đấu giá tài sản thì có phải là người có tài sản bán đấu giá hay không? Vì khi chỉ một người tham gia đấu giá, phải được sự đồng ý của người có tài sản bán đấu giá, nếu là Chấp hành viên thì điều này sẽ dễ thực hiện hơn. Còn như nếu người có tài sản bán đấu giá là người phải thi hành án bị kê biên tài sản- đã bị hạn chế quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản- thì không thể họ chấp nhận bán tài sản bằng giá khởi điểm được.
 Qua trên, cho thấy Luật thi hành án có những điểm mới mang lại nhiều thuận lợi trong việc kê biên, định giá và bán đấu giá tài sản trong thực tiễn thi hành án, nhưng đồng thời, cũng mang đến một số khó khăn nhất định cho cơ quan thi hành án, Chấp hành viên trong quá trình tổ chức việc thi hành án. Vì vậy, em xin đề xuất một số kiến nghị để khắc phục khó khăn trong quá trình áp dụng Luật thi hành án dân sự năm 2008 trong thực tiễn về kê biên, định giá và bán đấu giá tài sản thi hành án như sau.

PHẦN THỨC BA
NHỮNG ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ KHẮC PHỤC KHÓ KHĂN TRONG THỰC TIỄN 
KÊ BIÊN, ĐỊNH GIÁ VÀ BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN 
THEO LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NĂM 2008

Thông qua những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng luật thi hành án về kê biên, định giá và bán đấu giá tài sản thi hành án, em xin đề xuất và kiến nghị như sau:
- Mở nhiều lớp tập huấn về nghiệp vụ kê biên, định giá và bán đấu giá tài sản thi hành án cho tất cả các Chấp hành viên. Từ đó, Chấp hành viên có them kinh nghiệm để giải quyết những khó khăn trong quá trình tác nghiệp của mình.
- Xây dựng và ban hành ngay các văn bản hướng dẫn Luật thi hành án về kê biên, định giá và bán đấu giá tài sản thi hành án để triển khai áp dụng trong công tác trong thời gian tới.
- Tổ chức tuyên truyền, phổ biến rộng rãi trong quần chúng nhân dân, từ đó, nâng cao nhận thức pháp luật của công dân về thi hành án dân sự, để họ tự giác chấp hành theo pháp luật thi hành án dân sự.
- Chú trọng công tác giáo dục, thuyết phục, động viên và tạo điều kiện cho người phải thi hành án tự nguyện thi hành án; quan tâm giải thích để đương sự hiểu biết nhằm thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật; Hướng dẫn các bên đương sự thỏa thuận về việc thi hành án nhằm hạn chế các xung đột giữa các bên; Tổ chức tốt công tác tiếp dân để giảm thiểu tình trạng khiếu nại, tố cáo của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Trường hợp bản án, quyết định có những điểm chưa rõ để thi hành, không phù hợp với thực tế hoặc cần được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Đối với những vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng về mặt an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương cần báo cáo Ban chỉ đạo thi hành án dân sự. Những vấn đề vướng mắc về nghiệp vụ thi hành án thì thỉnh thị ý kiến của cơ quan có thẩm quyền để được hướng dẫn, chỉ đạo kịp thời.
- Phối hợp chặt chẽ, kịp thời với các cơ quan hữu quan để tranh thủ sự đồng tình và thống nhất biện pháp giải quyết đối với các vấn đề phát sinh.
- Các tài liệu có trong hồ sơ thi hành án phải đầy đủ, chặt chẽ, thể hiện đúng kết quả thi hành án làm cơ sở cho việc kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo được thuận lợi, chính xác, khách quan.

KẾT LUẬN

Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án là một trong các biện pháp cưỡng chế thi hành án được áp dụng nhiều nhất trong quá trình thi hành án. Vì vậy, Chấp hành viên cần phải nắm được không chỉ những quy định của pháp luật thi hành án dân sự mà còn phải hiểu những quy định của pháp luật trong các lĩnh vực khác như nhà đất, xây dựng, sở hữu trí tuệ, ngân hàng… Từ đó, trong quá trình tác nghiệp của mình, Chấp hành viên có thể nhanh chóng giải quyết được việc thi hành án, hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Ngoài ra, Chấp hành viên trong quá trình thực hiện việc kê biên, định giá và bán đấu giá tài sản thi hành án, Chấp hành viên phải nắm vững các nghiệp vụ khác như xác minh điều kiện thi hành án, thông báo về thi hành án cho đương sự. Vì những nghiệp vụ này phục vụ một cách đắc lực cho quá trình thực hiện việc kê biên, định giá và bán đấu giá tài sản của chấp hành viên trên thực tế./.

Thứ Hai, 21 tháng 5, 2012

Các hành vi cạnh tranh bị cấm trong Dự thảo Luật giá

Dưới góc độ cạnh tranh, giá của sản phẩm luôn là phương diện cạnh tranh cơ bản và kinh điển để doanh nghiệp lôi kéo khách hàng và ganh đua với nhau. Quyền tự do cạnh tranh đòi hỏi pháp luật tạo hành lang pháp lý rộng rãi cho doanh nghiệp trong việc định giá cạnh tranh của sản phẩm. Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định hai nhóm hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh là hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hành vi hạn chế cạnh tranh. Dự thảo Luật giá (Dự luật giá) cũng đưa ra những hành vi bị cấm, trong đó có nhiều hành vi liên quan đến cạnh tranh. Vì vậy, Dự luật giá cần được nghiên cứu liên kết với Luật Cạnh tranh về vấn đề này.
1. Khảo sát về các hành vi bị cấm trong lĩnh vực giá
Điều 10 Dự luật giá quy định các hành vi bị cấm trong lĩnh vực giá của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh. Theo đó,
Thứ nhất, những hành vi trên có thể đã là đối tượng điều chỉnh của những lĩnh vực pháp luật khác như pháp luật cạnh tranh, pháp luật chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam và pháp luật quản lý giá. Sự dẫn chiếu pháp luật trong Dự luật giá chưa đầy đủ và chưa theo đúng tinh thần của các văn bản pháp luật có liên quan. Ví dụ, Dự luật giá cấm hành vi bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam theo quy định của pháp luật về chống bán phá giá. Trong lý thuyết và trong thực tiễn pháp luật, bán phá giá hàng hóa nhập khẩu không là hành vi vi phạm pháp luật. Trong thương mại quốc tế, hiện tượng hàng hóa nhập khẩu bán phá giá đơn giản chỉ là sự khác biệt giữa giá xuất khẩu của hàng hóa và giá thông thường của hàng hóa tương tự (trong đó giá xuất khẩu thấp hơn giá thông thường). Hiện tượng này có thể phát sinh từ nhiều nguyên nhân khác nhau như sự khác biệt về chi phí, sức ép cạnh tranh, từ những toan tính chiếm đoạt thị trường… Do đó, không thể gắn mọi trường hợp hàng hóa nhập khẩu bán phá giá với hành vi cạnh tranh bất chính. Nhà nước chỉ áp dụng biện pháp chống bán phá giá khi thỏa mãn đủ các điều kiện: hàng hóa nhập khẩu bị kết luận có bán phá giá; có thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước; có quan hệ nhân quả giữa việc hàng hóa nhập khẩu bán phá giá và thiệt hại đáng kể của ngành sản xuất trong nước. Ngay cả khi thỏa mãn các điều kiện trên, pháp luật chỉ cho phép cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cần thiết để chấm dứt hiện tượng bán phá giá, chấm dứt khả năng gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước bằng các biện pháp khắc phục thiệt hại như thuế chống bán phá giá mà không áp dụng các biện pháp xử lý người thực hiện hành vi như một chủ thể vi phạm pháp luật. Vì vậy, hành vi bán phá giá hàng hóa nhập khẩu không phải là hành vi bị cấm theo pháp luật chống bán phá giá.
Thứ hai, Ban soạn thảo đã sắp xếp các hành vi bị cấm một cách khá lộn xộn và không theo bất kỳ tiêu chí nào nên đã có sự trùng lặp về hành vi. Sự trùng lắp thể hiện rõ trong quy định tại Khoản 1 và Khoản 5 Điều 10 Dự luật giá. Khoản 1 cấm hành vi liên kết với các tổ chức, cá nhân khác để tác động làm sai lệch giá, liên kết độc quyến ấn định mức giá bán (hoặc giá mua) bất hợp lý gây tổn hại đến quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng hoặc các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh khác và của Nhà nước; Khoản 5 cấm hành vi thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp không đúng quy định của pháp luật. Hai hành vi này đều có chung hình thức biểu hiện là các doanh nghiệp liên kết để chi phối giá thị trường bằng việc thỏa thuận ấn định giá mua hoặc giá bán hàng hóa, dịch vụ; mục đích của hai hành vi này đều có thể là ấn định giá để bóc lột khách hàng hoặc để gây thiệt hại cho các đối thủ cạnh tranh không tham gia thỏa thuận. Nếu dựa vào câu chữ, có thể hình dung rằng liên kết độc quyền về giá là thỏa thuận giữa các doanh nghiệp để tạo ra mức giá độc quyền (không còn cạnh tranh) trên thị trường. Đương nhiên, giá độc quyền sẽ xuất hiện trong trường hợp thỏa thuận giá có sự tham gia của tất cả các doanh nghiệp hoạt động trên thị trường liên quan. Thỏa thuận ấn định giá trực tiếp hoặc gián tiếp là thỏa thuận giữa các doanh nghiệp tham gia thị trường (có thể toàn bộ doanh nghiệp hoặc một số doanh nghiệp hoạt động trên cùng thị trường liên quan). Vì vậy, liên kết độc quyền ấn định mức giá bán hoặc giá mua hàng hóa dịch vụ là một loại của thỏa thuận ấn định giá với mức độ tham gia bao gồm tất cả doanh nghiệp có trên thị trường liên quan.
2. Định danh hành vi không chuẩn xác nếu nhìn dưới góc độ pháp luật cạnh tranh
2.1. Các hành vi có sự liên kết giữa các doanh nghiệp
Trong Điều 10 của Dự luật giá, hai hành vi bị cấm tại Khoản 1, Khoản 5 như đã nêu trên có hình thức là sự thỏa thuận về giá giữa các tổ chức, cá nhân kinh doanh. Những hành vi trên mang bản chất hạn chế cạnh tranh về giá trên thị trường bằng các cách thức tạo ra thị trường không có giá cạnh tranh để bóc lột khách hàng hoặc tạo ra mức giá có sức cạnh tranh hủy diệt đối thủ để ngăn cản sự phát triển của thị trường cạnh tranh.
Trong lý thuyết cạnh tranh, hai hành vi trên đều được gọi là thỏa thuận giá gây hạn chế cạnh tranh trên thị trường. Thỏa thuận này bao gồm hai loại có mục đích và đối tượng bị xâm hại khác nhau:
- Thỏa thuận ấn định giá mua hoặc giá bán hàng hóa, dịch vụ nhằm bóc lột khách hàng. Loại thỏa thuận này được thực hiện với hình thức các doanh nghiệp thống nhất cùng nhau áp dụng mức giá hoặc cách thức tính giá gây bất lợi cho khách hàng. Thỏa thuận này sẽ gây thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc cho khách hàng khi quyền lựa chọn của người tiêu dùng bị hạn chế bởi các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận có thể (i) chi phối được giá thị trường, làm cho giá bán trên thị trường tăng cao hoặc giá mua bị giảm xuống; (ii) là nguồn cung hoặc nguồn cầu lớn trên thị trường. Do đó, Luật Cạnh tranh năm 2004 (Luật CT) chỉ cấm các thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp khi thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia chiếm từ 30% trở lên trên thị trường liên quan.
- Thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ để ngăn cản doanh nghiệp khác gia nhập thị trường hoặc phát triển kinh doanh hoặc để loại bỏ doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận ra khỏi thị trường. Lý thuyết cạnh tranh còn gọi hành vi này là định giá cướp đoạt (hủy diệt) hoặc định giá ngăn cản đối thủ cạnh tranh. Hành vi định giá cướp đoạt hoặc định giá ngăn cản không bị cấm đoán vì nó khiến giá hàng hóa giảm ở hiện tại mà vì những lo ngại về khả năng suy giảm sản lượng hoặc giá tăng vọt trong tương lai1.
Trong Dự luật giá, mặc dù không trực tiếp gọi tên loại thỏa thuận này, song với cách thức mô tả liên kết độc quyền ấn định mức giá bán (hoặc giá mua) bất hợp lý gây thiệt hại đến quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng hoặc của các tổ chức, cá nhân kinh doanh khác… cho thấy việc gây thiệt hại cho các tổ chức, cá nhân kinh doanh khác có thể là gây thiệt hại cho các tổ chức, cá nhân kinh doanh là khách hàng hoặc là đối thủ cạnh tranh của các doanh nghiệp tham gia liên kết. Trong trường hợp gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh thì hành vi liên kết độc quyền giá có thể là thỏa thuận ấn định giá nhằm ngăn cản hoặc loại bỏ đối thủ không tham gia liên kết.
Khoản 6 và Khoản 7 Điều 8 Luật CT quy định thỏa thuận ấn định giá để ngăn cản doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc kìm hãm không cho doanh nghiệp khác phát triển kinh doanh hoặc loại bỏ doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận ra khỏi thị trường là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Điều 9 Luật CT sử dụng nguyên tắc cấm tuyệt đối đối với các thỏa thuận này.
Đối chiếu các quy định trong Dự luật giá với lý thuyết cạnh tranh và các quy định trong pháp luật cạnh tranh có liên quan đến hành vi liên kết ấn định giá, theo chúng tôi, Dự luật giá đã tách thỏa thuận ấn định giá thành hai hành vi khác nhau không dựa trên tính chất và biểu hiện của hành vi mà dựa trên mức độ chi phối thị trường của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận. Theo đó, liên kết độc quyền ấn định giá là thỏa thuận ấn định giá một cách trực tiếp hoặc gián tiếp mà chủ thể tham gia bao gồm tất cả doanh nghiệp hoạt động trên thị trường liên quan (loại trừ hoàn toàn cạnh tranh về giá trên thị trường). Do đó, mức độ nguy hại của liên kết độc quyền ấn định giá cao hơn so với các thỏa thuận ấn định giá khác vì đã loại bỏ hoàn toàn khả năng lựa chọn của khách hàng về giá của hàng hóa, dịch vụ trên thị trường. Có thể ý định của Ban soạn thảo trong việc tách liên kết độc quyền ấn định giá thành một hành vi độc lập so với thỏa thuận ấn định giá để tạo cơ sở cho việc áp dụng các biện pháp quản lý giá như kiểm soát các yếu tố hình thành giá, kiểm soát giá độc quyền. Những biện pháp này không áp dụng đối với các thỏa thuận ấn định giá không tạo nên độc quyền giá. Tuy nhiên, cách giải quyết này không thật sự thuyết phục cả về lý luận lẫn thực tiễn pháp luật: (i) chúng ta không thể sử dụng hai tên gọi khác nhau cho cùng một loại hành vi. Thỏa thuận giữa các doanh nghiệp về giá sản phẩm cần phải được gọi tên thống nhất theo biểu hiện của hành vi. Số lượng doanh nghiệp tham gia hoặc mức độ độc quyền hóa về giá chỉ cho thấy khả năng chi phối thị trường của thỏa thuận mà không thể làm chuyển hóa tên gọi và bản chất của hành vi. Với cách tiếp cận hiện tại, các quy định về hành vi vi phạm pháp luật trong Dự luật giá sẽ bị lộn xộn và cho thấy ban soạn thảo không phân biệt được và bị nhầm lẫn về tính chất của một hành vi hạn chế cạnh tranh với khả năng chi phối thị trường của một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh; (ii) có sự khác biệt giữa Dự luật giá với Luật CT. Yêu cầu về tính thống nhất của pháp luật đòi hỏi Ban soạn thảo một văn bản phải tham khảo và liên kết với các văn bản pháp luật khác đã được ban hành và đang có hiệu lực nhằm phân định phạm vi điều chỉnh, đặt ra các nguyên tắc để giải quyết những mâu thuẫn và khác biệt, tránh chồng chéo giữa các quy định về cùng một vấn đề. Với những phân tích trên, thỏa thuận ấn định giá và liên kết độc quyền ấn định giá hàng hóa, dịch vụ được đưa ra trong Dự luật giá cũng đã được quy định tại Khoản 1 Điều 8 Luật CT. Theo đó, dù thỏa thuận có sự tham gia của toàn bộ hay một phần doanh nghiệp trên thị trường liên quan thì Luật CT cũng gọi tên chung là thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Chưa bàn luận đến cấu thành pháp lý của hành vi, chỉ xem xét về tên gọi đã có sự khác nhau trong quy định giữa Luật CT và Dự luật giá. Không phải là đạo luật thay thế hay bổ sung cho Luật CT, nếu Luật giá có đề cập đến các hành vi hạn chế cạnh tranh làm căn cứ áp dụng các biện pháp quản lý nhà nước về giá mà không kế thừa tên gọi và các quy định tương ứng của Luật CT là không hợp lý. Điều đó cho thấy Ban soạn thảo Luật giá chưa thực sự tôn trọng tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
2.2. Hành vi do một doanh nghiệp thực hiện
Theo Điều 10 Dự luật giá, một số hành vi bị cấm vì gây hạn chế cạnh tranh trên thị trường nhưng không có dấu hiệu của sự liên kết giữa nhiều doanh nghiệp bao gồm:
- Lạm dụng vị trí độc quyền, vị trí thống lĩnh thị trường ấn định mức giá bán (hoặc giá mua) bất hợp lý gây tổn hại đến lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng hoặc các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh khác và của Nhà nước;
- Chào giá hoặc áp dụng giá bán hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng quá thấp, bất hợp lý so với giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh hoặc độc chiếm thị trường, làm đảo lộn trật tự sản xuất và kinh doanh gây tổn hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh khác hoặc lợi ích của Nhà nước;
- Áp dụng phân biệt về giá (bao gồm phân biệt cả về giá bán buôn hoặc giá bán lẻ) khi cung cấp cùng một loại hàng hóa hoặc dịch vụ cho các tổ chức, cá nhân khác nhau.
Những hành vi trên phát sinh trong quá trình định giá hàng hóa, dịch vụ nhưng lại nhằm thực hiện các chính sách cạnh tranh của tổ chức, cá nhân kinh doanh. Các chính sách cạnh tranh được thể hiện thông qua mục đích của hành vi là bóc lột khách hàng hoặc chiếm đoạt thị trường của đối thủ cạnh tranh. Vì các hành vi trên được xem xét từ góc độ cạnh tranh nên chúng cũng được quy định trong pháp luật cạnh tranh. Điều 13 Luật CT cấm các hành vi: bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh; áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng; áp đặt điều kiện thương mại khác nhau trong các giao dịch như nhau nhằm tạo bất bình đẳng trong cạnh tranh.
Vấn đề đặt ra cho việc nghiên cứu là đối chiếu các quy định hiện hành của Luật CT với các ý tưởng lập pháp có trong Dự luật giá về những hành vi trên để xác định mối tương quan giữa hai văn bản pháp luật này, loại bỏ những quy định trùng nhau không cần thiết hoặc những ý tưởng lập pháp chưa đúng, hoặc những ý tưởng lập pháp có thể tạo chồng chéo giữa các văn bản pháp luật. Trong quá trình rà soát, chúng tôi nhận thấy:
Một là, trong ba hành vi trên, Dự luật giá chỉ dự liệu một trường hợp áp dụng đối với tổ chức, cá nhân có vị trí độc quyền, vị trí thống lĩnh trên thị trường liên quan là hành vi ấn định giá bất hợp lý gây thiệt hại cho người tiêu dùng, cho các tổ chức, cá nhân kinh doanh khác. Với hai hành vi còn lại, Dự luật giá không đặt ra điều kiện về chủ thể. Do đó, có thể hiểu rằng hai hành vi này bị cấm cho dù chủ thể thực hiện hành vi có hoặc không có vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền trên thị trường. Cách tiếp cận này đưa đến những hệ quả khó lường về lý thuyết và tính thống nhất của hệ thống pháp luật:
- Về lý thuyết, các hành vi trên bị cấm vì gây hạn chế cạnh tranh trên thị trường. Tuy nhiên, không phải mọi chủ thể thực hiện hành vi trên đều có thể làm hạn chế cạnh tranh trên thị trường. Để có thể gây hạn chế cạnh tranh, chủ thể thực hiện hành vi phải có khả năng chi phối thị trường (có quyền lực thị trường); nếu không, các hành vi trên không thể gây hậu quả hạn chế cạnh tranh mà ngược lại thị trường sẽ tự trừng phạt người thực hiện hành vi. Nhà nước và pháp luật chưa cần can thiệp khi thị trường tự điều tiết qua cơ chế trừng phạt tự nhiên.
- Với ba hành vi tương tự, Điều 13 Luật CT chỉ cấm khi doanh nghiệp thực hiện hành vi là doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, có vị trí độc quyền. Như vậy, có sự khác nhau giữa Luật CT và Dự luật giá về xử lý đối với hành vi bán hàng hóa dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ và hành vi phân biệt đối xử về giá. Sự khác nhau này có thể hiểu theo những giả định sau: (1) Dự luật giá đã mở rộng khả năng điều chỉnh của pháp luật về mặt chủ thể so với Luật CT. Những hành vi trên do doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền thực hiện sẽ xử lý theo Luật CT. Trường hợp chủ thể thực hiện hành vi là doanh nghiệp không có vị trí thống lĩnh sẽ bị xử lý theo Luật giá. Tuy nhiên, nếu hiểu theo cách này thì Dự luật giá đã can thiệp khá sâu vào thị trường và làm thay những việc mà thị trường có thể tự điều tiết. (2) Đã có mâu thuẫn giữa Luật CT và những quy định của Dự luật giá. Giả định này cho thấy Ban soạn thảo Dự luật giá chưa tham khảo ở mức độ hợp lý về cơ chế điều chỉnh của Luật CT đối với những hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến giá hàng hóa, dịch vụ trên thị trường. Dù với giả định nào thì thực trạng trên sẽ tạo ra một hệ quả không mong muốn là hai văn bản pháp luật quy định về cùng một vấn đề với nội dung khác nhau. Dưới góc độ chính sách, thực trạng này làm cho chính sách cạnh tranh liên quan đến giá sẽ bị lẫn lộn và không nhất quán. Nhà nước dường như chưa thực sự tin tưởng vào sự tự vận hành của thị trường. Dưới góc độ pháp lý, cùng một hành vi với mục đích và cấu thành pháp lý giống nhau nhưng chịu sự điều chỉnh bởi hai văn bản khác nhau. Sự mâu thuẫn và khác biệt về luật điều chỉnh sẽ gây ra những phức tạp và tranh cãi về khoa học, quá trình sử dụng pháp luật để tự bảo vệ mình của các doanh nghiệp.
Hai là, tên gọi (kèm theo đó là cấu thành pháp lý) của các hành vi trên phức tạp đến mức không cần thiết. Nhận định được chứng minh qua quy định về hai hành vi: (i) lạm dụng vị trí độc quyền, vị trí thống lĩnh thị trường ấn định mức giá bán (hoặc giá mua) bất hợp lý gây tổn hại đến quyền lợi của người tiêu dùng hoặc các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh khác và của Nhà nước. Với cách mô tả như trên, một trong những yếu tố bắt buộc phải chứng minh khi xác định hành vi vi phạm là tổn hại thực tế xảy ra đối với người tiêu dùng hoặc với các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh khác hoặc của Nhà nước. Điều này rất khó thực hiện, nhất là đối với tổn hại đến quyền lợi của người tiêu dùng bởi tính đơn lẻ, nhỏ nhặt trong quyền lợi của từng người tiêu dùng cụ thể khi mua hàng hóa, dịch vụ từ doanh nghiệp. Với những sản phẩm tiêu dùng có giá trị không lớn, việc ấn định giá bất hợp lý có thể chỉ là sự chênh lệch với giá trị không cao (vài nghìn đồng) so với giá cạnh tranh thì thiệt hại mà từng người tiêu dùng phải chịu trên một sản phẩm là không lớn. Tuy nhiên, nếu xác định trong tổng thể toàn bộ thị trường thì doanh nghiệp có thể thu được khoản lợi bất chính rất lớn. Mặt khác, nhiệm vụ của việc điều chỉnh các hành vi hạn chế cạnh tranh là ngăn chặn doanh nghiệp thực hiện hành vi, ngăn chặn khả năng doanh nghiệp xâm hại đến các quyền lợi hợp pháp cần được bảo vệ. Do đó, nếu đòi hỏi thiệt hại phải xảy ra để làm căn cứ xác định hành vi bị cấm thì pháp luật chỉ còn là công cụ để xử lý những sự việc đã hoàn tất và khắc phục hậu quả đã xảy ra. Khi đó, việc xử phạt người vi phạm chỉ còn có ý nghĩa răn đe cho tương lai mà chưa thực sự ngăn chặn hậu quả ngay từ khi hành vi bắt đầu được thực hiện trên thực tế. Chúng tôi cho rằng, với cách tiếp cận này thì hiệu quả điều chỉnh của pháp luật sẽ không cao đối với việc bảo vệ thị trường cạnh tranh, bởi khi thị trường đã bị tổn thương thì việc phục hồi môi trường cạnh tranh không đơn giản và không thể tiến hành một cách nhanh chóng; (ii) Chào giá hoặc áp dụng giá bán hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng quá thấp bất hợp lý so với giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh hoặc độc chiếm thị trường, làm đảo lộn trật tự sản xuất và kinh doanh gây tổn hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh khác hoặc lợi ích của Nhà nước. Trong quy định này, một số dấu hiệu về hành vi mang tính định tính như làm đảo lộn trật tự sản xuất kinh doanh và câu chữ lộn xộn với các ý tưởng lặp lại. Đối với hành vi này, dấu hiệu quan trọng nhất của hành vi là bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh. Các nội dung khác chỉ là hệ quả tất yếu của việc loại bỏ đối thủ cạnh tranh. Do đó, nếu giữ nguyên điều luật sẽ dẫn đến kết quả là khi điều tra về hành vi, cơ quan điều tra không chỉ phải chứng minh mục đích loại bỏ đối thủ của hành vi mà còn cần chứng minh thêm các hậu quả gián tiếp kể trên. Điều đó không chỉ làm cho cấu thành pháp lý của hành vi thêm phức tạp mà còn ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi pháp luật khi các dấu hiệu trên không thể xác định bằng các yếu tố định lượng. Cũng với hành vi này, Luật CT quy định đơn giản hơn. Khoản 1 Điều 13 Luật CT cấm hành vi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh. Khoản 1 điều 23 Nghị định 116/2005/NĐ-CP ngày 15/09/2005 quy định căn cứ xác định hành vi chỉ là so sánh giữa giá bán thực tế của hàng hóa dịch vụ với tổng chi phí vật tư trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí quản lý chung và chi phí lưu thông hàng hóa, dịch vụ. Như vậy, mục đích và hậu quả không là dấu hiệu pháp lý cấu thành của hành vi mà được xác định từ sự bất thường của giá hàng hóa, dịch vụ do doanh nghiệp định ra. Với sự so sánh trên, cách mô tả hành vi này của Dự luật giá chỉ có ý nghĩa nghiên cứu và mang tính học thuật hơn là một quy định pháp lý để thực thi.
Ba là, quy định về hành vi phân biệt giá có sự khác biệt lớn so với Luật CT và chưa đầy đủ so với lý thuyết cạnh tranh về phân biệt giá. Khoản 4 Điều 13 Luật CT cấm hành vi áp đặt các điều kiện khác nhau (trong đó có điều kiện về giá) trong các giao dịch như nhau nhằm tạo bất bình đẳng trong cạnh tranh. Luật CT cấm hành vi phân biệt đối xử của doanh nghiệp với các khách hàng là doanh nghiệp (không áp dụng với hành vi phân biệt đối xử với người tiêu dùng). Theo Khoản 5 Điều 10 Dự luật giá, hành vi phân biệt giá bị cấm bao gồm phân biệt giá với các khách hàng là tổ chức, cá nhân kinh doanh khác hoặc với các khách hàng là người tiêu dùng. Dự luật giá đã mở rộng khả năng điều chỉnh của pháp luật hơn so với Luật CT. Việc mở rộng là cần thiết trong bối cảnh nhiệm vụ bảo vệ người tiêu dùng đang là vấn đề cấp bách hiện nay. Trong thực tế, các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc có vị trí độc quyền không chỉ khai thác sự lệ thuộc của khách hàng để áp đặt các điều kiện mua bán bất lợi cho người tiêu dùng mà còn có thể thực hiện mục đích tối đa hóa doanh thu, tối đa hóa lợi nhuận bằng hành vi phân biệt giá, áp dụng các mức giá khác nhau theo nhóm khách hàng, theo khả năng chi trả của từng nhóm khách hàng… Dưới góc độ cạnh tranh, hành vi này bị coi là bất chính bởi chúng tăng khả năng bóc lột người tiêu dùng của các doanh nghiệp đang có quyền lực thị trường, xâm hại đến quyền được đối xử bình đẳng của các nhóm khách hàng.
Tuy nhiên, khi xem xét quy định trên từ góc độ của lý thuyết cạnh tranh, chúng tôi nhận thấy còn nhiều hạn chế trong cách mô tả của Dự luật giá về cấu thành pháp lý của hành vi. Trong lý thuyết cạnh tranh, phân biệt giá là hành vi của người bán hàng hóa áp dụng những mức giá khác nhau tùy theo loại khách hàng mà không dựa vào sự chênh lệch về chi phí2. Hành vi phân biệt giá được xác định dựa trên những căn cứ sau:
- Phân biệt giá được xác định từ việc so sánh giá mua bán của sản phẩm trong các giao dịch tương tự nhau với những khách hàng khác nhau.
- Các giao dịch bị phân biệt giá phải là các giao dịch tương tự nhau. Thông thường, các giao dịch được coi là tương tự nhau khi đáp ứng đủ các điều kiện:
+ Đối tượng của các giao dịch là những loại hàng hóa, dịch vụ tương tự nhau. Tính tương tự được xem xét từ các thuộc tính của sản phẩm, thành phần vật lý hay hóa học, các đặc điểm hoạt động hay chức năng của sản phẩm….
+ Các giao dịch được dùng để so sánh phải tương đương về giá trị. Điều này phụ thuộc vào trị giá của sản phẩm và số lượng, khối lượng được mua bán trong giao dịch. Trong thực tế, các doanh nghiệp có thể thực hiện những chiến lược dành ưu đãi cho các giao dịch có giá trị lớn3, có tính thường xuyên hoặc thưởng tăng trưởng4...
+ Thời điểm xác lập các giao dịch là những thời điểm mà điều kiện thị trường giống nhau. Điều này không có nghĩa là chúng phải được hình thành tại cùng một thời điểm. Thời điểm xác lập có thể khác nhau nhưng trong khoảng thời gian đó, điều kiện thị trường chưa thay đổi, hoặc nếu có thay đổi thì mức độ thay đổi chưa đủ để làm cho điều kiện thương mại phải khác nhau giữa các giao dịch5.
+ Các giao dịch được dùng để so sánh phải nằm ở những công đoạn tương đương của quá trình phân phối, tiêu thụ (tương xứng về cấp độ thương mại).
- Có sự phân khúc thị trường để ngăn chặn khả năng thông đồng giữa các nhóm khách hàng nói trên hoặc ngăn chặn hành vi đầu cơ làm vô hiệu việc phân biệt giá.
- Lý thuyết phân biệt giá còn đặt ra yêu cầu về tính chiến lược của hành vi phân biệt giá. Chỉ cấu thành hành vi phân biệt giá nếu việc áp dụng các mức giá khác nhau có tính hệ thống hoặc phản ánh chiến lược bán hàng lâu dài của doanh nghiệp.
Đối chiếu với các nội dung cơ bản trong lý thuyết về phân biệt giá, có thể dễ dàng nhận thấy rằng cấu thành pháp lý của hành vi phân biệt giá được Dự luật giá đưa ra là sơ sài và đơn giản. Theo đó, hành vi của doanh nghiệp bị coi là vi phạm pháp luật khi thỏa mãn hai điều kiện: áp dụng giá khác nhau cho các khách hàng khác nhau; các khách hàng trên đã mua cùng một loại hàng hóa hoặc dịch vụ từ doanh nghiệp thực hiện hành vi. Như vậy, tính tương tự của các giao dịch chỉ được xem xét từ góc độ đối tượng mua bán và hành vi phân biệt giá chỉ áp dụng đối với hành vi cung cấp hàng hóa, dịch vụ mà không áp dụng đối với việc mua sản phẩm từ nhiều khách hàng (phân biệt giá mua). Nếu điều khoản này được thông qua thì điều luật vừa lỏng lẻo, vừa khắc nghiệt đối với các doanh nghiệp. Pháp luật sẽ trở nên lỏng lẻo khi thiếu vắng các quy định điều tiết hành vi của các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh trên thị trường mua sản phẩm. Ảnh hưởng của quy định trên đến quyền định giá hàng hóa, dịch vụ cho thấy sự khắc nghiệt của các ý định lập pháp có trong Dự luật giá. Theo đó, (i) doanh nghiệp không thể linh hoạt định đoạt giá hàng hóa, dịch vụ theo giá trị của giao dịch, theo thời điểm giao kết hợp đồng, theo tính liên tục hay vãng lai của giao dịch, theo khả năng đàm phán của khách hàng… Điều này sẽ làm cho diễn biến giá của một loại hàng hóa, dịch vụ cụ thể trở nên khô cứng. Quyền định giá của doanh nghiệp sẽ chỉ là đàm phán ấn định một mức giá duy nhất cho mọi giao dịch có cùng đối tượng mua bán; (ii) doanh nghiệp sẽ dễ dàng vi phạm điều cấm của pháp luật và dễ dàng bị quy kết là phân biệt giá nếu áp dụng mức giá khác nhau cho các khách hàng. Điều luật có thể bị các doanh nghiệp khác lợi dụng để làm phiền doanh nghiệp khi có sự khác biệt về giá (không phải là phân biệt giá) trong những giao dịch chỉ giống nhau về đối tượng mà không hoàn toàn tương tự ở các khía cạnh khác; (iii) doanh nghiệp sẽ dễ dàng bị kết luận là phân biệt giá khi có sự khác nhau về giá giữa hai giao dịch mua bán cùng một loại hàng hóa, dịch vụ cho dù sự khác biệt này chỉ là đơn nhất và nhất thời (không mang tính hệ thống).
3. Một số đề xuất
Với những phân tích trên, theo chúng tôi, Ban soạn thảo Dự luật giá cần có sự rà soát và nghiên cứu lại các quy định về những hành vi bị cấm trong lĩnh vực giá theo tinh thần:
Một là, tạo lập mối tương quan pháp lý giữa Luật giá với Luật CT về các hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến giá. Theo đó, Dự luật không nên đưa ra khái niệm liên kết độc quyền về giá; không nên mở rộng phạm vi quản lý giá đến phần xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến giá như thỏa thuận ấn định giá, định giá nhằm loại bỏ đối thủ, phân biệt giá… Dự luật giá được xây dựng nhằm thiết lập cơ chế quản lý giá nên các hành vi bị cấm nên tập trung vào các hành vi trực tiếp xâm hại đến các cơ chế quản lý về giá như hành vi vi phạm các biện pháp bình ổn giá, thẩm định giá, hiệp thương giá… Các hành vi hạn chế cạnh tranh về giá sẽ do Luật CT xử lý bằng cơ chế mà đạo luật này quy định. Có như vậy, chúng ta không chỉ đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật mà còn đảm bảo được sự phối hợp, đồng nhất trong các cơ chế quản lý nhà nước đối với thị trường và các bộ phận cấu thành nên thị trường.
Hai là, khi thiết kế các quy định về hành vi bị cấm trong lĩnh vực giá, Ban soạn thảo cần xác định giới hạn can thiệp của Nhà nước và pháp luật vào thị trường trên tinh thần Nhà nước chỉ sử dụng các biện pháp quản lý hành chính đối với thị trường khi và chỉ khi các quy luật thị trường bị vô hiệu hóa hoặc không thể tự điều tiết. Trong môi trường cạnh tranh, dưới sức ép của cạnh tranh dù là lành mạnh hoặc không lành mạnh, các doanh nghiệp tự phải điều tiết hành vi của mình và có thể phải gánh chịu những thiệt hại nhất định (ngay cả khi sự cạnh tranh là lành mạnh thì vẫn có khả năng một hoặc một số doanh nghiệp chịu thiệt hại và phải rút khỏi thị trường trước sức ép cạnh tranh từ các đối thủ khác). Nhà nước phải phân định các trường hợp và xác định thời điểm can thiệp vào các quan hệ cạnh tranh để đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh và phát huy tối ưu hiệu quả của cạnh tranh trên thị trường. Với quy luật vận hành tự có, thị trường vẫn có thể tự điều tiết ngay cả khi có hành vi cạnh tranh với mục đích và cách thức không lành mạnh. Không phải mọi trường hợp xuất hiện sự cạnh tranh thiếu lành mạnh đều có thể làm vô hiệu quy luật thị trường. Sự khôn ngoan của người thiết kế khung pháp lý về quản lý thị trường là xây dựng được cơ chế vừa đảm bảo cho sự tự vận hành của thị trường vừa đảm bảo hỗ trợ các quy luật vận hành đó khi thực sự cần thiết. Trong nội dung về xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh về giá, Ban soạn thảo cần nghiên cứu kỹ lưỡng cách thức vận hành của hành vi để xem xét khả năng và điều kiện gây hậu quả cho thị trường cạnh tranh để thiết kế cấu thành pháp lý phù hợp. Có như vậy, các quy định sẽ có độ linh hoạt và có giá trị ứng dụng thích ứng với thị trường vốn phát triển và thay đổi không ngừng.
Ba là, trong trường hợp Dự luật giá cần quy định về các hành vi hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực giá để đảm bảo cho cơ chế quản lý giá được đầy đủ thì các quy định về những hành vi cạnh tranh trong lĩnh vực giá phải tiếp thu những quy định tương ứng trong Luật CT và phải dẫn chiếu đến cơ chế xử lý của Luật CT. Theo đó, cần mạnh dạn chấm dứt tư tưởng cát cứ pháp lý trong việc xây dựng các chế định pháp luật về quản lý thị trường mà cần có sự phối hợp trong việc quản lý các vấn đề liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước về giá hàng hóa, dịch vụ trên thị trường. Các hành vi hạn chế cạnh tranh về giá đã được quy định trong Luật CT cần được xử lý theo đúng Luật CT do các cơ quan thực thi pháp luật cạnh tranh giải quyết. Với những trường hợp chưa được quy định trong Luật CT như trường hợp phân biệt đối xử về giá đối với người tiêu dùng thì Luật giá có thể quy định nhưng bổ sung thẩm quyền cho cơ quan thực thi pháp luật cạnh tranh hoặc pháp luật bảo vệ người tiêu dùng nếu chúng ta chưa có điều kiện sửa đổi, bổ sung hai đạo luật đó.
(1) Cơ quan phát triển quốc tế Canada (Dự án hỗ trợ thức thi chính sách PIAP), Luật Cạnh tranh Canada, một số hướng dẫn thi hành, Nxb. Giao thông vận tải, 2006, tr. 286-302.
(2) Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), (2004), Khuôn khổ cho việc xây dựng và thực thi luật và chính sách cạnh tranh, Bản dịch tiếng Việt của Hoàng Xuân Bắc, tài liệu Ban soạn thảo Luật Cạnh tranh, tr 171.
(3) Còn gọi tính kinh tế nhờ quy mô dẫn đến việc giảm giá thành đơn vị của sản phẩm được mua bán.
(4) Thưởng tăng trưởng là việc doanh nghiệp thực hiện các kế hoạch chiết khấu cho những khách hàng có sự gia tăng về khối lượng, giá trị mua so với kỳ giao dịch trước.
(5) Xem thêm Nguyễn Như Phát – Nguyễn Ngọc Sơn, Phân tích và luận giải các quy định của Luật CT về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh, Nxb. Tư Pháp, Hà Nội, 2006, tr. 180-182.


Nguồn: NCLP