Hiển thị các bài đăng có nhãn nợ xấu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nợ xấu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 29 tháng 1, 2013

Công ty chứng khoán: Lỗ khủng, nợ xấu

Tới thời điểm này đã có 40 CTCK công bố kết quả kinh doanh đầy đủ năm 2012. Đáng chú ý 2/3 trong số này báo cáo có lãi trong năm 2012 và các CTCK tên tuổi đang trở lại dẫn đầu lợi nhuận trên thị trường. Tuy nhiên, không vì vậy mà gam màu sáng sẽ là gam màu chủ đạo trong bức tranh toàn cảnh.

Lỗ vẫn “khủng”
Trong số các CTCK đã công bố BCTC, CTCK Sacombank (SBS) dẫn đầu với mức lỗ 128 tỉ đồng. SBS có thể phải đối mặt với việc hủy niêm yết bắt buộc khi mà Cty thông báo vốn chủ sở hữu âm hơn 245 tỉ đồng, lỗ lũy kế đến hết năm 2012 lên đến 1.761 tỉ đồng, trong khi vốn điều lệ chỉ có 1.266 tỉ đồng. Năm 2011, Cty đã lỗ 610 tỉ đồng. Một CTCK khác cũng lỗ lớn là Phú Hưng (PHS). Trong năm 2012, PHS lỗ 101,5 tỉ đồng, tính chung cả 2 năm gần nhất, PHS lỗ 148 tỉ đồng.
Các CTCK khác có mức lỗ thấp hơn. Tuy nhiên, điều đáng lo ngại là một số Cty có lỗ lũy kế tăng nhanh, vượt vốn điều lệ của Cty. Trường hợp của CTCK Quốc tế (VISE), Cty báo lỗ gần 23 tỉ đồng, thấp hơn khoản lỗ gần 53 tỉ đồng ở năm 2011 nhưng mức lỗ lũy kế đến hết năm 2012 là hơn 73 tỉ đồng. Lỗ nặng và “bê bối” còn phải kể đến trường hợp CTCK Tràng An (TAS). TAS chưa báo cáo kết quả kinh doanh quý IV nhưng Cty này lỗ 7,4 tỉ đồng 9 tháng đầu năm. Hay như CTCK Âu Việt (AVS) báo lỗ hơn 10 tỉ đồng, lỗ lũy kế đến hết năm là hơn 151 tỉ đồng. Đến nay, AVS đã ngừng hẳn các nghiệp vụ kinh doanh và đang chờ ĐHCĐ thông qua quyết định giải thể Cty.

Gian lận, bán khống
UBCKNN vừa công bố quyết định xử phạt 320 triệu đồng đối với CTCK Golden Bridge (GBS) do có nhiều vi phạm như cho khách hàng đặt lệnh mua CK khi không có đủ tiền theo quy định pháp luật; bán khống CK; không thực hiện nghĩa vụ báo cáo tỉ lệ an toàn tài chính của CTCK... Nóng nhất về sai phạm của CTCK trong tháng đầu năm 2013 có thể kể đến vụ việc ông Lê Hồ Khôi, TGĐ CTCK Tràng An (TAS) bị khởi tố và bắt tạm giam trong vài ngày qua cũng làm lộ ra một loạt các sai phạm tại Cty này. Theo đó, TAS đã cho NĐT mua CK khi không đủ tiền và đã bị Trung tâm lưu ký ngừng cung cấp các dịch vụ liên quan, HoSE ngừng giao dịch, đưa TAS vào diện chấm dứt tư cách thành viên bắt buộc.
Thanh tra UBCKNN mới đây cũng cho biết sẽ tiếp tục thanh tra về bán khống từ tuần này sau khi nhận thấy dấu hiệu hiện tượng bán khống xuất hiện trong hơn một tuần trở lại đây. Lợi dụng thời điểm thị trường tăng điểm và thanh khoản được cải thiện, một số CP đã bị bán khống với sự trợ giúp của một số tổ chức và cá nhân. Một số CTCK xác nhận, bán khống đã quay lại dưới các hình thức tinh vi hơn nhờ các nhóm khách hàng được nối ráp với nhau thông qua các môi giới. UBCK cảnh báo sẵn sàng áp dụng biện pháp nặng là đình chỉ hoạt động môi giới của CTCK nếu phát hiện bán khống có sự tiếp tay của nhân viên các Cty này bất kể quy mô bán khống ở mức độ nào.

Đau đầu với nợ xấu
Trong khi đó, nợ xấu đang là chuyện đau đầu không chỉ của hệ thống NH mà còn của các CTCK. Theo thống kê của NHNN, tính đến ngày 30-9-2012 nợ xấu của toàn ngành NH là 200.000 tỉ đồng, chiếm 8,82% tổng dư nợ; trong đó CK đóng góp vào tổng số nợ xấu này khoảng 12.000 tỉ đồng.
TGĐ một CTCK tại TPHCM thừa nhận, bản thân các CTCK nhỏ rất khó thực hiện các nghiệp vụ margin (cho NĐT vay thêm tiền để đầu tư tiếp vào CK), hợp tác đầu tư hay repo, vì yếu về tài chính. Các hoạt động này diễn ra chủ yếu ở các Cty lớn, đặc biệt là các CTCK con của các NH. Nên khi thị trường suy giảm, giao dịch èo uột, khách hàng khó trả nợ thì không chỉ bản thân CTCK gặp nguy mà còn kéo theo những “nhà tài trợ” phía sau là các NH, quỹ đầu tư... Bên cạnh đó, việc nhận diện khoản nào là nợ xấu giữa CTCK và khách hàng không hề đơn giản. Những điều này cho thấy các CTCK đang phải đối mặt với nhiều vấn đề trong việc thu hồi nợ xấu , bảo đảm tài chính trong thời gian tới.
(Theo Laodong)

Chủ Nhật, 4 tháng 3, 2012

Chung sống với nợ xấu?

Bản chất của kinh doanh tiền tệ chính là “Kinh doanh rủi ro”, và nợ xấu vì vậy là một phần tất yếu trong hoạt động tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên, cách thức để “chung sống hòa bình với nợ xấu” có thể xem như là vấn đề gai góc nhất trong hoạt động quản trị ngân hàng từ trước đến nay.
Xét về phương diện thực tiễn, quyết định số 493 do Thống đốc NHNN Việt Nam ban hành ngày 22/04/2005 về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng thực sự có ý nghĩa đột phá, mở đường cho hệ thống ngân hàng tiệm cận với thông lệ quốc tế về nâng cao trình độ và năng lực kiểm soát rủi ro.

Tự chủ nhưng vẫn cần vai trò của Nhà nước


Từ khi quyết định 493 ban hành, lần đầu tiên ngân hàng thương mại được trao quyền tự chủ tài chính thực sự, được quyền sử dụng nội lực của chính mình để hóa giải phần lớn các khoản nợ xấu, góp phần giảm tải gánh nặng rủi ro cho toàn hệ thống mà không phải trông chờ chủ yếu từ nguồn lực ngân sách nhà nước (thông qua cơ chế “xin cho khoanh/ xóa nợ” đã từng tồn tại nhiều thập kỷ trước đó).

Đối chiếu với quy định 493 và những thay đổi về cơ chế quản trị rủi ro thời gian gần đây ở một số ngân hàng lớn, có uy tín, thì có thể khẳng định hệ thống ngân hàng Việt Nam đang dần từng bước chủ động tiếp cận tư duy quản lý rủi ro theo trình độ ngày càng nâng cao. Bên cạnh kỹ thuật đánh giá phân loại nợ theo phương pháp định lượng (dựa theo số ngày nợ quá hạn là chủ yếu), hiện nay một số ngân hàng đã bắt đầu chuyển hướng sang phân loại nợ theo phương pháp định tính, điều này giúp cho quá trình đánh giá chất lượng tín dụng được kịp thời và chuẩn xác hơn, kể cả phải chấp nhận tỷ lệ nợ xấu tăng thêm so với định lượng. Ngoài ra, dựa trên nền tảng công nghệ tin học hiện đại, một số ngân hàng đã có điều kiện triển khai hệ thống xếp hạng khách hàng theo định kỳ với nhiều tiêu chí tài chính và phi tài chính được xây dựng khá cụ thể, mang tính khoa học, phù hợp thông lệ quốc tế. Những thay đổi này đang diễn ra theo chiều hướng tích cực, đang trở nên phổ biến, không chỉ phản ánh sự quan tâm, lo lắng của hệ thống ngân hàng đối với lợi ích của chính mình, mà còn cho thấy quá trình tiếp cận những chuẩn mực quốc tế trong phân tích đánh giá chất lượng nợ là xu hướng không thể đảo ngược, tất nhiên phải có lộ trình phù hợp với hoàn cảnh, không thể nóng vội, máy móc.

Các ngân hàng hoặc khách hàng vô hình chung bị buộc phải nghĩ ra nhiều chiêu thức để luồn lách, đảo nợ, dẫn đến việc đánh giá chất lượng tín dụng nhiều khi trở nên thiếu thực chất.
Tuy nhiên, trong những hoàn cảnh đặc biệt, vai trò Nhà nước là không thể thay thế. Khi nền kinh tế rơi vào khủng hoảng toàn diện, gánh nặng nợ nần quốc gia (kể cả thể nhân/ pháp nhân) tăng lên, mất khả năng thanh toán, hệ thống tài chính ngân hàng có nguy cơ bị tê liệt nếu không được tiếp ứng đủ thanh khoản và vốn liếng để duy trì hoạt động. Một khi nỗ lực tự thân vận động nhằm ứng phó với nợ xấu của doanh nghiệp và ngân hàng trở nên kém hiệu quả thì sự ra tay kịp thời và đúng liều lượng của cơ quan điều hành luôn là điều tối cần thiết nhằm duy trì sự ổn định cho nền tảng kinh tế - xã hội. Thực tế này được phản ánh rất rõ qua cuộc giải cứu rất ngoạn mục nhưng không kém phần mạo hiểm của FED đối với hệ thống ngân hàng Mỹ trong cuộc đại khủng hoảng 2008-2009. Gần đây là nỗ lực của ECB nhằm tiếp ứng vốn để hệ thống ngân hàng Châu âu có thể cầm cự với khủng hoảng nợ công.


Thực trạng khó khăn hiện nay của Việt Nam

Bất luận nguyên nhân phát sinh như thế nào, nợ xấu luôn được xem như là bức tranh toàn cảnh về trình độ phát triển và sức khỏe của toàn bộ nền kinh tế, là hàn thử biểu phản ánh sức sống của lực lượng doanh nghiệp cũng như đo lường năng lực kiểm soát rủi ro của hệ thống ngân hàng trước những sức ép thường xuyên, mang tính chu kỳ do tác động của tình trạng bất ổn vĩ mô.

Dự báo năm 2012 và những năm tiếp theo, nợ xấu chính là một trong những bài toán nghiệt ngã không riêng của các doanh nghiệp, ngân hàng, mà của cả Chính phủ và Ngân hàng nhà nước.
Năm 2011, cùng với những khó khăn do tác động của lạm phát và lãi suất cao, nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Việt Nam đã tăng đến mức cần báo động. Số tuyệt đối nợ xấu năm 2011 theo ước tính của NHNN vào khoảng 85 ngàn tỷ đồng. Nhưng theo một số chuyên gia am hiểu thì con số này vào khoảng 100 ngàn tỷ đồng với lý do còn một số khoản nợ tiềm ẩn chưa được phản ánh đầy đủ trên hệ thống sổ sách. Xung quanh tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam (< 5%), vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau. Một số ý kiến cho rằng tỷ lệ này có thể gấp đôi (10-12%) và chính NHNNVN cũng thừa nhận việc đánh giá phân loại nợ ở các ngân hàng vẫn chưa theo đúng chuẩn mực thông lệ quốc tế.


Theo quy định tại 493, khái niệm “nợ xấu” bao hàm tất cả các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 đến nhóm 5 tùy theo cấp độ rủi ro khác nhau, theo nguyên tắc chỉ cần một món vay (trong tổng thể nhiều món vay khác nhau) phát sinh quá hạn, hoặc được điều chỉnh kỳ hạn nợ, hoặc gia hạn nợ, thì toàn bộ dư nợ vay của khách hàng đó phải chuyển sang nhóm nợ xấu. Trường hợp khách hàng tích cực thanh toán xong khoản nợ quá hạn nói trên thì vẫn phải chịu phạt “thời gian thử thách” khá dài (3 tháng đối với vay ngắn hạn; 6 tháng đối với vay trung dài hạn ) trước khi toàn bộ dư nợ chuyển về trạng thái bình thường.

Những quy định tương đối ngặt nghèo trên đây đã gây áp lực nợ xấu rất lớn cho khách hàng và ngân hàng, cản trở đến quá trình duy trì quan hệ tín dụng bình thường. Các ngân hàng hoặc khách hàng vô hình chung bị buộc phải nghĩ ra nhiều chiêu thức để luồn lách, đảo nợ, dẫn đến việc đánh giá chất lượng tín dụng nhiều khi trở nên thiếu thực chất.

Trong bối cảnh môi trường kinh doanh còn nhiều bất ổn, doanh nghiệp phải đương đầu với nhiều khó khăn, việc duy trì những quy định có phần hà khắc như trên sẽ đẩy doanh nghiệp và ngân hàng vào thế bất lợi, tạo ra rủi ro cao hơn, về lâu dài sẽ gây lãng phí, thiệt hại các nguồn lực tài chính của nền kinh tế. Đặc biệt, kể từ năm 2012 trở đi, kinh tế Việt Nam phải đẩy mạnh tiến trình tái cơ cấu và đổi mới mô hình tăng trưởng, chắc chắn sẽ có một làn sóng các doanh nghiệp buộc phải cải tổ, sàng lọc, sáp nhập, hợp nhất, kể cả chấp nhận đổ vỡ để làm lại từ đầu. Trong xu hướng ấy, tất yếu nợ xấu sẽ phát sinh nhiều hơn, trên diện rộng hơn, và hơn ai hết hệ thống ngân hàng phải là nơi trực tiếp gánh vác phần lớn hậu quả này. Dự báo năm 2012 và những năm tiếp theo, nợ xấu chính là một trong những bài toán nghiệt ngã không riêng của các doanh nghiệp, ngân hàng, mà của cả Chính phủ và Ngân hàng nhà nước.

Cần một giải pháp toàn diện


Nợ xấu, trên thực tế, phát sinh nhiều hay ít có lẽ không quan trọng bằng việc làm sao nâng cao được năng lực kiểm soát rủi ro mang tính hệ thống theo hướng minh bạch hóa và chuẩn mực hóa hơn. Bản thân từng doanh nghiệp và ngân hàng trước hết phải tự hoàn thiện năng lực quản trị rủi ro nói chung, quản trị dòng tiền nói riêng để phòng tránh nợ xấu phát sinh vượt tầm kiểm soát, đây là con đường cơ bản để góp phần nâng cao hiệu quả chất lượng tín dụng cũng như hiệu quả đầu tư của toàn bộ nền kinh tế.

Nợ xấu, trên thực tế, phát sinh nhiều hay ít có lẽ không quan trọng bằng việc làm sao nâng cao được năng lực kiểm soát rủi ro mang tính hệ thống theo hướng minh bạch hóa và chuẩn mực hóa hơn.
Bên cạnh đó, để giải quyết vấn đề nợ xấu một cách đồng bộ và hiệu quả, thiết nghĩ cần có sự thay đổi căn bản về quan niệm điều hành, nhanh chóng nghiên cứu ban hành những cơ chế và công cụ phù hợp hơn nhằm thúc đẩy tiến trình xử lý nợ tại các doanh nghiệp đi vào khuôn khổ hợp pháp, hợp lý, phù hợp với thực trạng sức khỏe của doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế. Điều này cũng cần thiết khi nền kinh tế Việt Nam phải đối diện với những khó khăn có thể nảy sinh trong tương lai.


Chính phủ và NHNNVN, cần tiến hành sửa đổi bổ sung quyết định 493 cho phù hợp với hoàn cảnh mới, động viên đúng mức những nỗ lực của doanh nghiệp và ngân hàng trong tiến trình xử lý nợ xấu. Điều quan trọng nhất là tạo lập hành lang pháp lý để nhanh chóng tái cơ cấu, khôi phục trạng thái lành mạnh cho những khoản nợ xấu, nợ đóng băng sau khi đã được xử lý một cách hợp lệ, qua đó phát huy cao hơn hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, tránh thất thoát, lãng phí.

Cần tập trung nâng cao năng lực hoạt động cho các công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng ở các doanh nghiệp nhằm thúc đẩy nhanh hơn tiến trình tái cấu trúc nợ và vốn. Chính phủ cần sớm trình Quốc hội ban hành Luật bảo vệ phá sản theo mô hình của Hoa Kỳ, với quan niệm rằng thất bại trong kinh doanh không bị coi là xấu – luật phá sản Hoa Kỳ được xây dựng theo hướng khuyến khích để những người thất bại có được cơ hội tiếp tục theo đuổi công việc kinh doanh hợp pháp của mình. Đồng thời cần khẩn trương hoàn thiện pháp luật, kiên quyết áp dụng những chế tài mạnh để đảm bảo duy trì kỷ cương, kỷ luật thanh toán trong toàn bộ nền kinh tế, tránh tình trạng chiếm dụng vốn triền miên, vô tội vạ như hiện nay, bởi chính thực trạng này đang khiến nhiều doanh nghiệp khốn khổ, mất khả năng thanh toán, kể cả dẫn đến phá sản nhưng thực ra không phải vì trách nhiệm chủ quan của chính họ.

Nguồn: Tạp Chí Tia Sáng