Hiển thị các bài đăng có nhãn tín dụng ngân hàng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tín dụng ngân hàng. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 4 tháng 3, 2012

Chung sống với nợ xấu?

Bản chất của kinh doanh tiền tệ chính là “Kinh doanh rủi ro”, và nợ xấu vì vậy là một phần tất yếu trong hoạt động tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên, cách thức để “chung sống hòa bình với nợ xấu” có thể xem như là vấn đề gai góc nhất trong hoạt động quản trị ngân hàng từ trước đến nay.
Xét về phương diện thực tiễn, quyết định số 493 do Thống đốc NHNN Việt Nam ban hành ngày 22/04/2005 về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng thực sự có ý nghĩa đột phá, mở đường cho hệ thống ngân hàng tiệm cận với thông lệ quốc tế về nâng cao trình độ và năng lực kiểm soát rủi ro.

Tự chủ nhưng vẫn cần vai trò của Nhà nước


Từ khi quyết định 493 ban hành, lần đầu tiên ngân hàng thương mại được trao quyền tự chủ tài chính thực sự, được quyền sử dụng nội lực của chính mình để hóa giải phần lớn các khoản nợ xấu, góp phần giảm tải gánh nặng rủi ro cho toàn hệ thống mà không phải trông chờ chủ yếu từ nguồn lực ngân sách nhà nước (thông qua cơ chế “xin cho khoanh/ xóa nợ” đã từng tồn tại nhiều thập kỷ trước đó).

Đối chiếu với quy định 493 và những thay đổi về cơ chế quản trị rủi ro thời gian gần đây ở một số ngân hàng lớn, có uy tín, thì có thể khẳng định hệ thống ngân hàng Việt Nam đang dần từng bước chủ động tiếp cận tư duy quản lý rủi ro theo trình độ ngày càng nâng cao. Bên cạnh kỹ thuật đánh giá phân loại nợ theo phương pháp định lượng (dựa theo số ngày nợ quá hạn là chủ yếu), hiện nay một số ngân hàng đã bắt đầu chuyển hướng sang phân loại nợ theo phương pháp định tính, điều này giúp cho quá trình đánh giá chất lượng tín dụng được kịp thời và chuẩn xác hơn, kể cả phải chấp nhận tỷ lệ nợ xấu tăng thêm so với định lượng. Ngoài ra, dựa trên nền tảng công nghệ tin học hiện đại, một số ngân hàng đã có điều kiện triển khai hệ thống xếp hạng khách hàng theo định kỳ với nhiều tiêu chí tài chính và phi tài chính được xây dựng khá cụ thể, mang tính khoa học, phù hợp thông lệ quốc tế. Những thay đổi này đang diễn ra theo chiều hướng tích cực, đang trở nên phổ biến, không chỉ phản ánh sự quan tâm, lo lắng của hệ thống ngân hàng đối với lợi ích của chính mình, mà còn cho thấy quá trình tiếp cận những chuẩn mực quốc tế trong phân tích đánh giá chất lượng nợ là xu hướng không thể đảo ngược, tất nhiên phải có lộ trình phù hợp với hoàn cảnh, không thể nóng vội, máy móc.

Các ngân hàng hoặc khách hàng vô hình chung bị buộc phải nghĩ ra nhiều chiêu thức để luồn lách, đảo nợ, dẫn đến việc đánh giá chất lượng tín dụng nhiều khi trở nên thiếu thực chất.
Tuy nhiên, trong những hoàn cảnh đặc biệt, vai trò Nhà nước là không thể thay thế. Khi nền kinh tế rơi vào khủng hoảng toàn diện, gánh nặng nợ nần quốc gia (kể cả thể nhân/ pháp nhân) tăng lên, mất khả năng thanh toán, hệ thống tài chính ngân hàng có nguy cơ bị tê liệt nếu không được tiếp ứng đủ thanh khoản và vốn liếng để duy trì hoạt động. Một khi nỗ lực tự thân vận động nhằm ứng phó với nợ xấu của doanh nghiệp và ngân hàng trở nên kém hiệu quả thì sự ra tay kịp thời và đúng liều lượng của cơ quan điều hành luôn là điều tối cần thiết nhằm duy trì sự ổn định cho nền tảng kinh tế - xã hội. Thực tế này được phản ánh rất rõ qua cuộc giải cứu rất ngoạn mục nhưng không kém phần mạo hiểm của FED đối với hệ thống ngân hàng Mỹ trong cuộc đại khủng hoảng 2008-2009. Gần đây là nỗ lực của ECB nhằm tiếp ứng vốn để hệ thống ngân hàng Châu âu có thể cầm cự với khủng hoảng nợ công.


Thực trạng khó khăn hiện nay của Việt Nam

Bất luận nguyên nhân phát sinh như thế nào, nợ xấu luôn được xem như là bức tranh toàn cảnh về trình độ phát triển và sức khỏe của toàn bộ nền kinh tế, là hàn thử biểu phản ánh sức sống của lực lượng doanh nghiệp cũng như đo lường năng lực kiểm soát rủi ro của hệ thống ngân hàng trước những sức ép thường xuyên, mang tính chu kỳ do tác động của tình trạng bất ổn vĩ mô.

Dự báo năm 2012 và những năm tiếp theo, nợ xấu chính là một trong những bài toán nghiệt ngã không riêng của các doanh nghiệp, ngân hàng, mà của cả Chính phủ và Ngân hàng nhà nước.
Năm 2011, cùng với những khó khăn do tác động của lạm phát và lãi suất cao, nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Việt Nam đã tăng đến mức cần báo động. Số tuyệt đối nợ xấu năm 2011 theo ước tính của NHNN vào khoảng 85 ngàn tỷ đồng. Nhưng theo một số chuyên gia am hiểu thì con số này vào khoảng 100 ngàn tỷ đồng với lý do còn một số khoản nợ tiềm ẩn chưa được phản ánh đầy đủ trên hệ thống sổ sách. Xung quanh tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam (< 5%), vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau. Một số ý kiến cho rằng tỷ lệ này có thể gấp đôi (10-12%) và chính NHNNVN cũng thừa nhận việc đánh giá phân loại nợ ở các ngân hàng vẫn chưa theo đúng chuẩn mực thông lệ quốc tế.


Theo quy định tại 493, khái niệm “nợ xấu” bao hàm tất cả các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 đến nhóm 5 tùy theo cấp độ rủi ro khác nhau, theo nguyên tắc chỉ cần một món vay (trong tổng thể nhiều món vay khác nhau) phát sinh quá hạn, hoặc được điều chỉnh kỳ hạn nợ, hoặc gia hạn nợ, thì toàn bộ dư nợ vay của khách hàng đó phải chuyển sang nhóm nợ xấu. Trường hợp khách hàng tích cực thanh toán xong khoản nợ quá hạn nói trên thì vẫn phải chịu phạt “thời gian thử thách” khá dài (3 tháng đối với vay ngắn hạn; 6 tháng đối với vay trung dài hạn ) trước khi toàn bộ dư nợ chuyển về trạng thái bình thường.

Những quy định tương đối ngặt nghèo trên đây đã gây áp lực nợ xấu rất lớn cho khách hàng và ngân hàng, cản trở đến quá trình duy trì quan hệ tín dụng bình thường. Các ngân hàng hoặc khách hàng vô hình chung bị buộc phải nghĩ ra nhiều chiêu thức để luồn lách, đảo nợ, dẫn đến việc đánh giá chất lượng tín dụng nhiều khi trở nên thiếu thực chất.

Trong bối cảnh môi trường kinh doanh còn nhiều bất ổn, doanh nghiệp phải đương đầu với nhiều khó khăn, việc duy trì những quy định có phần hà khắc như trên sẽ đẩy doanh nghiệp và ngân hàng vào thế bất lợi, tạo ra rủi ro cao hơn, về lâu dài sẽ gây lãng phí, thiệt hại các nguồn lực tài chính của nền kinh tế. Đặc biệt, kể từ năm 2012 trở đi, kinh tế Việt Nam phải đẩy mạnh tiến trình tái cơ cấu và đổi mới mô hình tăng trưởng, chắc chắn sẽ có một làn sóng các doanh nghiệp buộc phải cải tổ, sàng lọc, sáp nhập, hợp nhất, kể cả chấp nhận đổ vỡ để làm lại từ đầu. Trong xu hướng ấy, tất yếu nợ xấu sẽ phát sinh nhiều hơn, trên diện rộng hơn, và hơn ai hết hệ thống ngân hàng phải là nơi trực tiếp gánh vác phần lớn hậu quả này. Dự báo năm 2012 và những năm tiếp theo, nợ xấu chính là một trong những bài toán nghiệt ngã không riêng của các doanh nghiệp, ngân hàng, mà của cả Chính phủ và Ngân hàng nhà nước.

Cần một giải pháp toàn diện


Nợ xấu, trên thực tế, phát sinh nhiều hay ít có lẽ không quan trọng bằng việc làm sao nâng cao được năng lực kiểm soát rủi ro mang tính hệ thống theo hướng minh bạch hóa và chuẩn mực hóa hơn. Bản thân từng doanh nghiệp và ngân hàng trước hết phải tự hoàn thiện năng lực quản trị rủi ro nói chung, quản trị dòng tiền nói riêng để phòng tránh nợ xấu phát sinh vượt tầm kiểm soát, đây là con đường cơ bản để góp phần nâng cao hiệu quả chất lượng tín dụng cũng như hiệu quả đầu tư của toàn bộ nền kinh tế.

Nợ xấu, trên thực tế, phát sinh nhiều hay ít có lẽ không quan trọng bằng việc làm sao nâng cao được năng lực kiểm soát rủi ro mang tính hệ thống theo hướng minh bạch hóa và chuẩn mực hóa hơn.
Bên cạnh đó, để giải quyết vấn đề nợ xấu một cách đồng bộ và hiệu quả, thiết nghĩ cần có sự thay đổi căn bản về quan niệm điều hành, nhanh chóng nghiên cứu ban hành những cơ chế và công cụ phù hợp hơn nhằm thúc đẩy tiến trình xử lý nợ tại các doanh nghiệp đi vào khuôn khổ hợp pháp, hợp lý, phù hợp với thực trạng sức khỏe của doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế. Điều này cũng cần thiết khi nền kinh tế Việt Nam phải đối diện với những khó khăn có thể nảy sinh trong tương lai.


Chính phủ và NHNNVN, cần tiến hành sửa đổi bổ sung quyết định 493 cho phù hợp với hoàn cảnh mới, động viên đúng mức những nỗ lực của doanh nghiệp và ngân hàng trong tiến trình xử lý nợ xấu. Điều quan trọng nhất là tạo lập hành lang pháp lý để nhanh chóng tái cơ cấu, khôi phục trạng thái lành mạnh cho những khoản nợ xấu, nợ đóng băng sau khi đã được xử lý một cách hợp lệ, qua đó phát huy cao hơn hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, tránh thất thoát, lãng phí.

Cần tập trung nâng cao năng lực hoạt động cho các công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng ở các doanh nghiệp nhằm thúc đẩy nhanh hơn tiến trình tái cấu trúc nợ và vốn. Chính phủ cần sớm trình Quốc hội ban hành Luật bảo vệ phá sản theo mô hình của Hoa Kỳ, với quan niệm rằng thất bại trong kinh doanh không bị coi là xấu – luật phá sản Hoa Kỳ được xây dựng theo hướng khuyến khích để những người thất bại có được cơ hội tiếp tục theo đuổi công việc kinh doanh hợp pháp của mình. Đồng thời cần khẩn trương hoàn thiện pháp luật, kiên quyết áp dụng những chế tài mạnh để đảm bảo duy trì kỷ cương, kỷ luật thanh toán trong toàn bộ nền kinh tế, tránh tình trạng chiếm dụng vốn triền miên, vô tội vạ như hiện nay, bởi chính thực trạng này đang khiến nhiều doanh nghiệp khốn khổ, mất khả năng thanh toán, kể cả dẫn đến phá sản nhưng thực ra không phải vì trách nhiệm chủ quan của chính họ.

Nguồn: Tạp Chí Tia Sáng

Chủ Nhật, 5 tháng 2, 2012

BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ TRẢ NỢ BẰNG PHẦN VỐN GÓP TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN TẠI NGÂN HÀNG

Phần vốn góp là tỷ lệ vốn mà chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu chung của công ty góp vào vốn điều lệ[1]. Đổi lại việc góp vốn, thành viên góp vốn công ty trách nhiệm hữu hạn có quyền tham gia vào đời sống của doanh nghiệp và được chia lợi nhuận của doanh nghiệp. Tại nhiều nước trên thế giới (Anh, Pháp…) phần vốn góp được sử dụng phổ biến như một loại tài sản bảo đảm trong khi đó tại Việt Nam, bên nhận bảo đảm trong đó có các ngân hàng thường không chấp nhận giao dịch bảo đảm này. Phải chăng pháp luật Việt Nam còn chưa quy định về biện pháp bảo đảm này ? Bài viết này sẽ đưa lại một góc nhìn về vấn đề này và đưa ra một số gợi ý cho việc hoàn thiện quy định pháp luật của Việt Nam.
1. Đối tượng của giao dịch bảo đảm
Đối tượng của giao dịch bảo đảm theo Bộ luật dân sự: điều 322 của Bộ luật dân sự công nhận quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp là một loại quyền tài sản được phép dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự. Theo quy định chung của pháp luật thực định, thế chấp là giao dịch bảo đảm được áp dụng đối với các quyền tài sản bởi hai lý do chính. Một là, quyền tài sản nói chung là các tài sản vô hình và do đó không thể chuyển giao về mặt vật chất cho bên nhận bảo đảm nên không thể là đối tượng của cầm cố. Hai là, trong giao dịch bảo đảm có đối tượng là quyền tài sản, bên thế chấp chỉ giao giấy tờ chứng minh quyền sở hữu của bên thế chấp đối với tài sản cho bên nhận thế chấp và trong quá trình thế chấp, bên thế chấp vẫn « nắm giữ » tài sản thế chấp[2] và được thực hiện một số quyền của chủ sở hữu đối với quyền tài sản[3]. Tuy vậy chính việc điều 322 của Bộ luật dân sự quy định về giao dịch bảo đảm có đối tượng là quyền tài sản đối với phần góp vốn trong doanh nghiệp lại dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng chế định này bởi tính chất khá chung chung của khái niệm quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp. Có thể hiểu quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp gồm các quyền mà thành viên góp vốn có được sau khi thực hiện việc góp vốn vào doanh nghiệp được quy định tại điều 41 của Luật doanh nghiệp (quyền biểu quyết thông qua các quyết định của công ty, quyền được chia lợi nhuận, quyền được ưu tiên góp thêm vốn,…). Tuy nhiên khi nhận thế chấp, sẽ chắc chắn hơn đối với ngân hàng khi nhận phần vốn góp tức là nhận thế chấp tài sản góp vốn của một thành viên góp vốn nhất định như tiền Việt Nam, quyền sử dụng đất, ngoại tệ tự do chuyển đổi[4]…hơn là nhận các quyền của thành viên góp vốn vì pháp luật doanh nghiệp không quy định việc định đoạt quyền của thành viên góp vốn mà chỉ quy định việc định đoạt phần vốn góp.

Đối tượng của giao dịch bảo đảm theo Luật doanh nghiệp : khác với quy định của Bộ luật dân sự, điều 140 của Luật doanh nghiệp khi quy định về quyền và nghĩa vụ của thành viên góp vốn cho phép thành viên góp vốn của công ty hợp danh được định đoạt phần vốn góp của mình bằng cách thế chấp, cầm cố[5]. Tức là Luật doanh nghiệp cho phép thực hiện giao dịch bảo đảm đối với phần vốn góp. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp không nêu rõ việc thành viên góp vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn có quyền cầm cố hay thế chấp đối với phần góp vốn của mình hay không (điểm h khoản 1 điều 41) như trong trường hợp công ty hợp danh (điểm e, khoản 1 điều 140). Tuy điểm h khoản 1 điều 41 quy định mở là « thành viên góp vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn có thể định đoạt phần vốn góp của mình bằng cách khác theo quy định của pháp luật và điều lệ của công ty » nhưng thật khó có thể hình dung giá trị pháp lý của việc thế chấp phần vốn góp nếu chỉ được quy định trong điều lệ của công ty ! Không hiểu vì lý do gì mà nhà làm luật đã bỏ quên quyền của thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn được sử dụng phần vốn góp của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong khi nếu được thực hiện quyền này có thể giúp cho thành viên góp vốn huy động được nguồn tín dụng hữu ích.
Hướng tiếp cận nào ? Theo quan điểm của tác giả, Bộ luật dân sự nên thay khái niệm quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp bằng khái niệm phần vốn góp và Luật doanh nghiệp nên cho phép thực hiện việc thế chấp phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn vì các lý do sau đây :
- Về bản chất phần vốn góp được phân tích là một quyền chủ nợ của thành viên góp vốn đối với công ty cho nên tự thân nó là một quyền tài sản có thể trở thành đối tượng của giao dịch bảo đảm.
- Điều 140 của Luật doanh nghiệp đã chính thức công nhận việc thế chấp phần vốn góp trong công ty hợp danh, không có lý do gì mà không công nhận việc thế chấp phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn.
- Pháp luật doanh nghiệp công nhận một cách rộng rãi việc định đoạt phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn đặc biệt thông qua việc chuyển nhượng phần vốn góp[6] và thông qua việc sử dụng phần vốn góp để trả nợ[7], tức là công nhận phần vốn góp là một loại tài sản có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự nên việc thế chấp phần vốn góp sẽ vẫn tuân thủ chung tinh thần của Luật doanh nghiệp[8].
2. Một số rủi ro của việc nhận thế chấp phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn
Nhìn chung, các hệ quả pháp lý của việc thế chấp phần vốn góp tương đối phức tạp. Tuy vậy, chừng nào chưa tiến hành xử lý tài sản bảo đảm, bên bảo đảm vẫn là bên duy nhất được thực hiện đầy đủ các quyền của một thành viên góp vốn theo quy định của pháp luật doanh nghiệp. Chẳng hạn, bên bảo đảm vẫn được thực hiện quyền biểu quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng thành viên với số phiếu biểu quyết tương ứng với phần vốn góp [9] hay vẫn được chia lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp. Về phần mình trong thời gian này, bên nhận thế chấp có thể đứng trước một số rủi ro nhất định.
Rủi ro liên quan đến việc sụt giảm giá trị của phần vốn góp : một rủi ro mà chúng ta có thể nghĩ ngay đến là việc giá trị phần vốn góp được thế chấp bị giảm sút do việc quản lý công ty không tốt hay trong tình huống xấu hơn do động cơ xấu của bên bảo đảm vì bên bảo đảm vẫn thực hiện quyền biểu quyết nên vẫn tham gia vào việc quản lý công ty. Giải pháp cho ngân hàng trong trường hợp này là cấp cho bên nhận thế chấp một khoản tín dụng có giá trị thấp hơn giá trị phần vốn góp trên cơ sở tính đến hệ số rủi ro này hoặc quy định trong hợp đồng thế chấp là bên thế chấp phải bổ sung tài sản góp vốn trong trường hợp giảm giá trị phần vốn góp đã thế chấp hoặc là trong trường hợp này, khoản vay sẽ lập tức đến hạn thanh toán (acceleration clause).
Rủi ro liên quan đến việc thay đổi phần vốn góp : một rủi ro khác đối với bên nhận thế chấp là việc phần vốn góp thế chấp biến mất do việc công ty giảm cố ý vốn điều lệ nhằm làm vô hiệu hóa giao dịch thế chấp vì tài sản thế chấp không còn sau đó lại thực hiện tăng vốn điều lệ. Có thể quy định trong hợp đồng là trong trường hợp này, khoản vay sẽ lập tức đến hạn thanh toán nếu bên thế chấp không bổ sung tài sản thế chấp khác hoặc quy định phần vốn góp mới của bên thế chấp vào công ty sẽ tự động trở thành đối tượng của hợp đồng thế chấp.
3. Một số gợi ý cụ thể hoàn thiện pháp luật về thế chấp phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn
Nhìn chung, pháp luật thực định còn rất thiếu các quy định về thế chấp phần vốn góp cả ở trên phương diện xác lập hợp đồng thế chấp lẫn xử lý tài sản thế chấp vì ngoài một vài quy định mang tính nguyên tắc như trình bày ở trên, không có quy định nào của Bộ luật dân sự, Nghị định 163 hay Luật doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành đề cập đến biện pháp bảo đảm này. Có lẽ đây cũng chính là nguyên nhân của việc các ngân hàng hiện nay thường do dự hay không chấp nhận biện pháp bảo đảm này dù pháp luật không cấm. Xin nêu một số gợi ý sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật thực định như sau :
- Thế chấp phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn phải được quy định trong Bộ luật dân sự (công nhận việc thế chấp phần vốn góp với tư cách là thế chấp một quyền tài sản) và trong Luật doanh nghiệp (đối với các vấn đề cụ thể của chế định này, đặc biệt là việc chấp thuận bên nhận thế chấp với tư cách là thành viên công ty thay cho bên thế chấp trong trường hợp xử lý tài sản bảo đảm và việc chuyển nhượng phần vốn góp cho bên thứ ba).
- Cần thống nhất cách gọi loại hình giao dịch bảo đảm này theo hướng công nhận đây là một trong các biện pháp thế chấp để thống nhất với cách gọi tên cách giao dịch bảo đảm đối với các quyền tài sản nói chung. Hơn nữa không thể cầm cố phần vốn góp vì ở đây không có sự chuyển giao phần vốn góp vì như đã phân tích ở trên trong thời hạn có hiệu lực của giao dịch bảo đảm, bên bảo đảm vẫn được thực hiện đầy đủ các quyền của thành viên góp vốn.
- Nên công nhận cả việc thế chấp phần vốn góp hình thành trong tương lai : theo quy định tại điều 342 của Bộ luật dân sự, tài sản thế chấp có thể là tài sản hình thành trong tương lai. Pháp luật doanh nghiệp cho phép công ty trách nhiệm hữu hạn có thể thực hiện việc tăng vốn điều lệ[10], tức là luôn có khả năng thành viên góp vốn sẽ được phân chia số vốn góp thêm. Do đó về nguyên tắc, có thể thế chấp cả phần tài sản hình thành trong tương lai này.
- Thiết lập các quy định về việc chấp thuận giao dịch thế chấp phần vốn góp : theo quy định của Luật doanh nghiệp khi chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho người khác, thành viên góp vốn phải chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện và chỉ được chuyển nhượng cho người khác không phải là thành viên nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc không mua hết trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày chào bán[11]. Hơn nữa trong trường hợp thành viên sử dụng phần vốn góp để trả nợ thì người nhận thanh toán chỉ được trở thành thành viên của công ty nếu được các thành viên còn lại chấp thuận, nếu không sẽ bắt buộc phải chào bán phần vốn góp đó[12]. Có thể thấy tinh thần của Luật doanh nghiệp là hạn chế sự xuất hiện của thành viên mới trong công ty và tôn trọng quyết định chấp thuận hay không chấp thuận thành viên mới của các thành viên còn lại. Để tránh xung đột với các quy định này, nên quy định trong trường hợp xử lý tài sản thế chấp là bên nhận thế chấp chỉ có thể trở thành thành viên của công ty thay cho bên thế chấp nếu được các thành viên còn lại chấp thuận, và nếu không được chấp thuận thì sẽ có quyền chào bán phần vốn góp. Việc chấp thuận bên nhận thế chấp có thể diễn ra ngay trong giai đoạn xác lập hợp đồng thế chấp thông qua việc gửi dự thảo hợp đồng thế chấp đến công ty để các thành viên trong Hội đồng thành viên xem xét quyết định và trong trường hợp này khi xử lý tài sản bảo đảm không cần thiết phải xin chấp thuận bên nhận thế chấp như một thành viên thay thế bên thế chấp trong công ty. Các ngân hàng với tư cách là bên nhận thế chấp khi xử lý tài sản thế chấp sẽ có xu hướng chuyển nhượng phần vốn góp hơn là trở thành thành viên công ty. Quyền chủ động bán tài sản của ngân hàng (tìm đối tác, quyết định giá và phương thức bán…) cần được tôn trọng. Cũng cần lưu ý thêm rằng hiện nay theo quy định tại khoản 2, điều 70, Nghị định 163, trong trường hợp pháp luật quy định việc chuyển quyền sở hữu tài sản phải có sự đồng ý bằng văn bản của chủ sở hữu, thì hợp đồng thế chấp tài sản được dùng để thay thế giấy tờ đó, tức là nếu trong trường hợp bên nhận thế chấp bán phần vốn góp cho bên thứ ba, để bên mua có thể được đăng ký trở thành viên công ty, hợp đồng thế chấp có thể được xem là bằng chứng về việc bên thế chấp đã đồng ý cho việc chuyển quyền sở hữu sang bên thứ ba này.
Có thể thấy hiện nay quy định về giao dịch bảo đảm đối với phần vốn góp còn chưa rõ ràng và đầy đủ. Đây là một điều đáng tiếc bởi vì thế chấp phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn có chi phí thấp và hơn nữa phần vốn góp có thể là tài sản chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của thành viên góp vốn là bên đi vay ngân hàng nên vô tình chúng ta đang lãng phí loại hình tài sản thế chấp này.
Tài liệu tham khảo :
  1. ThS. Vũ Thị Hồng Yến, Những tài sản không thể trở thành đối tượng của hợp đồng thế chấp, Tạp chí Luật học, số 7/2011.
  2. F. Jacob, Le nantissement de parts sociales, Droit et Patrimoine, 2007.

[1] Khoản 5, điều 4, Luật doanh nghiệp.
[2] Theo công văn số 141/TANDTC-KHXX của Tòa án nhân dân tối cao về thẩm quyền giải quyết các yêu cầu trả lại giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản ngày 21/09/2011, các giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản không phải là « giấy tờ có giá » quy định tại điều 163 của Bộ luật dân sự, tức là tự thân chúng không phải là một loại tài sản có thể dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.
[3] Chẳng hạn đối với quyền sử dụng đất, bên thế chấp được tiếp tục khai thác công dụng của tài sản hay đối với quyền sở hữu công nghiệp, chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp tiếp tục được hưởng tiền chuyển giao quyền sử dụng cho các bên thứ ba trừ trường hợp tiền chuyển giao quyền sử dụng cho các bên thứ ba cũng thuộc tài sản thế chấp theo thỏa thuận của các bên (khoản 1, điều 349 của Bộ luật dân sự).
[4] Khoản 4, điều 4, Luật doanh nghiệp : tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty.
[5] Ở đây nhà làm luật sử dụng cả hai thuật ngữ là thế chấp và cầm cố phần vốn góp. Như đã phân tích ở trên, đối với các quyền tài sản, thường áp dụng chế định thế chấp. Có thể nhà làm luật chịu ảnh hưởng của chế định cầm cố chứng khoán được quy định trong pháp luật chuyên ngành về chứng khoán. Điều 321, Bộ luật dân sự và Điều 19, Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về Giao dịch bảo đảm (Nghị định 163) công nhận việc cầm cố giấy tờ có giá trong đó có cổ phiếu. Cần lưu ý là cổ phiếu dù đã niêm yết hay chưa niêm yết thì cũng là một loại giấy tờ có giá có thể chuyển giao được cho bên nhận cầm cố trong khi đó giấy chứng nhận phần vốn góp chỉ là một loại giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản và tự thân nó không thể là đối tượng của cầm cố và trong giao dịch bảo đảm đối với phần vốn góp không có sự chuyển giao phần vốn góp vì về nguyên tắc trong thời hạn có hiệu lực của giao dịch bảo đảm, bên bảo đảm vẫn được thực hiện đầy đủ các quyền của thành viên góp vốn.
[6] Chẳng hạn các điều 41 và 44, Luật doanh nghiệp.
[7] Khoản 6. Điều 44, Luật doanh nghiệp.
[8] Nếu coi phần vốn góp là một loại quyền tài sản thì nó thỏa mãn đồng thời hai điều kiện quy định tại điều 181 của Bộ luật dân sự : (i) là quyền trị giá được bằng tiền và (ii) có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự.
[9] Công ty trách nhiệm hữu hạn nằm ở điểm giao thoa giữa công ty đối vốn (công ty cổ phần) và công ty đối nhân (công ty hợp danh) nên vẫn mang một số nét đặc trưng của công ty đối nhân, theo đó việc coi trọng tư cách cá nhân của chủ thể (intuitus personae) kéo theo việc quyền biểu quyết phải được thực hiện bởi chính các thành viên công ty chứ không phải bởi bên thứ ba.
[10] Khoản 1, Điều 60, Luật doanh nghiệp : theo quyết định của Hội đồng thành viên, công ty có thể tăng vốn điều lệ bằng các hình thức sau đây:
- Tăng vốn góp của thành viên;
- Điều chỉnh tăng mức vốn điều lệ tương ứng với giá trị tài sản tăng lên của công ty;
- Tiếp nhận vốn góp của thành viên mới.
[11] Điều 44, Luật doanh nghiệp.
[12] Khoản 6, điều 45, Luật doanh nghiệp.

Nguồn: TẠP CHÍ NGÂN HÀNG SỐ 22