Thứ Bảy, 30 tháng 10, 2010

Giảm trừ thuế thu nhập cá nhân

Tôi kinh doanh một tiệm tạp hóa tại nhà và năm nào tôi cũng đến các trại trẻ mồ côi để làm từ thiện. Vậy các khoản đóng góp từ thiện có được giảm trừ thuế thu nhập cá nhân hay không?
(Nguyễn Thị Sửu, Nguyễn Văn Đậu, quận Bình Thạnh, TP.HCM)

Luật sư trả lời: Theo điểm 3.2 Mục I Phần B Thông tư 84 ngày 30-9-2008 của Bộ Tài chính, đối với đối tượng nộp thuế là cá nhân cư trú, khoản chi đóng góp vào các tổ chức, cơ sở chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người tàn tật, người già không nơi nương tựa (được thành lập và hoạt động theo Nghị định 68 ngày 30-5-2008 của Chính phủ) được trừ vào thu nhập chịu thuế đối với thu nhập từ kinh doanh trước khi tính thuế. Tài liệu để chứng minh việc đóng góp là chứng từ thu hợp pháp của tổ chức, cơ sở.

Nếu có các chứng từ hợp pháp theo quy định trên thì bà sẽ được tính trừ vào thu nhập chịu thuế.

Vợ chết trong khi xin ly hôn, chồng có được hưởng tài sản của vợ?

Hỏi: Năm 2007 do có mâu thuẫn về tài sản nên vợ chồng tôi đã phân chia tài sản chung. Cuối năm 2008 tôi đã làm đơn xin ly hôn. Trong thời gian chờ Tòa án giải quyết ly hôn thì vợ tôi bị tai nạn chết. Sau khi vợ tôi chết, gia đình nhà vợ đã tự ý chia tài sản của vợ tôi rồi nói tôi không còn có quyền gì đối với tài sản của cô ấy vì trước đó hai người đã chia tài sản rồi và chúng tôi đã xin ly hôn nên tôi không còn liên quan gì nữa. Xin cho biết tôi có còn được hưởng thừa kế tài sản của vợ tôi không? (Đặng Văn Hùng, Ba Đình, Hà Nội).
Trả  lời: Theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 thì vợ chồng có quyền chia tài sản chung của mình để xác lập phần tài sản của mỗi người trong khối tài sản chung đó. Việc chia tài sản của vợ chồng không làm chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa họ. Trường hợp của bạn, khi bạn đang làm thủ tục xin ly hôn mà vợ bạn mất thì không làm mất đi quyền thừa kế của bạn đối với tài sản của vợ.
Theo quy định tại Điều 680 Bộ luật Dân sự quy định về việc thừa kế trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung, đang xin ly hôn, đã kết hôn với người khác thì:
- Trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại mà sau đó một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản.
- Trong trường hợp vợ, chồng xin ly hôn mà chưa được hoặc đã được Tòa án cho ly hôn bằng bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật, nếu một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản.
- Người đang là vợ hoặc chồng của một người tại thời điểm người đó chết thì dù sau đó đã kết hôn với người khác vẫn được thừa kế di sản.
Với các quy định nói trên thì bạn hoàn toàn có quyền hưởng di sản thừa kế của vợ. Do vậy, nếu không đồng tình với quyết định của gia đình nhà vợ, bạn có thể khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu Tòa án giải quyết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Yêu cầu phản tố trong vụ án dân sự

Hỏi: Tôi bị một người bạn kiện ra Tòa đòi khoản tiền nợ 900 triệu đồng. Tuy nhiên người kiện tôi cũng nợ lại tôi 300 triệu đồng. Vậy tôi có thể khởi kiện lại người này hay không? Thủ tục ra sao? (Ngô Văn Hùng, Tuyên Quang)
Trả lời: Phản tố là một quyền của người bị kiện (bị đơn) trong vụ án dân sự, theo đó, người bị kiện được quyền "kiện ngược lại" người đã kiện mình, nếu việc "kiện ngược" đó đáp ứng được các quy định của pháp luật.
Theo quy định tại Điều 175, 176 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được thông báo về việc Toà án đã thụ lý vụ án, người được thông báo (bị đơn) phải nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu có. Cùng với việc phải nộp cho Toà án văn bản nói trên, bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn. Yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn được chấp nhận khi có một trong các trường hợp sau đây:
- Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn;
- Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn;
- Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.
Theo quy định nói trên, bạn là bị đơn trong vụ án (bị đòi nợ 900 triệu đồng) và yêu cầu phản tố của bạn (đòi nợ 300 triệu đồng) được coi là trường hợp "để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn"; do đó bạn có quyền làm đơn yêu cầu phản tố nộp cho Tòa án nơi đã thụ lý vụ án theo yêu cầu của nguyên đơn. Thủ tục yêu cầu phản tố thực hiện theo quy định về thủ tục khởi kiện của nguyên đơn. Cùng với đơn yêu cầu phản tố, bạn phải nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ kèm theo để chứng minh cho yêu cầu phản tố.
Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ do bạn xuất trình, Tòa án sẽ xem xét, quyết định việc có chấp nhận yêu cầu phản tố của bạn hay không? Nếu yêu cầu phản tố của bạn được chấp nhận, bạn sẽ được bù trừ khoản tiền (300 triệu đồng) nguyên đơn còn nợ bạn vào khoản tiền (900 triệu đồng) bạn còn nợ nguyên đơn, khi đó, nếu yêu cầu đòi tiền của nguyên đơn cũng được Tòa án chấp nhận thì bạn chỉ có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền 600 triệu đồng

Đòi lại đất cho mượn lại phải bồi thường?

Hỏi: Năm 1996, tôi có cho người bà con mượn đất thổ cư để ở, nay tôi muốn sử dụng nên đòi lại phần đất này. Người mượn đất đồng ý trả lại mặt bằng cho tôi nhưng đòi tôi phải bồi thường phần tài sản mà họ đã xây cất trên đó. Xin hỏi tôi có phải bồi thường cho người này không? (Nguyễn Phước Sang, Hà Tĩnh).
Trả lời: Với việc cho mượn đất ở, giữa bạn và người mượn đã xác lập một hợp đồng mượn tài sản. Theo quy định tại Điều 512 Bộ luật Dân sự (BLDS) thì: "Hợp đồng mượn tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn giao tài sản cho bên mượn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền, còn bên mượn phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được". Vì vậy, bạn có quyền đòi lại đất đã cho người này mượn khi đã hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được. Trong trường hợp "bên cho mượn có nhu cầu đột xuất và cấp bách cần sử dụng tài sản cho mượn thì được đòi lại tài sản đó mặc dù bên mượn chưa đạt được mục đích, nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý" (khoản 1 Điều 517 BLDS).
Mặt khác, Điều 515 BLDS cũng quy định bên mượn có quyền: "Yêu cầu bên cho mượn phải thanh toán chi phí hợp lý về việc sửa chữa hoặc làm tăng giá trị tài sản mượn, nếu có thỏa thuận". Do đó, trong trường hợp hai bên có thỏa thuận, người mượn đất của bạn có quyền đòi bạn phải thanh toán chi phí cho việc họ xây cất nhà trên đất vì việc xây dựng này đã làm tăng giá trị quyền sử dụng đất của bạn. Trong trường hợp hai bên không có thỏa thuận thì bạn không phải thanh toán chi phí xây dựng trên mảnh đất mà bạn đã cho mượn

Chủ nhà mất tích có bán được nhà không?

Hỏi: Cha mẹ tôi có tài sản chung là ngôi nhà ở mặt phố cổ Hà Nội. Năm 1996, cha tôi bỏ đi biệt tích, gia đình đã tìm kiếm nhưng không thấy. Năm 2002, Tòa án ra quyết định tuyên bố ông mất tích. Nay mẹ tôi muốn bán căn nhà trên có được không? (Ánh Minh, Hà Nội).
Trả lời: Theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình, căn nhà mà gia đình bạn đang sử dụng là tài sản chung của cha mẹ bạn nên cả 2 người có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc định đoạt tài sản nói trên. Vì vậy, việc chuyển quyền sở hữu nhà cho người khác phải có sự đồng ý của cha bạn.
Tuy nhiên, trong trường hợp này, cha bạn mất tích nhiều năm và đã bị Tòa án tuyên bố là mất tích từ năm 2002 nên theo quy định tại mục a khoản 1 Điều 81 Bộ luật Dân sự, những người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu tòa án ra quyết định tuyên bố cha bạn là đã chết vì "sau ba năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống".
Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Bộ luật Dân sự: "Quan hệ tài sản của người bị tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế" nên sau khi có quyết định của Tòa án tuyên bố cha bạn đã chết (có hiệu lực pháp luật) và xác định được thời điểm mở thừa kế, gia đình bạn phải làm thủ tục khai nhận thừa kế đối với phần tài sản của cha bạn, sau đó mới chuyển nhượng được tài sản này

Những người nào không được hưởng di sản thừa kế?

Hỏi: Pháp luật hiện nay có quy định nào về việc tước quyền thừa kế đối với con cái do ngược đãi, hành hạ cha, mẹ không? Người lập di chúc giả mạo để chiếm đoạt di sản nhưng bị phát hiện kịp thời có được hưởng di sản thừa kế không? (Ngô Thị Mai, Diễn Châu, Nghệ An).
Trả lời: Theo quy định tại Điều 643 Bộ luật Dân sự, những người sau đây không được quyền hưởng di sản thừa kế:
a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;
b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
Theo quy định trên, con cái có hành vi ngược đãi, hành hạ cha, mẹ hoặc người lập di chúc giả mạo để chiếm đoạt di sản sẽ không được quyền hưởng di sản thừa kế. Tuy nhiên, pháp luật cũng có quy định những người thuộc vào một trong những trường hợp nói trên vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc. Như vậy, về nguyên tắc, việc tước quyền hưởng di sản thừa kế của những người nói trên chỉ thực hiện trong trường hợp thừa kế theo pháp luật.
Nếu di chúc cho họ được hưởng di sản bị phát hiện là giả mạo thì người giả mạo không được hưởng di sản thừa kế

Chia tài sản của cha để lại

Hỏi:
Ông nội tôi mất, để tài sản lại cho ba tôi thừa kế. Khi ba tôi mất, tài sản này (gồm nhà cửa, đất đai do ba tôi đứng tên) để lại cho tôi và em gái tôi. Do điều kiện kinh tế đầy đủ, tôi làm giấy để toàn bộ tài sản này cho em gái tôi hưởng (có xác nhận của chính quyền địa phương, nơi có tài sản của ba tôi). Nay các ông anh, em chú bác của ba tôi không đồng ý và đề nghị chia tài sản này. Như vậy phần tài sản của ba tôi có phải chia cho các ông anh, em chú bác của ba tôi?

Luật sư trả lởi:
- Theo điều 631 Bộ luật dân sự, cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Ngoài ra, theo điểm a khoản 1 điều 676 bộ luật trên, những người thừa kế theo pháp luật thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm có: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.
Như vậy, khi cha anh mất không để lại di chúc (bà nội và mẹ anh cũng đã mất) thì số nhà, đất do cha anh đứng tên thuộc về anh và người em gái. Nếu anh đã làm thủ tục từ chối nhận di sản theo đúng quy định (trong thời hạn sáu tháng, kể từ ngày mở thừa kế; có lập thành văn bản; có báo cho những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản, UBND xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mở thừa kế về việc từ chối nhận di sản) thì nay em gái của anh được quyền sở hữu, sử dụng toàn bộ số nhà, đất do cha anh để lại.
Các chú, bác của anh không có quyền cản trở em gái anh thực hiện quyền sở hữu, sử dụng nhà, đất nói trên.

NHÀ, XE ĐÃ BÁN NHƯNG NGƯỜI MUA CHƯA SANG TÊN, RỦI RO AI CHỊU?

Trong các hợp đồng mua bán, giao dịch về tài sản thì việc xác định thời điểm chuyển giao quyền sở hữu và thời điểm chịu rủi ro là những vấn đề vô cùng quan trọng, xác định quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia giao dịch. Vấn đề này được Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định khá cụ thể.
Theo đó, Điều 168 Bộ luật Dân sự (BLDS) quy định về thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản: "Việc chuyển quyền sở hữu đối với bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sở hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Việc chuyển quyền sở hữu đối với động sản có hiệu lực kể từ thời điểm động sản được chuyển giao, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác"; Điều 439 quy định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản: "Quyền sở hữu đối với tài sản mua bán được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm tài sản được chuyển giao, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Đối với tài sản mua bán mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì quyền sở hữu được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản đó. Trong trường hợp tài sản mua bán chưa được chuyển giao mà phát sinh hoa lợi, lợi tức thì hoa lợi, lợi tức thuộc về bên bán". Về thời điểm chịu rủi ro, Điều 440 quy định: "Bên bán chịu rủi ro đối với tài sản mua bán cho đến khi tài sản được giao cho bên mua, còn bên mua chịu rủi ro đối với tài sản mua bán kể từ khi nhận tài sản, nếu không có thoả thuận khác. Đối với hợp đồng mua bán tài sản mà pháp luật quy định tài sản đó phải đăng ký quyền sở hữu thì bên bán chịu rủi ro cho đến khi hoàn thành thủ tục đăng ký, bên mua chịu rủi ro kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký, kể cả khi bên mua chưa nhận tài sản, nếu không có thoả thuận khác.".
Như vậy có thể nói, về nguyên tắc theo quy định của BLDS thì thời điểm chuyển quyền sở hữu và thời điểm chịu rủi ro thông thường là đồng nhất, tức bên bán chịu rủi ro cho đến khi tài sản được giao cho bên mua, bên mua chịu rủi ro kể từ khi nhận tài sản. Nếu đối tượng của hợp đồng là bất động sản, tài sản pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì bên bán chịu rủi ro cho đến khi hoàn thành thủ tục đăng ký, bên mua chịu rủi ro kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký, nếu các bên không có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Tuy nhiên trên thực tế khi áp dụng các quy định của BLDS nêu trên để xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu và trách nhiệm chịu rủi ro trong một số trường hợp gặp nhiều vướng mắt do sự thiếu đồng bộ của các quy định pháp luật hiện hành.

Trường hợp thứ nhất, ông Nguyễn Văn A có một chiếc xe gắn máy, sau một thời gian sử dụng ông bán lại cho ông Trần Văn B, giấy mua bán xe đã được UBND phường nơi ông A sinh sống chức thực theo quy định tại Thông tư số 12/2008/TT-BCA-C11 ngày 20/8/2008 của Bộ Công an quy định về việc tổ chức đăng ký, cấp biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. Tuy nhiên sau khi mua xe, ông B không đi làm thủ tục sang tên theo quy định mà vẫn giữ giấy đăng ký xe mang tên ông A để sử dụng, vì ông B cho rằng nếu bị Cảnh sát giao thông kiểm tra giấy đăng ký xe thì chỉ cần xuất trình giấy đăng ký và bảo rằng xe mượn sẽ không hề xử phạt, mặc khác làm thủ tục sang tên rất mất thời gian nên ông không đi làm. Sau đó ông B điều khiển xe gây ra tai nạn giao thông. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì xe gắn máy là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu. Vì vậy đối chiếu với các quy định nêu trên, khi ông B gây ra tai nạn xe máy này về phương diện pháp lý vẫn còn thuộc quyền sở hữu của ông A (vì chưa hoàn thành thủ tục đăng ký) nên ông A phải có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại với vai trò là chủ sở hữu phương tiện theo quy định của BLDS mặc dù ông A là người hoàn toàn không có lỗi trong việc ông B gây ra tai nạn.
Trường hợp thứ hai, ông M thoả thuận bán cho bà N một căn nhà và vườn rộng 1.000 m2 ở vị trí gần bờ sông với giá 800 triệu đồng. Bà N trả trước 600 triệu, 200 triệu còn lại sẽ trả sau khi hoàn tất thủ tục đăng ký quyền sở hữu. Hợp đồng mua bán đã được công chứng vào ngày 15/8/2010 và theo thoả thuận bà N có nghĩa vụ làm thủ tục đăng ký quyền sở hữu. Tuy nhiên trong thời gian chờ hoàn tất thủ tục đăng ký quyền sở hữu thì đêm 18/8/2010, sau một trận mưa lớn, bờ sông bị sạt lỡ cuốn trôi gần 200 m2 đất của khu vườn này. Bà N đề nghị ông M giảm 200 triệu đồng còn lại để khấu trừ vào số diện tích đất vườn đã bị cuốn trôi. Ông M không đồng ý, ông cho rằng hợp đồng đã được công chứng và có hiệu lực. Tại khoản 5, Điều 93 của Luật Nhà ở quy định "Quyền sở hữu nhà ở được chuyển cho bên mua…kể từ thời điểm hợp đồng được công chứng đối với giao dịch về nhà ở giữa cá nhân với cá nhân". Bà M thì bảo rằng Luật Nhà ở chỉ quy định về phần nhà, còn phần đất thì khác. Đất là bất động sản và thuộc diện phải đăng ký quyền sở hữu, vì vậy theo quy định tại Điều 168, Điều 439 và Điều 440 của Bộ Luật dân sự thì tính đến đêm 18/8/2010 quyền sở hữu đối với đất vẫn chưa chuyển dịch sang cho bà vì chưa hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu (theo quy định tại Điều 439), điều đó cũng đồng nghĩa với việc ông M phải chịu rủi ro khi vườn bị sạt lỡ vì thủ tục đăng ký chưa hoàn thành (theo quy định tại Điều 440).
Qua các trường hợp nêu trên có thể nhận thấy: Thứ nhất, đối với những giao dịch dân sự liên quan đến nhóm tài sản là bất động sản, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu nếu người mua không thực hiện hoặc kéo dài việc đăng ký quyền sở hữu thì "nguy cơ" người bán phải chịu rủi ro là rất cao. Thứ hai, là đối tượng của hợp đồng (nhà gắn liền với đất) nhưng khi hợp đồng đã có hiệu lực thì việc xác địch chủ sở hữu của nhà và đất lại không đồng nhất với nhau, phần nhà đã chuyển dịch quyền sở hữu sang cho bên mua nhưng phần đất thì vẫn còn sở hữu của bên bán nếu chưa hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu.
Từ những bất cập nêu trên, thiết nghĩ trong thời gian đến Bộ Công an cần sớm sửa đổi các quy định hiện hành theo hướng khi cơ quan có thẩm quyền chứng thực vào giấy tờ mua bán, tặng cho phương tiện cơ giới thì đồng thời tiến hành thủ tục thu hồi giấy đăng ký đã cấp trước đó. Điều đó sẽ bắt buộc người mua nếu muốn sử dụng thì phải tiến hành thủ tục sang tên trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày làm giấy tờ mua bán, cho tặng xe theo quy định tại Thông tư số 01/2007/TT-BCA-C11, đồng thời sẽ đảm bảo yêu cầu về quản lý phương tiện cơ giới, loại trừ được trách nhiệm chịu rủi ro của người đã bán xe, nhất là tình trạng xe đã bán nhưng người mua không tiến hành sang tên đang diễn ra phổ biến như hiện nay. Sửa đổi Bộ luật dân sự và quy định của các văn bản pháp luật có liên quan phần xác định thời điểm chuyển giao quyền sở hữu và thời điểm chịu rủi ro đối với nhóm tài sản là bất động sản, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu theo hướng thời điểm chuyển giao quyền sở hữu và thời điểm chịu rủi ro sẽ chuyển giao từ người bán sang người mua kể từ thời điểm hợp đồng hoặc giấy tờ mua bán, tặng cho được công chứng, chứng thực, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác./.
(Theo CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỔNG CỤC THI HÀNH DÂN SỰ)

Thứ Năm, 28 tháng 10, 2010

MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHI QUI ĐỊNH ĐỘ TUỔI NGƯỜI LAO ĐỘNG DƯỚI 18 TUỔI TRONG CÁC LUẬT, BỘ LUẬT

Trong các văn bản pháp luật hiện hành, người dưới 18 tuổi được quy định ở nhiều văn bản khác nhau như Bộ luật Dân sự – BLDS (Điều 18), Bộ luật Hình sự – BLHS (Điều 68), Bộ luật Lao động – BLLĐ (Điều 119), Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em – Luật BVCSVGDTE (Điều 1)… Nhưng trong mỗi văn bản lại có cách quy định khác nhau về nhóm đối tượng này. Khác với người đã trưởng thành, là người đã phát triển đầy đủ cả về thể chất lẫn tinh thần, có thể tham gia đầy đủ các quan hệ xã hội do luật định, người dưới 18 tuổi chưa thể tham gia đầy đủ các quan hệ xã hội do họ có những đặc điểm riêng về tâm sinh lý và thể chất. Từ những đặc điểm riêng của nhóm người dưới 18 tuổi và để phù hợp với phạm vi, đối tượng điều chỉnh, các văn bản luật khác nhau lại có cách gọi khác nhau về nhóm người dưới 18 tuổi.
1. BLDS và BLHS quy định nhóm người dưới 18 tuổi là “người chưa thành niên”, nhưng giới hạn về độ tuổi của người chưa thành niên lại khác nhau. Điều 18, BLDS quy định: Người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên. Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên. Như vậy, BLDS coi tất cả những người dưới 18 tuổi là người chưa thành niên.
Khác với BLDS, quy định tại Điều 68 BLHS chỉ nêu: “người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự…”. Điều này cho thấy, quy định trong BLHS về người chưa thành niên chỉ giới hạn ở nhóm tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi (tức thấp nhất là từ đủ 14 tuổi trở lên và cao nhất là dưới 18 tuổi), không đề cập tới tất cả những người dưới 18 tuổi như quy định trong BLDS. Tuy nhiên, quy định về người chưa thành niên trong hai Bộ luật này lại không mẫu thuẫn, khi cùng đề cập tới người chưa thành niên, mỗi Bộ luật lại đưa ra giới hạn về chủ thể khác nhau thuộc phạm vi điều chỉnh của mình.
2. BLLĐ quy định một nhóm đối tượng trong nhóm người dưới 18 tuổi là “người lao động chưa thành niên”. Người lao động chưa thành niên được xác định như sau:
Tại Điều 6 BLLĐ quy định: “người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi”. Mặt khác, tại khoản 1 Điều 119 quy định “người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi”. Kết hợp quy định tại Điều này với quy định tại Điều 6 trên, ta thấy độ tuổi của người lao động chưa thành niên là từ đủ 15 tuổi cho tới dưới 18 tuổi. Từ đó, có thể hiểu người lao động chưa thành niên là một nhóm lao động đặc thù, ở độ tuổi từ đủ 15 tuổi cho đến dưới 18 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động.

Cụ thể hoá quy định về độ tuổi của người lao động chưa thành niên là từ đủ 15 tuổi cho đến dưới 18 tuổi, tại điểm 51 trong Danh mục công việc cấm sử dụng lao động chưa thành niên được ban hành kèm theo Thông tư số 09/TT-LB ngày 13/4/1995 của Liên Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội – Bộ Y tế quy định nhóm tuổi này là từ 180 tháng tuổi cho đến dưới 216 tháng tuổi. Tuy nhiên, quy định tại điểm 51 nêu trên chỉ áp dụng đối với trường hợp người lao động chưa thành niên tham gia công việc liên quan đến mang vác trọng lượng một vật nhất định, không thấy đề cập tới việc áp dụng chung cho tất cả các công việc, ngành nghề cấm sử dụng lao động chưa thành niên.
Quy định trên cho thấy pháp luật lao động chỉ thừa nhận những người từ đủ 15 trở lên mới được tham gia quan hệ lao động, còn những người chưa đủ 15 tuổi tham gia quan hệ lao động thì không được pháp luật lao động thừa nhận1. Việc quy định tuổi lao động này được dựa trên một số cơ sở như: đây là độ tuổi tối thiểu để một người có đủ năng lực chủ thể để tham gia quan hệ lao động, có thể tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong lao động; việc quy định này còn căn cứ vào điều kiện kinh tế, xã hội về số lượng và cơ cấu của lực lượng lao động xã hội; mối quan hệ giữa cung và cầu trên thị trường lao động; cơ cấu và nhu cầu giải quyết việc làm của xã hội; ngoài ra, quy định này còn nhằm bảo đảm yêu cầu phù hợp với các tiêu chuẩn lao động quốc tế, phù hợp giữa pháp luật quốc gia với pháp luật quốc tế và các nước khác trong khu vực.
Bổ sung thêm cho quy định tại Điều 6 trên, tại Điều 120 khẳng định thêm “Cấm nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc, ngoại trừ một số nghề và công việc do Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội quy định” như: diễn viên, các nghề truyền thống, các nghề thủ công mỹ nghệ, vận động viên năng khiếu. Và khi người sử dụng lao động nhận những em dưới 15 tuổi vào làm việc thì phải tuân theo những điều kiện chặt chẽ do luật quy định như: trẻ em đủ 12 tuổi, có sức khoẻ phù hợp với công việc, có giấy cam kết và đồng ý theo dõi của cha mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp, môi trường lao động không được quá 4 giờ một ngày hoặc 24 giờ một tuần, có hợp đồng lao động… Như vậy, đối với người dưới 15 tuổi, thì ngoài một số nghề, công việc và các điều kiện như trên nêu thì bất kỳ người nào dưới 15 tuổi tham gia quan hệ lao động đều là trái pháp luật lao động của Việt Nam.
Quy định trên phù hợp với Công ước số 138 về Độ tuổi tối thiểu mà Việt Nam đã tham gia năm 2003. Trong Công ước quy định các nước thành viên tham gia công ước phải xác định độ tuổi tối thiểu được đi làm việc hoặc được đi lao động và không một ai ở dưới độ tuổi tối thiểu đó được đi làm việc hoặc được lao động trong bất cứ nghề nào, độ tuổi tối thiểu đó không được dưới độ tuổi kết thúc chương trình giáo dục bắt buộc và bất kỳ trường hợp nào cũng không được dưới 15 tuổi. Như vậy, có thể thấy pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam chỉ thừa nhận người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi.
3. Trong Luật BVCSVGDTE lại quy định một nhóm đối tượng trong nhóm người dưới 18 tuổi là “trẻ em”. Trẻ em trong Luật này được xác định là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi (Điều 1).
Ngoài ra, tại khoản 7 Điều 7 Luật BVCSVGDTE và Điều 228 BLHS có đề cập đến nhóm đối tượng “lao động trẻ em”. Xét ở khía cạnh pháp lý thì trong hệ thống pháp luật của Việt Nam không có một quy định nào để xác định khái niệm “lao động trẻ em”. Do đó, khái niệm lao động trẻ em chỉ có thể xác định dựa trên mặt thuật ngữ khoa học. Để hiểu rõ nội hàm của thuật ngữ “lao động trẻ em”, ta có thể đi từ việc làm rõ khái niệm “trẻ em” và khái niệm “lao động”.
Theo Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 xác định “Trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Phù hợp với quy định này và đặc điểm của Việt Nam, Luật BVCSVGDTE tại Điều 1 xác định: trẻ em là người dưới 16 tuổi.
Mặt khác, theo Từ điển tiếng Việt thông dụng thì “Lao động là hoạt động tạo ra sản phẩm vật chất hay tinh thần”. Kết hợp hai khái niệm về “trẻ em” và “lao động” ở trên, ta có thể hiểu: lao động trẻ em là hoạt động tạo ra sản phẩm vật chất hay tinh thần do những người dưới 16 tuổi thực hiện. Nhóm tuổi của lao động trẻ em theo khái niệm trên là để chỉ tất cả những người dưới 16 tuổi.
Từ các quy định trên, trong Luật BVCSVGDTE thì “lao động trẻ em” được hiểu là những người dưới 16 tuổi, trong đó có một nhóm người từ 15 tuổi đến dưới 16 tuổi tham gia lao động cũng sẽ được gọi là “lao động trẻ em”. Mặt khác, theo quy định trong BLLĐ thì người “lao động chưa thành niên” là người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, trong đó có một nhóm người từ 15 tuổi đến dưới 16 tuổi tham gia lao động cũng sẽ gọi là người “lao động chưa thành niên”. Như vậy, rõ ràng, cùng một nhóm đối tượng từ 15 tuổi cho đến dưới 16 tuổi trong hai văn bản luật lại được gọi khác nhau: “lao động trẻ em” và “lao động chưa thành niên”. Điều này sẽ gây khó khăn cho các cơ quan chức năng trong việc áp dụng luật trên thực tế, như đối với trường hợp người sử dụng lao động sử dụng nhóm đối tượng từ 15 tuổi đến dưới 16 tuổi làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại thì cơ quan có thẩm quyền sẽ áp dụng điểm b khoản 2 Điều 15 của Nghị định số 113/2004/NĐ-CP để xử lý (phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng với người sử dụng lao động sử dụng lao động chưa thành niên làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại…). Nhưng sau khi xử phạt xong, người sử dụng lao động vẫn tiếp tục vi phạm thì khó xử lý tiếp theo Điều 228 BLHS (người nào sử dụng trẻ em làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại theo danh mục mà Nhà nước quy định gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm…). Đó là do quy định trong Điều 228 chỉ áp dụng đối với hành vi vi phạm sử dụng lao động trẻ em, nhưng với nhóm từ 15 tuổi đến dưới 16 tuổi lại được hiểu là “lao động trẻ em” hoặc “lao động chưa thành niên” nên sẽ dẫn đến việc lúng túng khi áp dụng Điều 228 của BLHS.
Để khắc phục những nhược điểm trên, theo chúng tôi:
Thứ nhất, cần quy định rõ ràng, cụ thể ngay trong BLLĐ khái niệm về “người lao động chưa thành niên” theo hướng: Trong thời gian đang sửa đổi, bổ sung BLLĐ thì tại Điều 1192 cần sửa lại như sau: “Người lao động chưa thành niên là người lao động từ đủ 180 tháng tuổi cho đến dưới 216 tháng tuổi”. Cách quy định này tương tự như cách quy định về tính thời hạn hợp đồng lao động tại Điều 27 BLLĐ sửa đổi, bổ sung năm 2002 là tính bằng tháng (hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến dưới 36 tháng), thay cho cách tính bằng năm trong BLLĐ năm 1994 (hợp đồng lao động xác định thời hạn từ một năm đến 3 năm).
Thứ hai, cần có sự điều chỉnh lại về cách quy định trong BLLĐ và Luật BVCSVGDTE đối với nhóm người từ 15 tuổi đến dưới 16 tuổi, để đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống pháp luật. Sự điều chỉnh này theo hướng: Tại khoản 7 Điều 7 của Luật BVCSVGDTE cần sửa lại như sau: “Với trẻ em dưới 180 tháng tuổi: cấm lạm dụng sức lao động của các em, cấm sử dụng các em làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại, làm những công việc khác trái với quy định của pháp luật về lao động”.
Thứ ba, để có cách hiểu chính thức về thuật ngữ “lao động trẻ em” (như cách sử dụng thuật ngữ này trong BLHS, Luật BVCSVGDTE, Công ước số 138 về Tuổi tối thiểu được đi làm việc, Công ước số 182 về Cấm và hành động ngay lập tức để xoá bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất…) thì nên đưa ra một cách xác định chính thức về thuật ngữ này trong một văn bản quy phạm pháp luật. Cách xác định này có thể như sau: “Lao động trẻ em là những em dưới 180 tháng tuổi tham gia lao động”.
Chú thích:
(1) Trừ một số nghề được nhận người dưới 15 tuổi vào làm việc được quy định tại Thông tư số 21/1999/TT-BLĐTBXH quy định danh mục nghề, công việc và các điều kiện được nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc.
(2) Điều 119 BLLĐ hiện hành quy định: “Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi”.
(Theo TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ)

BÀN VỀ NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ CỦA CÁ NHÂN: TỪ TUỔI ĐÃ THÀNH NIÊN ĐẾN TUỔI KẾT HÔN CỦA NAM GIỚI

Với sự phát triển của xã hội, trẻ em hiện nay đã vượt trội hơn trẻ em ngày xưa rất nhiều về thể chất và tâm sinh lý. Chiếc áo tuổi thành niên vì vậy không còn phù hợp để khoác lên mình trẻ nữa. Chính vì không được cho những quyền tương thích với sự phát triển tự nhiên nên đã dẫn đến nhiều trẻ bức bối, xé rào quy định tuổi, dẫn đến những sự việc đau lòng. Nhiều vụ án trẻ em phạm tội thực chất các em đã là người lớn. Những nhận định này liệu có cơ sở và có nên thay đổi quy định tuổi thành niên, một cơ sở để xác lập nhiều quyền công dân khác cho trẻ? Chúng tôi giới thiệu ý kiến của hai chuyên gia dưới đây và mong nhận được những ý kiến luận bàn khác để soi rọi thấu đáo hơn vấn đề này.
Việc đưa ra độ tuổi kết hôn là căn cứ trên sự phát triển về tâm sinh lý, sức khoẻ và sự phát triển của nhận thức người đó. Trước đây, người ta cho rằng, sự phát triển tâm sinh lý và nhận thức của nữ thường sớm hơn so với nam. Tuy bằng tuổi, nhưng con gái thường dậy thì trước và nhận thức cũng già dặn hơn bạn nam cùng tuổi. Vì vậy, tuổi kết hôn của nữ ít hơn nam hai tuổi. Tuy nhiên, cuộc sống ngày nay đã khác trước rất nhiều. Điều này thể hiện ở chất lượng cuộc sống hiện đại ngày càng cao. Trẻ ngày nay được nuôi dưỡng đầy đủ về mặt dinh dưỡng nên sự phát triển cơ thể đang có xu hướng sớm hơn trước đây, nhất là trẻ em ở thành phố. Bên cạnh đó là môi trường giáo dục tri thức, nhận thức cho trẻ. Ngày nay, các bạn trẻ có nhiều điều kiện để hoàn thiện tri thức, học hỏi nâng cao nhận thức từ nhiều kênh khác nhau. Và việc phát triển này tương đối đồng đều giữa nam và nữ, chứ ít có chênh lệch rõ ràng như trước.
Nam giới lập gia đình ở độ tuổi 18, về mặt thể lực và sự phát triển tâm sinh lý, họ có thể gánh vác được trách nhiệm gia đình. Thứ nữa là về mặt nhận thức, trí thức so với mặt bằng xã hội, để người ta có một nhận thức nhất định, để có thể ứng xử trong gia đình, thực hiện nghĩa vụ trong gia đình tốt… họ cũng được thụ hưởng tương đương với nữ giới. Người ta từng đề cập đến vấn đề bình đẳng giới, vậy tại sao việc quy định độ tuổi kết hôn như hiện nay có sự bất bình đẳng như vậy mà lại không được điều chỉnh?
Quy định tuổi thành niên hiện hành
Theo quy định của bộ luật Dân sự, người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên, người từ dưới 18 tuổi là người chưa thành niên. Tuy nhiên theo các quy định của bộ luật Hình sự thì người chưa thành niên từ 14 tuổi trở lên đã có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.
Bộ luật Hình sự cũng không quy định thế nào là thành niên hay chưa thành niên nhưng bộ luật này cho phép xác định người thành niên là người đủ 18 tuổi trở lên. Nhìn từ góc độ tổng quát nhất, Hiến pháp Việt Nam dành đủ một chương về “Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”, theo đó, một người chỉ có trọn vẹn quyền công dân khi họ đủ 21 tuổi trở lên.

Ở nhiều nước trên thế giới, tuỳ điều kiện xã hội, văn hoá từng nơi mà họ đưa ra tuổi kết hôn cho phù hợp. Ở những nước ít dân số, điều kiện dân sinh tốt thì 16 tuổi đã có thể lập gia đình. Đó cũng là cách để đẩy nhanh sự tăng trưởng dân số. Còn những nước có tỷ lệ tăng dân số cao, hoặc ổn định thì độ tuổi kết hôn được đưa ra có thể là 17, 18 tuổi, tuỳ theo quy định nước đó. Xét đến khía cạnh tuổi kết hôn từ xưa đến nay người ta dựa trên những yếu tố như đã đề cập ở trên chứ không căn cứ vào tuổi có thể sinh con. Thực tế là thời phong kiến, 13 – 14 tuổi là người nữ có thể sinh con rồi. Vấn đề là cuộc sống hiện đại, giáo dục làm sao để đừng xảy ra tình trạng những người trẻ mới 13 – 14 tuổi đã sinh con trong khi chưa có sự phát triển đầy đủ về nhận thức, cả mẹ và con trở thành gánh nặng của xã hội. Trong thực tế cũng có nhiều em, biết là chưa đủ tuổi và vi phạm pháp luật nhưng vẫn để tình yêu vượt quá giới hạn. Khi phạm phải điều cấm kỵ, đặc biệt là những em nữ, để tránh dư luận xã hội, các em buộc phải giữ bí mật, dẫn tới hàng loạt những hậu quả nghiêm trọng như nạo hút thai ngoài ý muốn, phải gánh chịu những nỗi đau về thể xác lẫn tinh thần, những dằn vặt bản thân… Chúng ta cần nhiều thời gian để luận giải thấu đáo những trường hợp này.
Thực tế cho thấy, nhiều bạn trẻ đã có ý thức trách nhiệm của mình để tránh hậu quả, biết lưu ý về tình dục an toàn và hoàn toàn chủ động trong hành vi tình dục của mình. Hiện nay, luật pháp quy định độ tuổi kết hôn đối với nam là 20 tuổi, nữ là 18 tuổi. Tuy nhiên, theo tôi, cần điều chỉnh độ tuổi kết hôn của nam ngang bằng với nữ, tức 18 tuổi để tránh bất bình đẳng giới cũng như phù hợp với sự phát triển của trẻ hiện nay. Cuộc sống của giới trẻ và quan niệm về tình yêu của họ bây giờ đã khác trước rất nhiều. Vì vậy rất cần có sự quan tâm và những giải pháp phù hợp, theo kịp sự phát triển của tâm lý lứa tuổi này. Trong đó, gia đình là điểm tựa đầu tiên giúp trẻ vững vàng, có nghị lực và có khả năng đối phó với các giai đoạn khó khăn của tuổi dậy thì và tự tin bước vào đời. Đồng thời định hướng cho con trẻ có lối sống lành mạnh.
Vấn đề trên tôi đã nêu ra ở một số buổi hội thảo, diễn đàn và nhận được nhiều ý kiến đồng thuận. Dĩ nhiên, cần thêm những ý kiến luận bàn khác để có nhìn nhận chính xác hơn, phù hợp hơn với tình hình hiện nay.
Tuổi thành niên ở một số nước
Theo tổ chức Y tế thế giới, lứa tuổi 10 – 19 tuổi là độ tuổi vị thành niên. Như vậy người trên tuổi 19 sẽ được coi là thành niên. Tuy nhiên các nước lại có quy định tuổi thành niên khác nhau. Quy định chung tuổi thành niên của Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan là 20 tuổi, của Úc, Canada, Ấn Độ, Philippines, Anh, Brazil, Croatia, Mỹ là 18 tuổi. Một số nước xác định tuổi trưởng thành để kết hôn lại thấp hơn như: Angola (12 tuổi), Senegal (13 tuổi) Algeria (16 tuổi), Nga (16 tuổi), Bồ Đào Nha (14 tuổi), Uruguay (15 tuổi), Colombia (14 tuổi), Malaysia (16 tuổi)…
K.D (WIKIPEDIA
DIỄN ĐÀN TRAO ĐỔI XUNG QUANH VẤN ĐỀ TRÊN
PGS.TS Trần Thị Quý (nguyên cán bộ viện Nghiên cứu phát triển xã hội):
Tuổi không phù hợp, trẻ sẽ xài lén quyền
Để đi đến một kết luận nên tăng hay giảm quy định tuổi thành niên của trẻ em Việt Nam, cần có những số liệu cụ thể về sự phát triển của trẻ ở từng giai đoạn xã hội. Nếu sự phát triển đó rõ ràng là đi lên cùng với xã hội, trẻ em Việt Nam đang ngày càng tiến gần với sự phát triển của trẻ em một số nước khác, thì việc thay đổi quy định tuổi theo tôi là cần thiết. Một quy định luật pháp nếu phù hợp với sự phát triển tự nhiên sẽ dễ làm người ta chấp pháp hơn là một quy định khiên cưỡng, buộc người ta phải ép mình, phải “đẽo chân cho vừa giày”.
Một người trưởng thành được các nhà nghiên cứu chia thành hai lĩnh vực rõ ràng, đó là sự trưởng thành sinh học và sự trưởng thành xã hội. Tuổi trưởng thành sinh học thì tương đối đồng đều, tuy nhiên sự trưởng thành về mặt xã hội lại rất khác nhau, đó chính là sự hiểu biết, kinh nghiệm sống, ý chí và ý thức xây dựng gia đình. Có nhiều ý kiến cho rằng tuổi trẻ thì chưa nhiều kinh nghiệm sống, kinh nghiệm gia đình nên kết hôn sẽ gặp khó khăn. Điều đó xét theo bình diện chung thì đúng, tuy nhiên trong hôn nhân điều thiết yếu không phải ở chỗ nhiều hay ít tuổi mà là ở chỗ ý thức và điều kiện xây dựng gia đình.
Trong nhiều vụ việc trẻ em phạm pháp, sớm có những hành vi không phù hợp lứa tuổi (yêu đương, quan hệ tình dục…) chúng ta kết luận trẻ vi phạm là vì chúng ta đã lấy cái chuẩn do chúng ta quy định ra mà xét nét, chứ nếu xuất phát từ sự phát triển tự nhiên của trẻ, sẽ dễ dàng nhận ra với những phát triển về tâm sinh lý như vậy và điều kiện sống như vậy, trẻ có những việc làm đó là đương nhiên, là tự nhiên, bản thân trẻ khó mà cưỡng lại. Không được cho mình những quyền lẽ ra đương nhiên thuộc về mình thì trẻ phải sử dụng lén lút, vụng trộm cũng là điều dễ hiểu.
Luật sư Nguyễn Văn Hậu, trưởng ban tuyên truyền hội Luật gia TP.HCM:
Trẻ có phát triển nhưng chưa toàn diện
Dễ dàng bắt gặp những thông tin về việc kết hôn của những người vị thành niên chưa đến tuổi kết hôn mà pháp luật quy định (tảo hôn) trên báo chí. Có người đã lấy nhau được ba năm nhưng chưa đăng ký kết hôn vì cô dâu chưa đủ tuổi, hoặc chưa đến tuổi vẫn cưới vợ, bị kiện vì yêu cô dâu chưa đủ tuổi… Đây là hiện tượng xảy ra rất nhiều ở Việt Nam, đặc biệt ở các vùng quê, nơi mà người dân còn thiếu kiến thức pháp luật, đồng thời cũng là nơi còn chịu nhiều ảnh hưởng của các hủ tục lạc hậu như tảo hôn, trọng nam khinh nữ… Chính điều này đã dẫn tới tình trạng vi phạm pháp luật hôn nhân và gia đình phổ biến, thậm chí vi phạm cả pháp luật hình sự. Theo quy định tại bộ luật Dân sự 2005, người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên, người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên. Tuy nhiên với độ tuổi kết hôn, luật hôn nhân và gia đình 2000 có quy định khác so với độ tuổi thành niên. Cụ thể luật này quy định độ tuổi được kết hôn của nam là từ hai mươi tuổi trở lên và độ tuổi được kết hôn của nữ là từ mười tám tuổi trở lên.
Gần đây cũng có nhiều người cho rằng do điều kiện vật chất và tinh thần để nuôi dạy trẻ đã tốt hơn rất nhiều so với các giai đoạn trước nên các em dậy thì khá sớm. Vì vậy, cần thay đổi quy định độ tuổi trưởng thành, độ tuổi kết hôn để phù hợp với tình hình thực tế phát triển của trẻ. Theo tôi thì lúc này vẫn không nên thay đổi độ tuổi thành niên cũng như độ tuổi kết hôn theo chiều hướng giảm. Đặc biệt là không nên thay đổi độ tuổi người chưa thành niên, trẻ em trong quy định tại luật hình sự bởi tuy các em có điều kiện chăm sóc tốt hơn và dậy thì sớm hơn nhưng do đặc điểm thể chất của người Việt Nam cũng như trình độ phát triển trí não, tâm lý… các em vẫn chưa thể phát triển toàn diện như người trưởng thành được. Rõ ràng là các em vẫn cần được pháp luật bảo vệ cho đến khi đủ tuổi trưởng thành theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Chuyên gia tâm lý Hồ Thị Tuyết Mai, trung tâm tư vấn tình yêu hôn nhân gia đình, hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam:
Chọn độ tuổi nào cần có quá trình
Khi đưa ra độ tuổi trưởng thành cho trẻ nói chung và tuổi kết hôn nói riêng, người ta phải căn cứ nhiều mặt như sức khoẻ sinh sản, sự phát triển của nhân cách, nhận thức xem người đó có đủ bản lĩnh làm cha làm mẹ hay không. Một đứa bé 16 tuổi có thể sinh đẻ nhưng về mặt nhận thức thì sao, đến bản thân còn chưa phải là người lớn thì làm sao dạy con được? Ngày xưa, người ta quan niệm là “nữ thập tam, nam thập lục”, tức con gái 13 tuổi lấy chồng, con trai 16 tuổi có thể lấy vợ nhưng lúc đó cấu trúc gia đình nó khác. Có thể là tam đại đồng đường, tứ đại đồng đường cho nên người con dâu sinh con nhưng việc dạy dỗ có thể có cha mẹ, ông bà. Còn bây giờ gia đình hạt nhân, chỉ có vợ và chồng, vì vậy mà bố mẹ chỉ 16, 17 tuổi thì làm sao dạy con.
Công bằng mà nói, do điều kiện sống ngày càng nâng cao, chất lượng dinh dưỡng bữa ăn đảm bảo đầy đủ nên trẻ ngày nay phát triển sớm. Nhiều em nữ mới 10 – 11 tuổi đã hành kinh rồi. Do sinh lý phát triển thì đương nhiên tâm lý cũng phát triển theo. Thứ hai, do tác động của môi trường xã hội, ngày nay trẻ yêu đương rất sớm, quan niệm tình yêu thoáng và quan hệ tình dục cũng sớm. Tuy nhiên việc đưa ra độ tuổi nào phải trải qua quá trình trao đổi, phản biện, cần nhiều thời gian chứ không đơn giản chỉ là để đáp ứng nhu cầu bản năng của con người. Theo đà phát triển của xã hội, việc phát triển tâm sinh lý, nhân cách đến sớm với người trẻ và nhu cầu điều chỉnh tuổi là một thực tế thì tôi nghĩ lúc đó người ta có thể thay đổi quy định.
TRUNG DŨNG (GHI)
altNguyễn Hữu Thọ (27 tuổi, làm trong lĩnh vực truyền thông):
Tăng tuổi sẽ tốt hơn
Hiện việc giáo dục cho giới trẻ hoàn toàn là giáo dục kiến thức chứ những kỹ năng sống, giới tính thì hoàn toàn bỏ ngỏ, hay không hiệu quả nên tất yếu là giới trẻ không hiểu hoặc không nhận được đầy đủ những gì mình làm, và họ cũng sẽ không đủ nhận thức về trách nhiệm khi quan hệ, lập gia đình. Hạ tuổi có thể giúp tình trạng phá thai giảm vì nhiều cặp nam nữ sẽ hợp thức hoá việc có thai ngoài ý muốn nhưng tỷ lệ ly hôn sẽ cao vì những khoảng trống kỹ năng sống của họ. Tôi nghĩ nên tăng độ tuổi kết hôn của nữ lên 20 tuổi còn nam thì 22 vì mặc dù giới trẻ hiện có sự phát triển nhanh về thể chất, trí tuệ song kỹ năng sống, nhận thức gia đình, tính trách nhiệm thì rất thiếu, thậm chí có phần lệch lạc.
altChâu Thị Diệu Hiền (25 tuổi, nhân viên văn phòng):
Giảm tuổi là hợp lý
Theo tôi nên tạo sự công bằng trong quy định độ tuổi kết hôn là 18 cho cả nam và nữ vì ở tuổi này, đa phần cả hai giới đã hoàn thành chương trình phổ thông, có những hiểu biết căn bản để nhận thức cuộc sống và có trách nhiệm với hành động của mình. Xét về yếu tố tâm sinh lý thì độ tuổi 18 cơ thể cũng đã phát triển khá hoàn chỉnh và nhu cầu sinh lý bắt đầu có. Việc gia hạn đến 20 tuổi vô hình trung buộc nam giới phải nén lòng, và với những người không nén được thì sao? Đó là tình trạng quan hệ trước hôn nhân, giải toả nhu cầu bên ngoài (vô tình tạo thêm tiêu cực xã hội). Đành rằng “sống và làm theo pháp luật” nhưng luật khó lòng cấm được hành vi phát triển tự nhiên, bản năng
(THEO BÁO SÀI GÒN TIẾP THỊ ĐIỆN TỬ)