Hiển thị các bài đăng có nhãn tư vấn tranh chấp đất đai. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tư vấn tranh chấp đất đai. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 26 tháng 2, 2012

MỘT SỐ TRAO ĐỔI VỀ CÁCH TÍNH THỜI HIỆU KHỞI KIỆN TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ VỀ ĐÒI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG

Theo quy định tại Điều 159 BLTTDS được sửa đổi bổ sung năm 2011 thì thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, nếu thời hạn đó đã hết thì đương sự mất quyền khởi kiện. Đối với thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự có quan hệ pháp luật tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng quy định tại chương XXI của BLDS năm 2005 thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 02 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm. (Đ607 BLDS, tiểu mục 6, mục I Nghị quyết 03/2006/NQ – HĐTP ngày 08/7/ 2006 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao).
Theo hướng dẫn tại tiểu mục 2.2 mục IV Nghị quyết 01/2005/NQ – HĐTP ngày 31/3/2005 của Hội đồng thẩm phánToà án nhân dân tối cao thì ngày quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm được xác định là ngày xảy ra hành vi vi phạm gây thiệt hại về  tài sản, tính mạng, sức khoẻ …
Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn một số vướng mắc về xác định thời hiệu khởi kiện khi Toà án thụ lý vụ án dân sự có quan hệ đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày xảy ra hành vi vi phạm hay tính từ thời điểm có quyết định của cơ quan có thẩm quyền đang giải quyết.
Trong vụ án hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự do không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Người bị thiệt hại khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (bồi thường về sứckhoẻ, tài sản) thì thời hiệu khởi kiện tính như thế nào? được tính từ khi quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân bị xâm phạm hay từ khi có quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Đối với những vụ án hình sự có liên quan đến tài sản, bồi thường thiệt hại nhưng không liên quan đến việc xác định cấu thành tội phạm, không ảnh hưởng đến việc xem xét tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị can, bị cáo ( theo hướng dẫn tại công văn số 121/2003/KHXX ngày 19/9/2003 về việc giải quyết các vấn đề liên quan đến tài sản, bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự), thì được tách thành vụ kiện dân sự khác, như vậy khi đương sự khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện được tính như thế nào? tính từ ngày xảy ra hành vi gây thiệt hại hay tính từ khi có quyết định tách vụ án, hoặc tính từ thời điểm bản án hình sự có hiệu lực pháp luật.

Nếu từ ngày thiệt hại xảy ra, các cơ quan tiến hành tố tụng chưa xem xét và giải quyết phần dân sự trong vụ án hình sự, thì yêu cầu khởi kiện của đương sự về bồi thường thiệt hại là yêu cầu chính đáng, do vậy Toà án thụ lý là đúng pháp luật. Theo quy định của  BLDS và BLTTDS, thời hiệu để thực hiện quyền khởi kiện đối với vụ án bồi thường thiệt hại được tính từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm đến khi Toà án nhận được đơn khởi kiện  là 02 năm, nếu quá thời hạn thì đương sự mất quyền khởi kiện, trừ các trường hợp được quy định tại Điều 161 BLDS – thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự (như sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan làm cho chủ thể không thể khởi kiện, chưa có người đại diện hoặc chưa có người đại diện khác thay thế nếu người đại diện chết đối với người chưa thành niên, người bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự).
Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng  phải tuân theo quy định của pháp luật dân sự, cụ thể tại Điều 607 BLDS và Toà án tối cao đã hướng dẫn  thời hiệu đối với vụ án bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là 02 năm tính từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Thời gian cơ quan điều tra thụ lý giải quyết vụ án hình sự là thời gian trở ngại khách quan nên họ không thể thực hiện được quyền khởi kiện của mình được quy định tại khoản 1 Điều 161 BLDS, do vậy thời hiệu 02 năm từ ngày quyền và lợi ích bị xâm phạm là có cơ sở chứ không phải từ khi có quyết định tách phần dân sự, quyết định không khởi tố hoặc quyết định, bản án có hiệu lực pháp luật của Toà án về giải quyết hình sự.
Tuy nhiên, nếu trong quá trình điều tra, giải quyết, cơ quan điều tra kéo dài thời gian giải quyết vụ án để chứng minh sự việc phạm tội thì sẽ gây thiệt thòi lớn đối với người bị thiệt hại, sẽ có sự chênh lệch về mức bồi thường, thời gian bồi thường trong thời gian kéo dài ở quá trình điều tra. Do vậy, cần phải quy định cụ thể đương sự có quyền giải quyết vụ án dân sự, có quyền khởi kiện và yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự trong quá trình cơ quan điều tra đang thụ lý.
Thời gian việc cơ  quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án hình sự có được xem là trường hợp trở  ngại khách quan theo khoản 1 Điều 161 BLDS không? Trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có nghĩa vụ  dân sự không thể biết quyền và lợi  ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể  thực hiện được quyền và nghĩa vụ dân sự  của mình. Trường hợp cơ quan điều tra đang thụ lý vụ án hình sự thì họ có  quyền khởi kiện vụ án dân sự không? do vậy có quan điểm không trừ thời gian này vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự mà được tính từ thời điểm bản án hình sự có hiệu lực pháp luật hoặc từ thời điểm có quyết định không khởi tố vụ án hình sự mà không tính từ thời điểm quyền và lợi ích bị xâm phạm hoặc khi có quyết định tách phần dân sự trong vụ án hình sự nhằm đảm bảo quyền khởi kiện cho người khởi kiện.
Trên đây là  một số quan điểm  về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự có quan hệ tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, kính mong quý  bạn đọc quan tâm trao đổi.

Nguồn: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Thứ Tư, 14 tháng 12, 2011

6 vụ tranh chấp chung cư đình đám năm 2011

Nhiều tòa nhà ở hai miền Nam Bắc như Keangnam, Golden Westlake, Quốc Cường Gia Lai 1... gặp rắc rối lớn trong năm 2011. Không tìm được tiếng nói chung, nhiều chủ đầu tư có nguy cơ hầu tòa.

Tòa nhà cao nhất Việt Nam có nguy cơ bị khởi kiện

Không chỉ tai tiếng về số người chết khi thi công và mắc hàng loạt sai phạm, tòa nhà Keangnam Landmark Tower (Phạm Hùng - Hà Nội) còn đình đám vì chuyện thu phí dịch vụ "khủng". Năm 2011, Keangnam có nguy cơ phải hầu tòa vì bị cư dân khởi kiện. Trong suốt 6 tháng, qua nhiều lần họp bàn, thậm chí đến mức cư dân giăng biểu ngữ, dán tờ rơi, tụ tập đông người phản đối mức phí dịch vụ thì chủ đầu tư mới hạ từ 21.000 đồng mỗi m2 xuống còn 17.130 đồng mỗi m2 (chưa bao gồm VAT) vào hồi tháng 7. Tuy nhiên, mức phí này vẫn chưa được cư dân chấp thuận.
Cư dân dán biểu ngữ phản đối chủ đầu tư. Ảnh: Hoàng Lan.
Mâu thuẫn lên đến đỉnh điểm khi chủ đầu tư Keangnam đơn phương hạn chế quyền sử dụng thang máy 370 hộ dân chưa đóng phí dịch vụ. Cư dân đã tràn vào văn phòng của Công ty TNHH Chestnut Vina, đơn vị quản lý tòa nhà cao nhất Việt Nam yêu cầu cấp lại thẻ thang máy và điện. Câu chuyện trở nên bi hài khi những cư dân bỏ hàng chục tỷ đồng sống trong căn hộ cao nhất Việt Nam lại không thể vào nhà bằng thang máy.
Chỉ đến khi công an xã, huyện, cảnh sát 113 can thiệp, chủ đầu tư mới chịu nhún, cam kết không chặn thang máy của cư dân. Tuy nhiên, hai bên vẫn chưa tìm được tiếng nói chung về phí dịch vụ. Đầu tháng 12, cư dân đã chính thức có đơn tố cáo chủ đầu tư lên UBND thành phố Hà Nội yêu cầu chủ đầu tư phải thỏa thuận với các hộ dân trong trường hợp muốn cung cấp dịch vụ gia tăng ngoài quyết định của thành phố. Sự việc chưa đi đến hồi kết song phía cư dân cho biết, nếu không tìm được tiếng nói chung, họ sẽ khởi kiện chủ đầu tư. Chủ đầu tư cũng cho biết sẵn sàng gặp cư dân tại tòa án.

Chỗ đỗ xe bạc tỷ của Golden Westlake

Việc chủ đầu tư tòa nhà Golden Westlake (Thụy Khuê - Tây Hồ - Hà Nội) đưa ra hình thức thuê bãi đỗ xe trả tiền ngắn hạn, và đóng một lần trong thời hạn 38 năm làm nhiều khách hàng bức xúc. Nếu tính theo tháng, khách hàng sẽ phải đóng 1 triệu đồng. Trường hợp thuê dài hạn, cư dân sẽ phải nộp khoảng 800 triệu đồng trong 38 năm.
Cư dân cho rằng tầng hầm là diện tích chung, còn chủ đầu tư khẳng định, đây là sở hữu riêng. Ảnh: Hoàng Lan
Cư dân cho rằng, chủ đầu tư yêu cầu các cư dân không có tiền thuê dài hạn (chỉ thuê theo tháng) phải xuống đỗ tại tầng hầm B2, trong khi nơi này luôn luôn chật chội là điều bất hợp lý. Bởi theo tính toán, nếu đem số tiền 800 triệu gửi tiết kiệm kỳ hạn một năm với lãi suất 14% mỗi năm thì cư dân sẽ nhận được 112 triệu đồng mỗi năm, tương đương với hơn 9 triệu đồng mỗi tháng. Điều này, theo cư dân, đồng nghĩa với chủ đầu tư đã thu siêu lợi nhuận với mức giá 9 triệu đồng một chỗ để xe mỗi tháng, một mức phí khủng nhất từ trước đến nay.
Trong khi người dân cho rằng, tầng hầm là bãi đỗ xe chung của cư dân và khách có quyền lực chọn hình thức thanh toán, thì phía chủ đầu tư khẳng định, diện tích kho tầng hầm là một trong những công trình tiện ích không phải diện tích chung mà thuộc quyền sở hữu của Công ty TNHH Hà Việt Tung Shing do đó, họ có quyền quyết định giá thuê. Đây không phải là lần đầu tiên, mâu thuẫn giữa chủ đầu tư và cư dân Golden Westlake nổ ra về tranh chấp diện tích chung riêng. Trước đó, phí đỗ xe của cư dân Golden Westlake được chủ đầu tư chấp nhận giảm từ 3 triệu đồng xuống còn một triệu đồng mỗi tháng.

Làng Việt kiều châu Âu bị tố áp lãi suất khủng

Hồi tháng 8, hơn 100 khách hàng đã gửi đơn tố cáo chủ đầu tư Làng Việt kiều châu Âu (Khu đô thị Mỗ Lao, phường Mộ Lao, Hà Đông, Hà Nội) là Công ty TSQ Việt Nam về việc bán nhà bằng USD và áp lãi suất khủng. Cư dân cho rằng, chủ đầu tư đã vi phạm Pháp lệnh ngoại hối khi sử dụng đôla làm đơn vị tham chiếu khiến khách hàng phải thiệt đơn thiệt kép khi tỷ giá biến động. Nhiều trường hợp bức xúc vì mua nhà từ năm 2008 vói giá 950 USD mỗi m2 tương đương với 17.816 đồng, nay tỷ giá đã lên tới gần 21.000 đồng. Chưa hết, khách còn tố TSQ đã ép khách hàng khi áp lãi suất phạm tiền nộp chậm tiến độ lên tới 24% một năm.
Chung cư
Chủ đầu tư và cư dân cùng thách nhau ra tòa.
Phản bác lại, chủ đầu tư TSQ cho hay, các nguyên vật liệu như cáp dự ứng lực, sắt thép, cửa thang máy, thậm chí cả thiết kế đều nhập khẩu, việc dùng tỷ giá để chống rủi ro có lợi cho cả khách hàng và chủ đầu tư. Về việc áp lãi suất phạt cao, chủ đầu tư giải thích, công ty đã phải vay vốn ngân hàng với lãi suất 22-24% mỗi năm để đảm bảo dự án đúng tiến độ, cũng như chất lượng của dự án. Việc áp lãi suất trả chậm 24% một năm là thấp so với thực tế vì công ty phải chịu khoản thuế thu nhập doanh nghiệp là 25% từ số tiền phạt lãi do chậm nộp tiền; thức tế công ty chỉ thu được 18%. Chưa hết, chủ đầu tư còn tuyên bố, bằng quyền hạn của mình, khách hàng có thể đưa sự việc ra các cơ quan chức năng và trên hết là ra tòa án để giải quyết.
Đây không phải là lần đầu tiên, việc niêm yết nhà bằng tiền đô trong giao dịch bất động sản khiến khách hàng bức xúc. Trước đó, hàng chục khách hàng có đơn khiếu nại chủ đầu tư dự án Tòa nhà hỗn hợp Hattoco (Mỗ Lao - Hà Đông) vì bất ngờ quy đổi giá nhà trong hợp đồng mua bán từ tiền Việt sang USD khi giá ngoại tệ này đang leo thang. Chỉ đến khi Ngân hàng Nhà nước can thiệp, Hattoco mới chịu nhún.

Chung cư 584 Tân Kiên bất ngờ biến thành bệnh viện

Ảnh: Vũ Lê
Vụ tranh chấp phát sinh từ việc chủ đầu tư được thành phố chấp thuận đề nghị chuyển công năng chung cư thành bệnh viện. Ảnh: Vũ Lê.
Hàng chục người đã đóng 80-90% tiền mua nhà ở dự án 584 Tân Kiên A (huyện Bình Chánh, TP HCM) bàng hoàng hay tin chung cư sắp chuyển đổi thành bệnh viện. Ngày 30/8, nhiều khách hàng đã gửi thư đi khắp nơi và bày tỏ nỗi thất vọng khi hay tin căn nhà mơ ước mà mình tích cóp tiền mua bấy lâu sẽ không được bàn giao. Dự án do Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng và khai thác công trình giao thông 584 (Công ty 584) làm chủ đầu tư gồm 1.000 căn hộ. Giá bán ban đầu của dự án này trung bình 6-7 triệu đồng mỗi m2.
Vụ tranh chấp phát sinh từ việc chủ đầu tư được thành phố chấp thuận đề nghị chuyển công năng chung cư thành bệnh viện. Hơn 40 khách hàng muốn nhận nhà ra điều kiện nếu không giao căn hộ chủ đầu tư phải bồi thường 16 triệu đồng mỗi m2. Doanh nghiệp định giá dự án tại thời điểm tháng 10/2011 là 12,5 triệu đồng mỗi m2. Cuối cùng do không thể đáp ứng được mức giá bồi thường 16 triệu đồng mỗi m2, chủ đầu tư quay trở lại công năng ban đầu của dự án là tiếp tục làm nhà chung cư.

Khu thương mại chung cư Khang Phú biến thành phòng khám nhi

Khu thương mại chung cư Khang Phú biến thành phòng khám nhi. Ảnh: Vũ Lê.
Ngày 20/9, hàng trăm hộ dân chung cư Khang Phú (quận Tân Phú, TP HCM) đã họp mặt để phản đối việc chủ đầu tư cho một đơn vị thuê phần diện tích thương mại, mở phòng khám khoa nhi. Người dân lo lắng việc lập phòng khám không đúng với chức năng của tòa nhà sẽ khiến cho khu vực này bị ô nhiễm nên đã gửi đơn phản ánh, khiếu nại khắp nơi. Trên thực tế, phần diện tích khu thương mại này cũng đang bị tranh chấp trong một thời gian dài. Cư dân cho rằng khu thương mại là tài sản chung nhưng chủ đầu tư khẳng định đây là sở hữu riêng của doanh nghiệp.
Bị cư dân phản đối tuy nhiên chủ đầu tư vẫn không thay đổi ý định và đến nay vụ tranh chấp này đến nay vẫn chưa có hồi kết. Chung cư Khang Phú do Công ty Khang Gia làm chủ đầu tư, bàn giao nhà từ đầu năm 2008. Tòa nhà có 246 hộ cư ngụ với khoảng 1.000 dân.

Chủ đầu tư chung cư Quốc Cường 1 và khách mua đưa nhau ra tòa

Chủ đầu tư chung cư Quốc Cường 1 bất đồng với khách. Ảnh: Vũ Lê.
Bị giao nhà chậm hơn một năm nhưng chưa nhận được tiền bồi thường, cộng thêm bức xúc về chất lượng căn hộ, hàng chục khách hàng chung cư Quốc Cường Gia Lai 1 (quận 7, TP HCM) đã làm thủ tục kiện chủ đầu tư.
Theo đó, số tiền phạt chậm giao nhà tính đúng phải là hàng trăm triệu đồng nhưng chủ đầu tư chỉ chấp nhận hỗ trợ vài chục triệu đồng. Ngoài ra, cư dân Quốc Cường Gia Lai 1 còn tỏ ý không hài lòng khi theo cam kết phòng ngủ được lát gỗ xoan đào, nhưng được thay bằng gỗ công nghiệp; phòng khách, nhà bếp, nhà vệ sinh được lát đá granit, nhưng thực tế phòng khách được lát bằng gạch men thường, nhà vệ sinh lát gạch thô...
Để giải quyết tranh chấp này, chủ đầu tư dự án là Công ty TNHH đầu tư phát triển nhà Quốc Cường (Công ty con của Quốc Cường Gia Lai) đã nhận trách nhiệm thay thế thiết bị trong căn hộ. Doanh nghiệp thỏa thuận lãi phạt 8%, song hơn 20 khách hàng yêu cầu bồi thường 90% giá trị lãi phạt và quyết khởi kiện. Cuối cùng chủ đầu tư cũng cho hay sẵn sàng hầu tòa.
Nguồn: Vnexpress

Thứ Hai, 7 tháng 11, 2011

THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT: ĐẤT CHƯA CÓ GIẤY ĐỎ, TÒA VÀ VIỆN TRANH CÃI

VKSND tỉnh Bình Phước vừa đề nghị lãnh đạo VKSND Tối cao kháng nghị giám đốc thẩm một bản án dân sự phúc thẩm của TAND tỉnh này vì cho rằng tòa xử không khách quan và chưa đúng thẩm quyền.
Tòa bảo mình giải quyết là đúng
Theo hồ sơ, trước đây ông ĐTA, ngụ thị xã Đồng Xoài đã khởi kiện bà PTN ra TAND thị xã này để đòi lại hai phần đất có diện tích tổng cộng là 108 m2 mà ông cho rằng bị bà N. lấn chiếm. Tháng 2-2010, TAND thị xã Đồng Xoài xử sơ thẩm đã chấp nhận đơn khởi kiện của ông A., buộc bà N. phải trả cho ông A. hơn 70 m2 đất và gần 400 triệu đồng.
Ông A. kháng cáo. Tại phiên phúc thẩm của TAND tỉnh Bình Phước hồi tháng 8-2011, đại diện VKS tỉnh cho rằng toàn bộ diện tích đất mà hai bên đương sự tranh chấp đều chưa được đăng ký để xin cấp giấy đỏ. Mặt khác, các đương sự cũng không tranh chấp tài sản trên đất nên vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa mà thuộc thẩm quyền của UBND thị xã Đồng Xoài. Từ đó, đại diện VKS đã đề nghị tòa hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
Sau khi nghị án một tuần để xem xét, TAND tỉnh Bình Phước nhận định phần đất tranh chấp tuy chưa có giấy đỏ nhưng đã có tên người sử dụng trong sổ địa chính. Vì vậy, vụ án vẫn thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa. Về mặt nội dung, tòa tuyên sửa bản án sơ thẩm, chỉ buộc bà N. phải trả lại cho ông A. hơn 70 m2 đất lấn chiếm.
VKS nói thẩm quyền của UBND
Sau đó, VKSND tỉnh Bình Phước đã có văn bản đề nghị lãnh đạo VKSND Tối cao kháng nghị giám đốc thẩm.

Theo VKS, khoản 1 Điều 136 Luật Đất đai năm 2003 quy định tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có giấy đỏ nhưng có các giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 Điều 50 luật này (có tên trong sổ địa chính) và phải có tranh chấp về tài sản gắn liền trên đất thì vụ việc mới thuộc thẩm quyền của tòa. Trong khi đó hai bên đương sự không hề có tranh chấp về tài sản trên đất nên thẩm quyền giải quyết tranh chấp này thuộc về UBND.
Ngoài ra, VKS tỉnh còn dẫn chứng Thông tư liên tịch số 01 ngày 3-1-2002 của TAND Tối cao – VKSND Tối cao – Tổng cục Địa chính hướng dẫn là trong trường hợp này, nếu có tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất thì do UBND có thẩm quyền giải quyết… Dù Thông tư 01 hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 1993 nhưng hiện tại chưa có thông tư mới nào hướng dẫn về thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thay thế hay bãi bỏ nên nó vẫn có hiệu lực áp dụng.
Mặt khác, VKS cũng cho rằng việc tòa tuyên án như trên là chưa khách quan bởi với những chứng cứ tòa thu thập được thì không đủ căn cứ xác định diện tích đất tranh chấp liệu đã có tên trong sổ địa chính hay chưa. Cấp phúc thẩm thay vì tiếp tục xác minh thì lại đi tuyên án là không đúng…
Như vậy, trong vụ án trên, giữa tòa và VKS đã có hai cách hiểu: Theo tòa thì chỉ cần người sử dụng đất có tên trong sổ địa chính là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa. Còn theo VKS, không những người sử dụng đất phải có tên trong sổ địa chính mà còn phải có tranh chấp về tài sản gắn liền trên đất thì tòa mới được thụ lý. Cách hiểu nào mới đúng? Xin mời bạn đọc lên tiếng luận bàn.
Luật mới mở rộng hơn luật cũ
Theo nhiều chuyên gia, đúng là theo Thông tư 01 ngày 3-1-2002 của TAND Tối cao – VKSND Tối cao – Tổng cục Địa chính (hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 1993) thì tranh chấp đất trong trường hợp trên không thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án. Thông tư 01 phù hợp với quy định của Luật Đất đai năm 1993 là các tranh chấp về quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất đã có giấy chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tranh chấp về tài sản gắn liền với việc sử dụng đất đó thì do tòa án giải quyết.
Tuy nhiên, Luật Đất đai năm 2003 đã mở rộng phạm vi giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất của tòa hơn rất nhiều so với Luật Đất đai năm 1993. Ngoài thẩm quyền giải quyết như luật cũ, tòa còn có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp mà người sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất theo khoản 1, 2 Điều 50 Luật Đất đai. Việc luật mới mở rộng thẩm quyền giải quyết của tòa đã đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn quản lý và sử dụng đất đai ở nước ta.
Do đó, nếu áp dụng Thông tư 01 khi luật cũ đã được thay thế bằng luật mới là không phù hợp. Chưa kể, hiểu theo tinh thần của khoản 1 Điều 136 luật mới thì không bắt buộc phải có đủ hai điều kiện thì tòa mới thụ lý là vừa phải có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất theo khoản 1, 2 Điều 50 Luật Đất đai vừa phải có tranh chấp về tài sản gắn liền trên đất. Chỉ cần có một trong hai điều kiện này là đủ.
Nguồn: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM