Thứ Hai, 28 tháng 3, 2011

Nghiệp vụ tài chính phái sinh và thực trạng sử dụng tại Việt Nam

Các nghiệp vụ tài chính phái sinh là sản phẩm tất yếu của sự phát triển ngày càng sâu, rộng và đa dạng của thị trường tài chính. Sự biến động khó lường của giá cả hàng hoá, lãi suất, tỷ giá trên thị trường là những nguyên nhân gây ra rủi ro cho các nhà đầu tư trong các phi vụ mua, bán. Để hạn chế thấp nhất những rủi ro thua lỗ có thể xẩy ra, các nghiệp vụ tài chính phái sinh đã được hình thành, đó thực chất là những hợp đồng tài chính mà giá trị cuả nó phụ thuộc vào một hợp đồng mua bán cơ sở (hay còn gọi là chính phẩm).
Đến nay, trên thị trường tài chính quốc tế nghiệp vụ tài chính phái sinh đã phát triển rất mạnh với các nghiệp vụ phái sinh rất đa dạng và thị trường phái sinh đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính toàn cầu. Sở dĩ nó phát triển thành công như vậy, là do sử dụng nghiệp vụ này đem lại lợi ích cho các thành viên thị trường. Trên thị trường có thể phân ra thành 3 loại thành viên: Người đầu tư, người đầu cơ, người cơ lợi. Sự dụng nghiệp vụ tài chính phái sinh đều mang lại lợi ích cho 3 loại thành viên này: Người đầu tư phải đối diện với những rủi ro do biến động giá cả của các sản phẩm chính, họ phải sử dụng nghiệp vụ phái sinh để giảm thiểu hoặc loại bỏ rủi ro; đối với người đầu cơ lại muốn đánh cuộc trên những biến động giá cả của sản phẩm chính, họ dùng nghiệp vụ này như một đòn bẩy đặc biệt; đối với người cơ lợi ( thực hiện lợi nhuận mà không có rủi ro) bằng cách sư dụng chênh lêch giá giữa các thị trường tài chính khác nhau, họ đã sử dụng rất hiệu quả các nghiệp vụ phái sinh để hưởng chênh lệch giá.
Dưới đây xin đề cập đến một số nghiệp vụ phái sinh chuẩn và không chuẩn hay còn gọi là công cụ phái sinh độc lập và công cụ phái sinh “được gắn thêm” hiện đang được giao dịch phổ biến trên thị trường tài chính quốc tế.
1. Một số công cụ phái sinh độc lập:
Hợp đồng mua bán trước(còn gọi là công cụ kỳ hạn): Là một công cụ tài chính phái sinh đơn giản. Đó là một thoả thuận mua hoặc bán một tài sản ( hàng hoá hoặc các tài sản tài chính) tại một thời điểm trong tương lai với một giá đã xácđịnh trước.
Đặc điểm của hợp đồng này là:
  • Thông thường hợp đồng này được thực hiện giữa các tổ chức tài chính (TCTC)với nhau, hoặc giữa TCTC với các khách hàng là doanh nghiệp phi tài chính (các hợp đồng này thường được ký kết song phương).
  • Trong hợp đồng này người mua được gọi là người giữ thế trường vị (long position), người bán được gọi là người giữ thế đoản vị (short position).
  • Hợp đồng này chỉ được thực hiện khi đáo hạn: Đến thời điểm đáo hạn người giữ vị thế đoản vị phải thực hiện bán tài sản cho người giữ vị thề trường vị và nhận một khoản tiền từ người mua với mức giá cả đã định trước trong hợp đồng, cho dù vào thời điểm đó giá thị trường của tài sản đó có cao hơn hoặc thấp hơn giá xác định trong hợp đồng. Nếu giá thị trường cao hơn giá hợp đồng thì người giữ vị thế trường vị sẽ có lãi (có giá trị dương), còn người giữ vị thế đoạn vị bị giá trị âm; và ngược lại.
Hợp đồng mua bán trong tương lai: là một công cụ tài chính phái sinh, tương tự như hợp đồng mua bán trước, chỉ khác có một số điểm sau:
Hợp đồng mua bán trong tương lai thường được ký kết và thực hiện hợp đồng thông qua một môi giới trên thị trường chứng khoán; và người mua và người bán thường không quen biết nhau, do vậy đơn vị môi giới thường đưa ra một số các tiêu chuẩn cho những hợp đồng này. Hiện nay, những thị trường chứng khoán mua bán hợp đồng trong tương lai là Hội đồng mậu dịch Chicago - Chicago Board of Trade( CBOT), Sở thương mai Chicago- Chicago Mercantile Exchange (CME) và Sở giao dịch các hợp đồng tương lai London. Các loại hàng hoá được giao dịch trên thị trường chứng khoán mua bàn hợp đồng trong tương lai gồm, heo, bò ,đường, len ...., sản phẩm tài chính gồm, chỉ số chứng khoán, ngoại tệ, trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ.

Ngày giao hàng không được xác định một cách chính xác như hợp đồng mua- bán trước, mà được qui định theo tháng và khoảng thời gian của tháng phải giao. Văn phòng thị trường chứng khoán (người môi giới) xác định khối lượng, chất lượng của hàng hoá giao dịch, cách giao hàng, giá hợp đồng, và cũng có thể xác định luôn giá trị hợp đồng mua bàn tương lai có thể thay đổi trong một ngày.

Người mua, bán phải trả phí hoa hồng cho người môi giới, và giá rao bàn được xác định trên sàn giao dịch chứng khoán.

Có hai loại thương nhân trên sàn giao dịch: Thứ nhất là những người môi giới ăn hoa hồng, họ sẽ thực hiện mua bán theo lệnh của nhà đầu tư và tính hoa hồng; thứ 2 là người tự đầu tư.

Để tránh những rủi ro khi thực hiện hợp đồng mua bàn trong tương lai, do người mua, hoặc người bán tháo lui khỏi hợp đồng vì sự biến động giá trên thị trường bất lợi cho mình, hoặc do đến thời điểm thanh toán, người mua không có khả năng tài chính. Văn phòng chứng khoán phải đưa ra những qui định về yều cầu dự trữ tối thiểu đối với người ký hợp đồng tương lai với nhà môi giới. Khoản tiền dự trữ này được giữ tại một tài khoản của người đầu tư mở tại văn phòng chứng khoán.
Ví dụ: Giả sử vào tháng 3 bạn gọi cho nhà môi giới của bạn tại CBOT, và yêu cầu ông ta mua cho bạn 100 lượng vàng vào thời điểm tháng 7. Những sự việc gì sẽ xẩy ra sau lệnh của bạn:
- Bước 1, người môi giới sẽ chuyển lệnh của bạn cho một đại diện tại CBOT. ở đây lênh này sẽ do một người đưa tin chuyển đến cho một thương nhân của bàn giao dịch. Người này sẽ cố tìm giá tốt nhất trên thị trường và ra dầu hiệu bằng tay cho các thương nhân biết rằng có người muốn mua một hợp đồng vàng tương lai với giá như vậy.
- Bước 2, Nếu có một thương nhân (bên bán) chấp nhận với mức giá và thời gian bán như vậy, thì là đã kết thúc thương thuyết.Sau đó người ta sẽ thông báo cho bạn biết thông qua người môi giới của bạn là hợp đồng đã đựoc ký kết.
Kết thúc một hợp đồng tương lai, hiếm khi được diễn ra như ký kết ban đầu, mà thường xảy ra sự hoàn interestrate.jpgđổi trong suốt thời gian đáo hạn: Nếu như một người đầu tư ở thế trường vị đối với một hợp đồng tương lai mua vàng vào tháng 7, nhưng vào ngày 6/3, anh ta có thể kết thúc vị trí này vào ngày 20/4 bằng cách chọn vị trí đoản vị đối với hợp đồng bán vàng vào tháng 7. Vào ngày 6/3 nếu một người ở vị trí đoản vị đối với hợp đồng tương lai vào tháng 7 anh ta có thể kết thúc hợp đồng này vào ngày 20/4 bằng cách chọn vị trí trường vị vào tháng 7. Trong cả 2 trường hợp tiền lời hay lỗ của người đầu tư phản ánh những thay đổi của giá cả giữa ngày 6/3 với ngày 20/4.
Trong hoạt động ngân hàng, các ngân hàng đã sử dụng nhiều nghiệp vụ này trong kinh doanh chứng khoán và quản lý danh mục đầu tư để phòng chống rủi ro do biến động lãi suất trong tương lai. Để hạn chế rủi ro biến động lãi suất trong tương lai, nhìn chung đòi hỏi các ngân hàng phải giữ vị thế trên thị trường trong tương lai đối nghịch với vị thế hiện thời trên thị trường giao ngay. Bởi vậy, một ngân hàng có kế hoạch mua trái phiếu “ tạo thế trường” trên thị trường giao ngay có thể bảo vệ được giá trị của những trái phiếu này bằng việc ký hợp đồng bán trái phiếu trên thị trường tương lai tạo vị thế đoản.nếu ngay sau đó, giá trái phiếu giảm trên thị trường giao ngay, thì sẽ có một khoản lợi nhuận được bù đắp xuất hiện từ thị trường tương lai và điều này giúp cho ngân hàng tối thiểu hoá tổn thất gây ra do biến động lãi suất.
Hợp đồng quyền chọn (quyền chọn mua hoặc bán): Là một sản phẩm tài chính phái sinh rất được ưa chuộng. Hợp đồng quyền chọn cổ phiếu được thực hiện lần đầu tiên tại Mỹ vào năm 1973, từ đó thị trường này phát triển tăng vọt và ngày nay được thực hiện trên khắp thị trường tài chính thề giới. Hợp đồng quyền chọn được thực hiện với các hoạt động mua, bán: Cổ phiếu, chỉ số thị trường chứng khoán, ngoại tệ, công cụ nợ, các hợp đồng mua bán tương lai và hàng hoá.
Có hai loại hợp đồng quyền chọn: Hợp đồng quyền chọn mua (call option)và hợp đồng quyền chọn bán (put option). Hợp đồng quyền chọn mua là thoả thuận cho phép người cầm hợp đồng có quyền mua sản phẩm từ một nhà đầu tư khác với mức giá định sẵn vào ngày đáo hạn của hợp đồng. Còn hợp đồng quyền bán là thoả thuận cho phép người cầm hợp đồng có quyền bán sản phẩm cho một nhà đầu tư khác với mức giá định sẵn vào ngày đáo hạn của hợp đồng.
Đặc điểm của hợp đồng lựa chọn: Khác với hợp đồng mua bàn trước và hợp đồng mua bán tương lai hợp đồng quyền chọn không bắt buộc các bên phải giao sản phẩm. Hợp đồng chỉ quy định quyền giao hay nhận, mà không bắt buộc thực hiện nghĩa vụ của mình. Người mua quyền có thể: Thực hiện quyền, hay bán quyền cho một người mua khác; hay không thực hiện quyền . Để có quyền này, khi ký hợp đồng, người cầm hợp đồng phải trả quyền phí ; giá trong hợp đồng được gọi là giá thực hiện hay là giá nổ (Strike price); ngày định trong hợp đồng gọi là ngày đáo hạn hay hày thực hiện.
Có hai kiểu thực hiện hợp đồng quyền chọn, đó là thực hiện hợp đồng quyền chọn theo kiểu Mỹ và theo kiểu châu Âu. Theo kiểu Mỹ là thực hiện quyền chọn vào bất kỳ thời điểm nào trước ngày đáo hạn. Theo kiểu châu Âu là thực hiện quyền chọn chỉ trong ngày đáo hạn. Hiện nay trên các thị trường chứng khoán hầu hết thực hiện theo kiểu Mỹ.
Ví dụ: Một người đầu tư mua 100 cổ phiếu IBM dưới hình thức hợp đồng lựa chọn kiểu châu âu với giá định trước là 100 USD/1 cổ phiếu, ngày đáo hạn là 2 tháng và quyền phí là 5 USD. Giả sử đến ngày đáo hạn giá cổ phiếu cổ phiếu thấp hơn 100 USD, thì nhà đầu tư có thể sẽ từ chối không mua và chịu mất 500 USD quyền phí (5x100). Trong trường hợp giá cao hơn nhà đầu tư sẽ thực hiện hợp đồng.
Một điểm đáng chú ý là: trong khi người mua hợp đồng lựa chọn call mong muốn giá của sản phẩm hợp sẽ tăng lên trong ngày đáo hạn thì người mua hợp đồng lựa chọn Put lại hy vọng giá xuống. Nếu cao hơn giá định trước họ sẽ từ chối quyền bán và chịu mất quyền phí. Tất nhiên sự từ chối hay không từ chối quyền khi giá ngày đáo hạn cao (hay thấp) hơn giá nổ sẽ được các nhà đầu tư tính toán trên cơ sở mức độ chênh lệch giữa giá định trước với giá ngày đáo hạn và quyền phí.
Các hợp đồng quyền chọn thường được giao dịch trên thị trường chứng khoán hoặc thị trường phi chính thức. Hiện nay, chủ yếu các hợp đồng quyền chọn được mua bán rộng rãi tại văn phòng thị trường chứng khoán( Chicago board Option Exchange–CBOE, Philadelphia Exchange–PHLX, The American Stock Exchange–AMEX, The Pacific Stock Exchange–PSE, The New York Stock Exchange–NYSE...). Việc mua bán dưới hình thức hợp đồng chọn tại các văn phòng thị trường chứng khoán có nhiều khía cạnh giống như mua bán hợp đồng tương lai. Văn phòng thị trường chứng khoán phải xác định rõ các điều kiện, mức độ, thời gian đáo hạn và ấn định giá của hợp đồng quyền chọn được mua bán trên thị trường của họ.Và để giảm rủi ro của việc thực hiện hợp đồng, lúc mua sản phẩm (cổ phiếu chẳng hạn), người đầu tư mở tài khoản dự trữ bắt buộc với người môi giới của họ, mức độ dự trữ tuỳ thuộc vào loại hàng hoá được giao dịch và tuỳ vào từng tình huống cụ thể.Đồng thời, cũng có những quy định để kiểm soát thị trường hợp đồng quyền chọn, như những qui định kiểm soát ứng xử của thương nhân, của những người tạo lập thị trường.
Nghiệp vụ hoán đổi: là một hợp đồng trong đó hai bên thoả thuận trao đổi nghĩa vụ thanh toán. Thông interestrate1.jpgthường giao dịch này bao gồm các thanh toán lãi, và trong một số trường hợp là thanh toán nợ gốc. Giao dịch hoán đổi lãi suất và hoán đổi ngoại tệ là sản phẩm của thị trường phi tập trung (OTC) được kết hợp trực tiếp giữa hai ngân hàng, hoặc giữa ngân hàng với khách hàng. Theo đó không có mẫu chuẩn của hợp đồng giao dịch hoán đổi và các hợp đồng kiểu này sẽ khác nhau về một số nội dung.
Trước khi các giao dịch hoán đổi xuất hiện, bên vay và bên cho vay thường bị giới hạn ở lãi suất cố định hoặc lãi suất thả nổi, cấp vốn hoặc cho vay trên cơ sở tiền mặt. Nhà đầu tư hoặc ngân hàng sẽ gặp phải sự không tương xứng về lãi suất giữa tài sản có và tài sản nợ. Ví dụ công ty vay lãi suát cố định , nhưng lại đầu tư vào thị trường lãi suất thả nổi, chắc chắn sẽ bị lỗ khi lãi suất giảm do không có khoản tăng thu nhập từ tài sản có lãi suất thả nổi.
Giao dịch hoán đổi được tạo ra để xử lý những sự không tương xứng này, tạo cho ngân hàng, doanh nghiệp kiểm soát tốt hơn các dòng lưu chuyển tiền tệ của mình. Khi mới xuất hiện công cụ này vào đầu thập kỷ 1980, các ngân hàng dàn xếp các giao dịch hoán đổi cho các bên cụ thể có nhu cầu cần bổ sung cho nhau. Các ngân hàng thu được phí do làm đại diện trong các giao dịch này. Thị trường càng phát triển, ngân hàng tham gia với vai trò chủ chốt, thực hiện những bù trừ tất cả các trạng thái với các bên ngang nhau và đối nghịch. Thu nhập được tạo ra từ sự chênh lệch giữa lãi suất hoán đổi thanh toán và nhận được, hoặc phí trả trước để giàn xếp.
2. Các công cụ phái sinh không chuẩn (được gắn thêm):
Những năm gần đây, trên thị trường tài chính đã suất hiện nhiều công cụ tài chính phái sinh khác được thiết kế dựa trên những nguyên lý cơ bản của các công cụ tài chính quyền chọn (call, put) và hợp đồng mua bán tương lai, gọi là hợp đồng lựa chọn Exotics, hay còn gọi là những công cụ phái sinh không chuẩn. Các ví dụ sau cso thể minh hoạ phần nào về công cụ phái sinh không chuẩn:
Ví dụ 1: Về trái phiếu của Standard Oils
Năm 1986 công ty Standard Oils phát hành loại trái phiếu mà người mua không nhận được lãi suất, nhưng đến ngày đáo hạn người mua 1000 USD trái phiếu sẽ nhận được một số tiền phụ trội dựa trên giá của xăng dầu lúc đó. Số tiền phụ trội này bằng tích số của 170 với mức giá dầu tăng vượt mức 25 USD/thùng, tuy nhiên mức giá vượt lên không quá 40 USD/thùng. Tức lợi tức nhận được tối đa là 2.250 USD với 1000 USD trái phiếu. Trường hợp giá dầu không tăng thì người mua chỉ nhận được gốc trái phiếu khi đến ngày đáo hạn.
Ví dụ 2:Trái phiếu ICON
Năm 1985, tổ chức ngân hàng Banker Trust đã phát hành một loại trái phiếu mang tên ICONs (Index currency notes). Lợi tức thu được từ trái phiếu này phụ thuộc vào tỷ giá với ngoại tệ. Ngân hàng thỏa thuận trước với người mua trái phiếu 2 mức tỷ giá X1 và X2 (X1>X2). Nếu đến ngày đáo hạn, tỷ giá lớn hơn X1 thì người mua trái phiếu sẽ nhận được toàn bộ số tiền như đã thoả thuận trước, nếu tỷ giá nhỏ hơn X2 người chủ trái phiếu không nhận được một đồng nào ngoài tiền gốc. Nếu tỷ giá trong khoảng X1 và X2 sẽ nhận được một phần nhỏ lợi tức nào đó.
Ví dụ 3: Hợp đồng lựa chọn trước trong một khoảng định
Hợp đồng loại này thường được sử dụng trong mua bán ngoại tệ. Một hợp đồng mua bán trước khoảng định là quyền chọn mua ( hoặc bán) trong giới hạn dao động tỷ giá định trước. Giả sử ngày 8/5/2005 một công ty Hoa kỳ sẽ cần đồng bảng anh trong vòng 90 ngày nữa. Công ty này có thể ký một hợp đồng mua trước khoảng định bảng anh quanh mức tỷ giá 1,6056 trong 90 ngày nữa. Theo hợp đồng này, tỷ giá được đặt dao động quanh mức 1,6056 (từ mức 1,5700 đến 1,6400). Nếu đến ngày đáo hạn tỷ giá nhỏ hơn 1,570 công ty sẽ trả theo mức tỷ giá 1,5700; nếu giá nằm trong khoảng 1,570-1,6400, công ty sẽ trả theo thời giá; nếu thời giá lớn hơn 1,6400 công ty sẽ trả bằng mức 1,6400.
Hiện nay trên thị trường tài chính xuất hiện rất nhiều các loại công cụ phái sinh không chuẩn, như hợp đồng lựa chọn bắt đầu trong tương lai, là loại hợp đồng ta phải trả ngay, nhưng chỉ bắt đầu tại thời điểm nào đó trong tương lai; hợp đồng lựa chọn hỗn hợp là hợp đồng lựa chọn dựa trên các hợp đồng lựa chọn. Có 4 loại hợp đồng hỗn hợp chính: Call dựa trên Call, Put đựa trên Call, Put dựa trên Put, Call dựa trên Put; hợp đồng lựa chọn có dào; giao dịch hoán đổi lãi suất chéo Cross Currency Swap - CCS là loại nghiệp vụ phái sinh cơ bản giúp cho khách hàng có khả năng phòng ngừa rủi ro tỷ giá và lãi suất. Có thể mô tả qui trình đó như sau:
Bên A và bên B ký hợp đồng CCS với nội dung như sau:
+ Số tiền 10 triệu USD,
+ Tỷ giá 1 USD = 15.800 VND.
+ Ngày hiệu lực 1/6/2005;
+ Ngày đáo hạn 1/6/2010
+ Lịch trình dòng tiền: 3 tháng một lần, chia đều suốt thời hạn 5 năm
+ Lãi suất: Bên A trả 8% trên 158 tỷ VND, Bên B trả Libor 3 tháng trên 10 triệu USD. Định kỳ trả lãi 3 tháng một lần.
Hợp đồng CCS có thể có hoặc không có trao đổi ban đầu, nhưng nhất thiết phải có trao đổi cuối cùng, hai bên có thể thoả thuận trả lãi suất cố định hay thả nổi tuy theo yêu cầu.
Sơ đồ dòng tiền.
(1) Trao đổi ban đầu ( tỷ giá 1 USD = 15.800 VND) vào ngày 1/6/2005. Bên A chuyển cho NH ( bên B) 10 triệu USD, Bên B chuyển cho Bên A 158 tỷ VND.
(2) Sự trao đổi cuối cùng (tỷ giá 1 USD = 15.800 VND) bắt đầu ngày 1/9/2005 cứ 3 tháng 1 lần cho đến 1/6/2010. Tổng cộng có 20 lần trao đổi.
- Bên A chuyển cho bên B 7,9 tỷ VND, Bên B chuyển cho bên A 0,5 triệu USD;
- Lãi suất Bên A trả cho Bên B là 8%/năm, Bên B trả cho bên A lai suất Libor 3 tháng.
Trên thực tế ở các nước trong khu vực, hợp đồng CCS như dạng trên rất phổ biến và giúp cho khách hàng phòng ngừa rủi ro tỷ giá và lãi suất.
- Hợp đồng quyền chọn lãi suất chặn trên và chặn hai đầu
hedge3.jpg+ Quyền chọn lãi suất chặn trên tối đa : được áp dụng khi khách hàng vay vốn theo lãi suất thả nổi nhưng không phải trả vượt quá một mức lãi suất được xác định trước. Đến thời điểm đáo hạn nếu lãi suất thực tế vượt mức lãi suất xác định trước, khách hàng chỉ phải trả lãi suất theo mức đã xác định trước trong hợp đồng. Trường hợp lãi suất hiện thời thấp hơn lãi suất xác định trước khách hàng trả theo lãi suất hiện thời. Để có quyền này, khách hàng phải trả một mức phí nhất định theo thoả thuận.
+ Quyền chọn chặn hai đầu, được áp dụng khi khách hàng vay lãi suất thả nổi với mong muốn phải trả lãi suất trong một khung xác định trước.
- Nghiệp vụ tiền gửi kết hợp quyền chọn tiền tệ- Dual currency Deposit. Nghiệp vụ này có thể được mô tả như sau:
+ Khách hàng và TCTD thoả thuận với nhau về một giao dịch tiền gửi thông thường kèm theo một hợp đồng quyền chọn, theo đó đến ngày đáo hạn, nếu tỷ giá đồng tiền thấp hơn (hoặc cao hơn) tỷ giá thoả thuận ban đầu thì người gửi tiền sẽ nhận được tiền gốc và tiền lãi bằng đồng tiền đã gửi ban đầu; nếu tỷ giá lớn hơn (hoặc thấp hơn) mức tỷ giá thoả thuận ban đầu thì người gửi tiền sẽ nhận tiền gốc và tiền lãi bằng đồng tiền khác theo tỷ giá và loại đồng tiền do khách hàng và TCTD thoả thuận ban đầu.
+ Có kỳ hạn cố định và thường là ngắn hạn;
+ Lãi suất của loại tiền gửi này có thể cao hơn lãi suất tiền gửi thông thường cùng kỳ hạn và gắn với quyền chọn tiền tệ có thể phát sinh rủi ro
Trên thị trường tài chính ở Việt nam, các nghiệp vụ phái sinh bắt đầu xuất hiện khoảng 5 năm trước đây và đến nay xuất hiện nhiều loại công cụ phái sinh chuẩn và không chuẩn đang được thực hiện.Tuy nhiên, cơ sở pháp lý các các nghiệp vụ phái sinh còn mang tính thí điểm và đơn lẻ, ngoại trừ giao dịch hoán đổi lãi suất đã có qui chế của NHNN ( Quyết định sso 1133/2003/QĐ - NHNN, ngày 30/9/2003 ban hành kèm theo qui chế). Đồng thời số lượng các giao dịch còn ít khoảng gần 15 hợp đồng hoán đổi lãi suất và một số ít hợp đồng phái sinh không chuẩn khác đã được cho phép thực hiện( trong số đó có một số giao dịch đã chưa phát sinh giao dịch). Có thể liệt kê một số TCTD đã được Ngân hàng nhà nước cho phép thực hiện:
- Ngân hàng Citibank thực hiện thí điểm hoán đổi lãi suất giữa 2 đồng tiền từ ngày 1/3/2005 đến 2/2006.
- Ngân hàng Standard Chartered chi nhánh tại Việt Nam thực hiện hoán đổi lãi suất chéo giữa 2 đồng tiền chéo (Cross Currency Swap- CCS) đối với khoản vay ngoại tệ của khách hàng sau khi khách hàng vay ngoại tệ;thực hiện cung cấp sản phẩm gắn với rủi ro tín dụng- lãi suất cơ cấu cho tiền gửi và giấy tờ có giá, theo đó lãi suất của khách hàng được hưởng sẽ không cố định mà nằm trong một khoảng giao động nhất định và phụ thuộc vào sự biến động của một số yếu tố thị trường , như tỷ giá, lãi suất, giá sản phẩm hàng hóa nào đó...
- Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, thực hiện thí điểm giao dịch quyền chọn lãi suất đối với các khoản cho vay hoặc đi vay trung hạn bằng USD hoặc euro. Đối tác thực hiện giao dịch quyền chọn lãi suất là các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam, các NHTM hoạt động tại VN được NHNN cho phép thực hiện thí điểm giao dịch quyền chọn lãi suất và các NH nước ngoài. Số gốc của hợp đồng quyền chọn lãi suất tối đa bằng 15% vốn tự có của NHĐT&PT. Tổng số là hợp đồng trong thời gian thí điểm không vượt quá 50% mức vốn tự có của NH. thời hạn hợp đồng không quá 5 năm; thực hiện nghiệp vụ tiền gửi kết hợp quyền chọn tiền tệ- Dual currency Deposit; thực hiện hoán đổi tiền tệ chéo. Đó là việc trao đổi các dòng tiền trong tương lai bằng các đồng tiền khác nhau. Trong các giao dịch hoán đổi chéo thường có việc hoán đổi thanh toán lãi (cố định hoặc thả nổi) bằng một đồng tiền sang thanh toán lãi (cố định hoặc thả nổi) bằng một đồng tiền khác. Số tiền gốc trong giao dịch có thể được hoán đổi vào kỳ đầu (nếu có) và kỳ cuối, hoặc nhiều kỳ trong thời gian hiệu lực của giao dịch
- NHNT thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất kèm theo điều kiện quyền chọn với các đối tác là TCTD hoạt động tại Việt Nam và các pháp nhân khác hoạt động ở trong nước và nước ngoài, phù hợp với các qui định của pháp luật. Quyền chọn thuộc về NHNT là quyền kết thúc trước hạn hợp đồng Swap đối với các khoản vay của BTC.
- NH HSBC thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất cộng dồn – Daily range accrual, thời hạn của hợp đồng hsbc_grp.jpgtối đa 5 năm. Theo thoả thuận hoán đổi này, khách hàng vay cuả HSBC sẽ trả Sibor cộng với phần chênh lệch và tổng lãi suất phải trả này không vượt quá mức lãi suất cao nhất đã được định trước. Đổi lại HSBC sẽ trả Sibor cộng với phần chênh lệch cho những ngày lãi suất Sibor giao động trong một khoảng được định trước. Cụ thể, hợp đồng này thoả thuận giữa khách hàng vay vốn với thời hạn 6 năm lãi suất thả nổi. Nếu đến ngày đáo hạn lãi suất Sibor không vượt quá mức lãi suất xác định trước (4,5%/năm ) thì HSBC sẽ trả lãi suất cho khách hàng với mức lãi suất (Sibor + 1,1% ). Trường hợp vượt mức lãi suất định trước, thì HSBC không phải trả mức lãi suất này. Đổi lại, khách hàng sẽ trả cho HSBC mức lãi suất (Sibor + 0,6%), nhưng tối đa không vượt quá 5,1%/ năm; thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất giữa 2 đồng tiền
- Thực hiện nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ (Option ngoại tệ/ VND): Đã cho phép thực hiện thí điểm NHTMCP Quốc tế,), ngân hàng NT (8/2005); NHTM cổ phần Á Châu, NHĐT&PT, NHTMCP Kỹ thương, NHTMCP Quân đội (12/2005).
- NH Calyon, citibank, ABN-AMRO thực hiện nghiệp vụ hoán đổi lãi suất bắt đầu thực hiện trong tương lai (Forward Start Swap) là thoả thuận để tham gia giao dịch hoán đổi lãi suất vào một ngày cụ thể trong tương lai theo một mức lãi suất đã được định trước.
- Cho phép NH TMCP kỹ thương thực hiện giao dich hợp đồng tương lai trên thị trương hàng hoá (9/2004);Vinasin thực hiện giao dịch hoán đổi ngoại tệ...
Qua thống kê trên cho thấy, thị trường các công cụ tài chính phái sinh đã hình thành ở Việt Nam, tuy nhiên còn rất nhỏ bé và chưa phổ biến. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do mức độ phát triển của thị trường tiền tệ, thị trường vốn còn thấp, trên thị trường cón thiếu vắng các nhà đầu tư am hiểu kỹ về lợi ích cũng như kỹ thuật tính toán lợi nhuận từ các loại nghiệp vụ này. bên cạnh đó các nhà môi giới, các nhà cơ lợi còn quá ít trên thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán để thúc đẩy các nhà đầu tư tham gia mạnh mẽ thị trường này. Sự kém phát triển của thị trường phái sinh là một thách thức không nhỏ trong quá trình hội nhập và mở cửa thị trường tài chính ở Việt Nam. Khi mà rủi ro luôn là bạn đường của các nhà đầu tư và ngày càng gia tăng trong quá trình hội nhập, thì phát triển thị trường các nghiệp vụ phái sinh được xem như là là chắn quan trọng để hạn chế rui ro cuả thị trường đối với những nhà đầu tư. Vì vậy phát triển thị trường phái sinh là rất cần thiết hiện nay.
Nguồn: Phòng CSTT- Vụ CSTT - Ngân hàng Nhà nước
 

Thứ Năm, 24 tháng 3, 2011

Để nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp

Môi trường pháp lý là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp và quan trọng tới quản trị doanh nghiệp. Đáng tiếc là môi trường pháp lý ở nước ta hiện nay chưa tạo ra động lực để các doanh nghiệp quan tâm đến việc quản trị theo chuẩn mực quốc tế.
Chưa tạo ra động lực
Doanh nghiệp sinh ra là để kinh doanh và săn tìm lợi nhuận. Và để đạt được mục đích đó, các doanh nghiệp có thể thực hiện một trong ba cách sau đây: 1. gian lận thuế, trốn tránh các nghĩa vụ đối với người lao động và bảo vệ môi trường để thu được lợi nhuận nhiều hơn; 2. liên kết và hoạt động dưới sự bảo kê của các nhóm quyền lực để thu được siêu lợi nhuận; 3. nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp để tăng năng suất lao động, tăng chất lượng và hạ giá thành sản phẩm… để có lợi nhuận cao hơn.
Trong ba cách trên, cách thứ ba phức tạp và đòi hỏi những điều kiện khắt khe hơn, thời gian dài hơi hơn. Vì vậy, chỉ khi nào môi trường pháp lý không cho phép hoặc bản thân chủ doanh nghiệp không đủ điều kiện áp dụng cách thứ nhất và thứ hai, họ mới tìm đến cách thứ ba. Đáng tiếc là môi trường pháp lý ở nước ta hiện nay đã và đang tạo điều kiện cho không ít doanh nghiệp áp dụng cách thứ nhất và thứ hai. Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của chúng ta rất đồ sộ nhưng thiếu thống nhất, rất dễ bị vô hiệu bằng những văn bản dưới luật.
Dấu ấn của cơ chế quản lý hành chính tập trung quan liêu, bao cấp trước đây vẫn còn rất nặng nề trong mối quan hệ giữa cơ quan công quyền thuộc bộ máy nhà nước. Cho đến nay, Nhà nước vẫn chưa thực sự là “nhà nước dịch vụ” với nhiệm vụ cung cấp cho người dân và doanh nghiệp những dịch vụ công thuận tiện nhất.
Ngược lại, các cơ quan công quyền vẫn chủ yếu thực hiện công việc của mình với tư cách của một “nhà nước cai trị”. Điều đó thể hiện ở hệ thống khổng lồ những thủ tục hành chính, giấy phép con vô lý… gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh và đời sống của người dân.
Đề án 30 về đơn giản hóa thủ tục hành chính đã cho thấy với 258 thủ tục được ưu tiên cắt giảm trong đợt đầu, người dân và doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được khoảng 30.000 tỉ đồng/năm.
Song, con số đó mới chỉ là “đếm cua trong lỗ”. Hệ thống các thủ tục hành chính nhiêu khê, phiền hà và thiếu tính khả thi đã buộc doanh nghiệp phải đối phó bằng nhiều cách để được việc. Và, tất nhiên, những “bài đối phó” đó không bao giờ trở thành chuẩn mực của quản trị doanh nghiệp tiên tiến.
Tham nhũng - một trong những kẻ thù của việc nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp - vẫn đang là quốc nạn của nước ta. Tham nhũng là vật cản vô cùng lớn đối với việc thiết lập một hệ thống quản trị doanh nghiệp tiên tiến theo thông lệ quốc tế. Bởi lẽ, tham nhũng sẽ thủ tiêu sự công khai, minh bạch; làm rối loạn hệ thống sổ sách kế toán và báo cáo tài chính của doanh nghiệp; tham nhũng cũng “cạnh tranh” với các nhà tư vấn - vốn được coi là “bác sĩ của doanh nghiệp”… Chính vì vậy, việc cải tiến, áp dụng những biện pháp cần thiết để nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp là một thách thức lớn.
Cần làm gì?
Trong phạm vi đánh giá tác động của hai yếu tố thể chế kinh tế và môi trường pháp lý đến quản trị doanh nghiệp, xin có một vài kiến nghị. Trước tiên cần nhanh chóng thực hiện chủ trương cổ phần hóa để giảm đến mức thấp nhất số lượng các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước. Đây là vấn đề quan trọng nhất để chuyển một phần lớn các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước - vốn không thật sự quan tâm đến quản trị doanh nghiệp - thành những doanh nghiệp quan tâm và đầu tư cho công tác quản trị doanh nghiệp.
Tiếp đến, cần xem lại quan điểm “doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí chủ đạo” của nền kinh tế bởi điều đó đã tạo ra những biệt lệ và sự cạnh tranh không bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp. Khi có sự bình đẳng trong đầu tư, kinh doanh thì kinh tế tư nhân sẽ thực sự được coi trọng và phát triển. Với một môi trường thông thoáng và minh bạch, quản trị doanh nghiệp sẽ được các doanh nghiệp thực sự quan tâm.
Thứ ba, nhanh chóng hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật và sửa đổi những nội dung không phù hợp, gây khó khăn cho hoạt động của các doanh nghiệp trong các văn bản quy phạm pháp luật đã được “chỉ đích danh” trong kết quả bước đầu của Đề án 30. Vấn đề quan trong hơn cả trong nội dung này là đảm bảo chất lượng các văn bản quy phạm pháp luật khi ban hành.
Cuối cùng, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng cần được thực hiện quyết liệt hơn nữa. Đây là cuộc đấu tranh âm thầm nhưng quyết liệt, lâu dài và gian khó. Việc cần làm trước hết là tổng kết, đánh giá việc thực hiện Luật Phòng chống tham nhũng đã có hiệu lực từ năm năm qua. Giải quyết tốt những vấn đề nêu trên sẽ góp phần tạo ra một môi trường kinh doanh lành mạnh, minh bạch. Chỉ khi đó, công tác quản trị mới được các doanh nghiệp quan tâm và đầu tư đúng mức.
_____________________________________________________
 Nguồn: Saigon Times Online

Để nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp

Môi trường pháp lý là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp và quan trọng tới quản trị doanh nghiệp. Đáng tiếc là môi trường pháp lý ở nước ta hiện nay chưa tạo ra động lực để các doanh nghiệp quan tâm đến việc quản trị theo chuẩn mực quốc tế.
Chưa tạo ra động lực
Doanh nghiệp sinh ra là để kinh doanh và săn tìm lợi nhuận. Và để đạt được mục đích đó, các doanh nghiệp có thể thực hiện một trong ba cách sau đây: 1. gian lận thuế, trốn tránh các nghĩa vụ đối với người lao động và bảo vệ môi trường để thu được lợi nhuận nhiều hơn; 2. liên kết và hoạt động dưới sự bảo kê của các nhóm quyền lực để thu được siêu lợi nhuận; 3. nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp để tăng năng suất lao động, tăng chất lượng và hạ giá thành sản phẩm… để có lợi nhuận cao hơn.
Trong ba cách trên, cách thứ ba phức tạp và đòi hỏi những điều kiện khắt khe hơn, thời gian dài hơi hơn. Vì vậy, chỉ khi nào môi trường pháp lý không cho phép hoặc bản thân chủ doanh nghiệp không đủ điều kiện áp dụng cách thứ nhất và thứ hai, họ mới tìm đến cách thứ ba. Đáng tiếc là môi trường pháp lý ở nước ta hiện nay đã và đang tạo điều kiện cho không ít doanh nghiệp áp dụng cách thứ nhất và thứ hai. Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của chúng ta rất đồ sộ nhưng thiếu thống nhất, rất dễ bị vô hiệu bằng những văn bản dưới luật.
Dấu ấn của cơ chế quản lý hành chính tập trung quan liêu, bao cấp trước đây vẫn còn rất nặng nề trong mối quan hệ giữa cơ quan công quyền thuộc bộ máy nhà nước. Cho đến nay, Nhà nước vẫn chưa thực sự là “nhà nước dịch vụ” với nhiệm vụ cung cấp cho người dân và doanh nghiệp những dịch vụ công thuận tiện nhất.
Ngược lại, các cơ quan công quyền vẫn chủ yếu thực hiện công việc của mình với tư cách của một “nhà nước cai trị”. Điều đó thể hiện ở hệ thống khổng lồ những thủ tục hành chính, giấy phép con vô lý… gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh và đời sống của người dân.
Đề án 30 về đơn giản hóa thủ tục hành chính đã cho thấy với 258 thủ tục được ưu tiên cắt giảm trong đợt đầu, người dân và doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được khoảng 30.000 tỉ đồng/năm.
Song, con số đó mới chỉ là “đếm cua trong lỗ”. Hệ thống các thủ tục hành chính nhiêu khê, phiền hà và thiếu tính khả thi đã buộc doanh nghiệp phải đối phó bằng nhiều cách để được việc. Và, tất nhiên, những “bài đối phó” đó không bao giờ trở thành chuẩn mực của quản trị doanh nghiệp tiên tiến.
Tham nhũng - một trong những kẻ thù của việc nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp - vẫn đang là quốc nạn của nước ta. Tham nhũng là vật cản vô cùng lớn đối với việc thiết lập một hệ thống quản trị doanh nghiệp tiên tiến theo thông lệ quốc tế. Bởi lẽ, tham nhũng sẽ thủ tiêu sự công khai, minh bạch; làm rối loạn hệ thống sổ sách kế toán và báo cáo tài chính của doanh nghiệp; tham nhũng cũng “cạnh tranh” với các nhà tư vấn - vốn được coi là “bác sĩ của doanh nghiệp”… Chính vì vậy, việc cải tiến, áp dụng những biện pháp cần thiết để nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp là một thách thức lớn.
Cần làm gì?
Trong phạm vi đánh giá tác động của hai yếu tố thể chế kinh tế và môi trường pháp lý đến quản trị doanh nghiệp, xin có một vài kiến nghị. Trước tiên cần nhanh chóng thực hiện chủ trương cổ phần hóa để giảm đến mức thấp nhất số lượng các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước. Đây là vấn đề quan trọng nhất để chuyển một phần lớn các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước - vốn không thật sự quan tâm đến quản trị doanh nghiệp - thành những doanh nghiệp quan tâm và đầu tư cho công tác quản trị doanh nghiệp.
Tiếp đến, cần xem lại quan điểm “doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí chủ đạo” của nền kinh tế bởi điều đó đã tạo ra những biệt lệ và sự cạnh tranh không bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp. Khi có sự bình đẳng trong đầu tư, kinh doanh thì kinh tế tư nhân sẽ thực sự được coi trọng và phát triển. Với một môi trường thông thoáng và minh bạch, quản trị doanh nghiệp sẽ được các doanh nghiệp thực sự quan tâm.
Thứ ba, nhanh chóng hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật và sửa đổi những nội dung không phù hợp, gây khó khăn cho hoạt động của các doanh nghiệp trong các văn bản quy phạm pháp luật đã được “chỉ đích danh” trong kết quả bước đầu của Đề án 30. Vấn đề quan trong hơn cả trong nội dung này là đảm bảo chất lượng các văn bản quy phạm pháp luật khi ban hành.
Cuối cùng, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng cần được thực hiện quyết liệt hơn nữa. Đây là cuộc đấu tranh âm thầm nhưng quyết liệt, lâu dài và gian khó. Việc cần làm trước hết là tổng kết, đánh giá việc thực hiện Luật Phòng chống tham nhũng đã có hiệu lực từ năm năm qua. Giải quyết tốt những vấn đề nêu trên sẽ góp phần tạo ra một môi trường kinh doanh lành mạnh, minh bạch. Chỉ khi đó, công tác quản trị mới được các doanh nghiệp quan tâm và đầu tư đúng mức.
_____________________________________________________
 Nguồn: Saigon Times Online

Phối hợp sử dụng công cụ luật và chính sách trong công tác quản lý nhà nước

Để quản lý nhà nước và xã hội, Nhà nước sử dụng nhiều công cụ, trong đó có công cụ pháp luật và chính sách. Với những đặc thù riêng, chính sách và pháp luật tác động đến đời sống xã hội theo các mức độ khác nhau, nhưng chúng có mối quan hệ gắn kết, phối hợp và hỗ trợ cho nhau cùng phát huy tác dụng. Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, sự phối hợp giữa công cụ luật và chính sách trong hoạt động quản lý nhà nước là rất cần thiết. Nhưng làm thế nào nâng cao được hiệu quả của sự phối hợp công cụ luật và chính sách để thúc đẩy sự phát triển của đời sống kinh tế - xã hội?  
1. Mối quan hệ giữa pháp luật và chính sách
Ở nước ta, pháp luật là những quy tắc xử sự chung thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động do Nhà nước ban hành theo trình tự, thủ tục luật định nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh của Nhà nước.  
Chính sách định hướng những hành động do chủ thể lựa chọn để giải quyết những vấn đề phát sinh trong thực tế cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh ở mỗi giai đoạn. Từ góc độ quản lý nhà nước, chính sách là những cách thức tác động của Nhà nước vào các lĩnh vực của đời sống xã hội để đạt được mục tiêu định hướng. Chính sách điều chỉnh những quan hệ ít mang tính ổn định, mềm dẻo, linh động. Chính sách có tác động nhanh và kịp thời, mạnh mẽ, toàn diện đến nhận thức, thái độ và hành vi của chủ thể bị tác động. Đặc biệt, chính sách điều chỉnh động cơ, tạo động lực cho hành vi, hoạt động của các cá nhân và từng nhóm đối tượng cụ thể. Chính sách có vai trò định hướng cho các hoạt động kinh tế - xã hội; khuyến khích các hoạt động kinh tế - xã hội theo định hướng; phát huy những mặt tốt của nền kinh tế thị trường và hạn chế những mặt tiêu cực của nó; tạo lập sự cân đối trong phát triển; kiểm soát và phân phối các nguồn lực cho quá trình phát triển; tạo lập môi trường thích hợp cho các hoạt động kinh tế - xã hội, giúp cho các thực thể vận động, phát triển theo đúng quy luật; phối hợp hoạt động giữa các cấp độ, các bộ phận để tạo nên tính thống nhất chặt chẽ trong quá trình vận động của thực thể.
1.1. Vai trò của chính sách đối với pháp luật
Thứ nhất, chính sách bao giờ cũng đi trước pháp luật, mang tính định hướng và là nền tảng để xây dựng pháp luật. Nó phản ánh một cách trung thực điều kiện kinh tế - xã hội tại thời điểm cụ thể và dự báo xu thế, khả năng phát triển trong tương lai. Nếu chính sách không làm tốt vai trò này thì việc thể chế hóa các chính sách thành các quy phạm pháp luật hoặc văn bản quy phạm pháp luật sẽ không có tính khả thi hoặc kìm hãm sự phát triển của các quan hệ xã hội. Do đó, các nhà hoạch định chính sách phải là người có khả năng đúc kết thực tiễn và dự báo tương lai.
Thứ hai, chính sách có tính ổn định tương đối để pháp luật thể hiện chính sách có điều kiện đi vào thực tế cuộc sống. Điều này có nghĩa, khi một chính sách có quá nhiều thay đổi hoặc không có những lộ trình cụ thể sẽ gây khó khăn cho việc xây dựng và thực thi pháp luật. Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách phải tính toán thời gian, điều kiện áp dụng để đưa chính sách vào cuộc sống. Đồng thời, họ phải là những người có khả năng chia việc thực thi chính sách thành các giai đoạn khác nhau với các mục tiêu và lộ trình cụ thể, tránh những bất lợi cho quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật.
Thứ ba, chính sách là một trong các nguồn tạo ra những thể chế pháp luật mới. Đó là công cụ thể hiện thái độ chính trị của Đảng lãnh đạo để điều chỉnh các quan hệ xã hội diễn ra theo định hướng nhất định. Từ chính sách của Đảng, chính sách mới được Nhà nước ban hành và được thực thi thông qua việc cụ thể hóa thành các quy phạm pháp luật. Như vậy, một chính sách mới được ban hành sẽ tạo nên một lĩnh vực điều chỉnh mới của hệ thống pháp luật. Ví dụ: khi Nhà nước ban hành chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự định hướng của Nhà nước, một loạt các văn bản quy phạm pháp luật được hình thành mới hoặc sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với chính sách như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư; Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Hợp tác xã, Luật Phá sản, các luật thuế…
1.2. Vai trò của pháp luật đối với chính sách
Thứ nhất, pháp luật là căn cứ xây dựng chính sách, là công cụ cụ thể hóa và thực thi chính sách. Chính sách có tính linh hoạt và thích nghi với thực tế xã hội cao hơn pháp luật nhưng không thể tồn tại và phát huy tác dụng nếu thiếu pháp luật, bởi lẽ, hệ thống pháp luật tạo nên khuôn khổ pháp lý quy định và điều chỉnh hầu hết các quan hệ xã hội cơ bản. Chính sách do Nhà nước ban hành không được trái với các quy định của pháp luật. Do đó, chúng ta không thể xây dựng chính sách có hiệu quả và khả thi nếu không nắm được những quy định pháp luật đang điều chỉnh lĩnh vực liên quan đến chính sách.
Ví dụ: Điều 5 Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số”. Từ quy định này, nhiều chính sách dành cho đồng bào dân tộc thiểu số đã được hoạch định và thực thi như Chương trình 135, 137…
Thứ hai, pháp luật phản ánh các chính sách ở điểm cân bằng. Điều này có nghĩa do đặc trưng của pháp luật là điều chỉnh các mối quan hệ chủ yếu, cơ bản mang tính ổn định và được lặp đi lặp lại, nên nếu không tìm ra được điểm cân bằng và tương đối ổn định thì chính sách khó có thể cụ thể hóa thành pháp luật.
Thứ ba, khi các đạo luật được ban hành và đi vào đời sống sẽ giúp cho các quan hệ xã hội diễn ra có trật tự theo định hướng thống nhất với chính sách hiện hành. Quá trình thực thi pháp luật giúp cho các đối tượng có ý thức chấp hành các quy định chung, vì thế mà họ cũng nêu cao tinh thần chấp hành chính sách tự giác. Nếu pháp luật và pháp chế của xã hột tốt, thì mục tiêu của chính sách có thể đạt được nhanh chóng nhờ những biện pháp mềm dẻo, linh hoạt.
1.3. Tác động qua lại của chính sách và pháp luật
Trong hoạt động quản lý nhà nước, sự phối hợp giữa công cụ luật và công cụ chính sách là vô cùng cần thiết. Nếu như pháp luật tạo ra hành lang pháp lý, môi trường pháp lý để xã hội vận động, phát triển theo định hướng của Nhà nước và mang tính bắt buộc, thì chính sách khuyến khích các hoạt động kinh tế - xã hội, định hướng đi đến mục tiêu. Sự phối hợp giữa hai công cụ này sẽ giúp cho các đối tượng quản lý có thêm nội lực để phát triển. Nó không chỉ bảo đảm duy trì trật tự xã hội mà còn tạo ra môi trường thuận lợi hơn, tích cực hơn cho các quá trình kinh tế - xã hội, tạo ra sự công bằng giữa các đối tượng, các địa phương và giúp huy động sức mạnh tổng hợp, các nguồn lực cho sự phát triển. Như vậy, nếu sự phối hợp được thực hiện tốt thì mục tiêu quản lý sẽ được đảm bảo và ngược lại, thiếu sự phối hợp tất yếu hiệu quả quản lý sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực.
Để có thể tạo ra sự phối hợp của công cụ luật và công cụ chính sách, cần lưu ý đến một số khía cạnh của vấn đề về sự tác động qua lại giữa công cụ luật và chính sách:
Một là, pháp luật đôi khi cản trở việc hoạch định và thực thi chính sách mới. Về nguyên tắc, khi hoạch định chính sách phải căn cứ vào nhiều yếu tố, trong đó có pháp luật. Tuy nhiên, việc hoạch định chính sách có thể bị cản trở khi pháp luật chứa đựng trong bản thân nó những yếu tố không bền vững, thiếu tính khả thi và thường xuyên thay đổi.
Hai là, hoạch định chính sách mới cũng thách thức sự nhất quán của hệ thống pháp luật quốc gia. Khi hệ thống chính sách thiếu nhất quán, mâu thuẫn; có sự hạn chế lẫn nhau giữa các chính sách chung của quốc gia, giữa chính sách của quốc gia với chính sách của địa phương… mà vẫn tiếp tục hoạch định chính sách mới và cụ thể hóa nó thành pháp luật thì việc xây dựng và áp dụng pháp luật cũng khó hoàn thiện và bảo đảm hiệu quả.

2. Thực tiễn phối hợp công cụ chính sách và pháp luật của Nhà nước ta
2.1. Những thành tựu trong việc phối hợp công cụ luật và chính sách của Nhà nước ta
Có thể nói, từ khi tiến hành đổi mới, Nhà nước ta đã chú ý phối hợp công cụ luật và chính sách trên mọi lĩnh vực của đời sống quản lý.
Ví dụ như trong lĩnh vực kinh tế, Điều 15 Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”. Chính sách này đã được cụ thể hóa trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, như: Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Hợp tác xã, Luật Phá sản, Luật cạnh tranh… Trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng, Đảng và Nhà nước ta có chính sách phòng, chống tham nhũng. Nhưng Nhà nước không đơn thuần sử dụng công cụ chính sách để phòng, chống tham nhũng. Luật Phòng, chống tham nhũng và nhiều văn bản ra đời chính là để quy phạm hóa chính sách, phối hợp với chính sách để đem lại hiệu quả thiết thực trong việc phòng, chống tham nhũng. Hay trong lĩnh vực quản lý nhà nước về tôn giáo,  chúng ta đã phối hợp sử dụng các quy định của pháp luật cùng các chính sách tạo điều kiện để đồng bào có đạo “sống tốt đời đẹp đạo”, “sống phúc âm trong lòng dân tộc”… Những quy định của pháp luật cùng các chính sách đã thực sự bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân. Sự công nhận của cộng đồng quốc tế về vấn đề tôn giáo ở Việt Nam là sự khẳng định về hiệu quả của sự phối hợp công cụ luật và chính sách của Nhà nước ta trong quản lý các hoạt động tôn giáo...
2.2. Những hạn chế trong việc phối hợp công cụ luật và chính sách
Tuy nhiên, không phải lúc nào, trong lĩnh vực nào sự phối hợp giữa luật và chính sách cũng đều được thực hiện tốt. Ví dụ, Luật Đất đai đã có hiệu lực từ ngày 01/7/2004 nhưng vì nghị định hướng dẫn thi hành ban hành chậm nên nhiều cấp, nhiều địa phương vẫn chưa giải quyết một số công việc có liên quan đến đất đai mà phải chờ văn bản hướng dẫn. Điều này làm cho những chính sách mới về đất đai chậm đi vào cuộc sống. Hoặc những bất cập về thể chế đang là những trở ngại đáng kể cho việc phân cấp quản lý, hoặc phân cấp tuỳ tiện, thiếu cơ sở khoa học và tính bền vững. Ví dụ, phân cấp cho chính quyền địa phương cấp tỉnh có quyền vay vốn và một số đơn vị có thể phát hành trái phiếu, nhưng đến nay, chưa có một văn bản pháp lý nào quy định về quyền tài sản của chính quyền địa phương, trong khi quyền tài sản là cơ sở pháp lý cao nhất để bảo đảm việc vay vốn hoặc phát hành trái phiếu. Hoặc chính sách phân cấp cho chính quyền cấp tỉnh được sắp xếp lại và bố trí định biên cho các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công, song Nhà nước vẫn chưa có cơ chế hoạt động đối với các đơn vị dịch vụ công, trước hết là giáo dục và y tế… Điều này tất yếu sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của việc thực hiện các chính sách.
Ngoài ra còn tình trạng thiếu sự phối hợp giữa chính sách của trung ương với chính sách địa phương, quy định của văn bản pháp luật với những chính sách của địa phương. Tình trạng “xé rào” của không ít các địa phương trong thời gian qua là một minh chứng. Trong lĩnh vực thu hút đầu tư, nhiều địa phương đã không thực hiện đúng các quy định của pháp luật mà tuỳ tiện đưa ra chính sách ưu đãi như: hạ quá thấp khung sàn về tiền cho thuê đất, vượt quá khung trần về thời gian ân hạn tiền thuê quyền sử dụng đất, thời hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật. Theo kiểm tra của Bộ Tài chính ở 48 tỉnh, thành phố thì có tới 33 tỉnh, thành phố quyết định những chính sách ưu đãi đầu tư không đúng luật. Bến Tre quy định: “Ngoài việc được hưởng các chính sách quy định của Chính phủ, các dự án đầu tư dạng BOT, BTO, BT sẽ được tỉnh miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp thêm bốn năm và được giảm 50% thuế trong chín năm tiếp theo”. Quảng Nam áp dụng thuế suất thấp hơn quy định của Nhà nước khoảng 3-10% trong thời hạn ba năm. Hà Tĩnh thì tăng thời gian miễn tiền thuê đất 7-13 năm; kéo dài thời gian giảm tiền thuê đất năm năm hoặc cả “đời” dự án. Phú Yên đưa ra quy định: “Sau khi hết thời hạn được miễn, giảm theo quy định của Chính phủ, nhà đầu tư được giảm 50% tiền thuê đất từ 8-20 năm”1. Thậm chí, Nghệ An còn tăng thời gian miễn tiền thuê đất cho các dự án đầu tư vào thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò, miễn thêm 20 năm tiền thuê đất cho các dự án đầu tư tại vùng đồng bằng. Vĩnh Phúc miễn 100% thuế đất vùng khó khăn... Theo thống kê của Bộ Tài chính, hiện cả nước có 18 tỉnh có quy định không phù hợp về ngân sách; 21 tỉnh đưa ra những quy định “vượt khung” về chính sách đất đai; 11 tỉnh quy định không phù hợp với Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp. Hầu hết các tỉnh đều ưu đãi về thuế đất ở mức rất cao, tăng thời gian giảm thuế từ 10-20 năm cho các nhà đầu tư. Hoặc trong lĩnh vực ban hành văn bản quy phạm pháp luật, nhiều tỉnh ban hành các văn bản xử phạt hành chính, xử phạt về vi phạm trật tự an toàn giao thông trái với các quy định của pháp luật. Theo Bộ Tư pháp, chỉ mới kiểm tra sơ bộ trong năm 2005 đã “có 33 tỉnh, thành phố ban hành 84 văn bản trái với Nghị định của Chính phủ, trong đó UBND cấp tỉnh 76, Chủ tịch UBND tỉnh: 7 và Hội đồng nhân dân: 1 văn bản”2. Rõ ràng, những điều này ảnh hưởng lớn đến hiệu quả tổng thể của quản lý nhà nước.
Một điều có thể nhận thấy trong hệ thống chính sách và pháp luật của nước ta hiện nay là ở nhiều lĩnh vực có sự chồng chéo lẫn nhau trong các quy định. Trở lại vấn đề ưu đãi đầu tư, nhiều nhận định cho rằng, hệ thống ưu đãi của Việt Nam là một trong những hệ thống phức tạp nhất trong khu vực. Bởi lẽ, các ưu đãi có rất nhiều loại khác nhau, lại được quy định rải rác trong các luật và các chính sách khác nhau. Sự phức tạp càng được nhân lên khi các địa phương tiếp tục đưa ra các ưu đãi riêng khác, gây ra sự “giẫm chân” nhau khi mời gọi đầu tư. Điều đó gây khó khăn cho các cơ quan nhà nước trong công tác quản lý cũng như cho doanh nghiệp trong việc nhận biết và tiếp cận ưu đãi đầu tư. Hơn nữa, có những loại ưu đãi đầu tư được sử dụng nhằm đạt nhiều mục tiêu khác nhau, đôi khi còn xung đột lẫn nhau. Ví dụ như vừa thu hút đầu tư lại vừa giải quyết công ăn việc làm, phát triển kinh tế địa phương, cân bằng giới và khuyến khích chuyển giao công nghệ. Các doanh nghiệp khó xác định được mình có đủ tiêu chuẩn được hưởng ưu đãi đầu tư hay không. Có hiện tượng các doanh nghiệp lợi dụng chính sách ưu đãi đầu tư để thu được các khoản lợi thuế không chính đáng. Chính sách thiếu minh bạch tạo kẽ hở cho các hành vi cơ hội. Điều đó cũng có phần xuất phát từ nguyên nhân do các nhà đầu tư phải xin giấy chứng nhận ưu đãi từ một cơ quan có thẩm quyền chứ không phải cứ đáp ứng các điều kiện đặt ra là nghiễm nhiên nhận được ưu đãi đầu tư.
Bên cạnh đó, “hệ thống pháp luật nước ta chưa đồng bộ, chưa thống nhất, tính khả thi thấp, chậm đi vào cuộc sống”3. Điều này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, song một trong những nguyên nhân quan trọng là “công tác phân tích và hoạch định chính sách chưa làm tốt, hệ thống chính sách của chúng ta chưa đồng bộ”4.
Sự phối hợp sử dụng công cụ luật và chính sách còn gặp trở ngại không nhỏ khi hệ thống chính sách của chúng ta còn không ít những hạn chế. “Những biểu hiện chủ yếu về sự thiếu tập trung trong việc thực hiện chính sách công là hệ thống chính sách của ta còn thiếu đồng bộ, xa rời thực tế, các Bộ, ngành và địa phương luôn có xu hướng giành quyền ban hành chính sách, hoặc gò ép, làm biến dạng các chính sách khi áp dụng vào những lĩnh vực, phạm vi quản lý của mình mà sao lãng trách nhiệm tìm kiếm những biện pháp hữu hiệu để thực hiện đồng bộ, thống nhất các chính sách phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế”5.
Cùng với những hạn chế đó là một bộ phận cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước chưa nhận thức đầy đủ về chính sách, coi chính sách chỉ đơn thuần là những biện pháp cụ thể để thực hiện một nhiệm vụ quản lý nhà nước; chính sách được ban hành như những quyết định quản lý hành chính. Nhận thức đó đã làm cho vai trò của công cụ đặc biệt này không được đặt ngang tầm của nó, đồng thời dẫn đến tản mạn trong thực hiện chính sách, vi phạm nguyên tắc tập trung trong quản lý nhà nước. Chính vì vậy, sự phối hợp giữa công cụ luật và chính sách đã không được đảm bảo, gây nên sự thiếu công bằng giữa các đối tượng thụ hưởng chính sách ở các ngành, các địa phương và gây khó khăn trong việc huy động các nguồn lực cho sự nghiệp phát triển của đất nước.

3. Nâng cao hiệu quả sự phối hợp sử dụng công cụ luật và chính sách
Trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế, nhất là khi Việt Nam đã gia nhập WTO, một trong những yêu cầu không thể thiếu được của Việt Nam là phải hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật. Muốn vậy, chúng ta phải giải quyết trọn vẹn mối quan hệ giữa chính sách và pháp luật. Để nâng cao hiệu quả phối hợp giữa chính sách và pháp luật, chúng tôi cho rằng, nên thực hiện song song một số giải pháp:
3.1. Yêu cầu đối với hoạch định chính sách
- Coi trọng việc tập hợp thông tin pháp luật liên quan đến việc hoạch định các chính sách để tránh mâu thuẫn, chồng chéo giữa chính sách với pháp luật và giữa các chính sách với nhau;
- Quan tâm đến sự hài hòa các lợi ích bằng việc dự liệu các tác động trước mắt và ảnh hưởng lâu dài của chính sách đối với bản thân đối tượng được thụ hưởng và toàn bộ xã hội trên cơ sở tính toán cụ thể các biện pháp nhằm giảm thiểu việc gây mâu thuẫn, xung đột xã hội do chính sách chỉ đáp ứng lợi ích cho một bộ phận xã hội.
- Quan tâm đến việc bảo đảm đồng bộ nhiều giải pháp thực hiện chính sách để đạt được mục tiêu chính sách. Ví dụ: chính sách khuyến khích cán bộ, công chức tham gia đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao kỹ năng nghề nghiệp do chỉ chú ý khuyến khích bằng vật chất và tinh thần cho đối tượng được thụ hưởng mà không quan tâm đến các yếu tố khác, nên trên thực tế cũng không đạt được mục tiêu vì cán bộ, công chức không được học theo nhu cầu của bản thân về kỹ năng nghề nghiệp cần thiết, mà buộc phải học theo chương trình sẵn có của các cơ sở đào tạo. Những chương trình này có nhiều nội dung trùng với những chương trình khác mà họ đã được đào tạo, bồi dưỡng;
- Tính đến mặt trái của chính sách, bảo đảm không để chính sách bị lợi dụng. Việc tính toán không chỉ giúp hạn chế những thiệt hại về vật chất mà còn cả những thiệt hại về tinh thần, trong đó quan trọng nhất là niềm tin của nhân dân vào chính sách của Nhà nước, nhất là trong quá trình hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta.
- Tính toán thời điểm công bố chính sách, nhất là những chính sách tác động lớn đến lợi ích của người dân. Trong trường hợp này cần thiết phải tiến hành các hoạt động thăm dò phản ứng và dư luận xã hội trước khi công bố.
3.2. Đổi mới và hoàn thiện quy trình lập pháp của Quốc hội
Phân tích và quyết định chính sách trước khi bắt tay vào việc soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật là vấn đề cần được làm mạnh và triệt để hơn để có cái nhìn tổng thể, lựa chọn những giải pháp tối ưu, bước đi thích hợp cho vấn đề mà thực tế cuộc sống đặt ra. Điều này sẽ khắc phục được tình trạng nhiều vấn đề thuộc chủ trương, chính sách không được làm rõ trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dẫn đến việc phải làm đi làm lại nhiều lần, gây tốn kém về thời gian, công sức, chi phí và nảy sinh tình trạng dự thảo văn bản quy phạm pháp luật đã trình Quốc hội nhưng còn ý kiến băn khoăn về đối tượng, phạm vi điều chỉnh, sự cần thiết có nên ban hành văn bản quy phạm pháp luật đó hay không.
3.3. Đào tạo kỹ năng xây dựng chính sách và pháp luật
Thực tế hiện nay, nhiều nhà hoạch định chính sách công cũng là những người tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật. Bên cạnh thuận lợi đó có những khó khăn trong việc phân định ranh giới giữa vấn đề chính sách và quy định của pháp luật. Do đó, cần phải tăng cường đào tạo kỹ năng xây dựng chính sách và pháp luật trong các trường đào tạo chuyên ngành. Hiện nay, phần lớn những người hoạch định chính sách và pháp luật thực thi nhiệm vụ trên cơ sở kinh nghiệm và quá trình học tập không bài bản, nên việc xây dựng chính sách và thể hiện thành những quy phạm pháp luật còn nhiều bất cập.
3.4. Nâng cao hiệu quả phối hợp trong quá trình thực thi pháp luật và chính sách
Sự phối hợp sử dụng công cụ luật và chính sách trong quá trình quản lý nhà nước chính là quá trình chuyển hóa các quy định vào thực tiễn đời sống xã hội. Để nâng cao hiệu quả phối hợp, cán bộ, công chức cần phải nhận thức về vai trò của mỗi công cụ trong hoạt động quản lý, trong trường hợp nào sẽ vận dụng các quy định pháp luật, trong trường hợp nào sử dụng công cụ chính sách... Trong từng lĩnh vực quản lý cán bộ, công chức cần phải có kiến thức cần thiết về lĩnh vực mình quản lý: kiến thức về pháp luật, kiến thức về chính sách.
Như vậy, từ mối quan hệ đặc biệt giữa công cụ luật và chính sách, Nhà nước ta cần phải đặc biệt quan tâm đến mối quan hệ giữa chính sách và pháp luật, cần phải nâng cao chất lượng của việc phân tích chính sách, hoạch định chính sách, để từng bước: “nâng tầm hoạch định chính sách nhằm thực hiện thắng lợi những Nghị quyết của Đảng”6, tạo ra một hệ thống chính sách đồng bộ phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội. Đó chính là cơ sở để chúng ta hoàn thiện hệ thống pháp luật, hướng tới mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
(1) Cải cách hành chính với phân cấp quản lý: Vấn đề và những bứt phá (Chuyên đề thuộc dự án Tổng kết 20 năm đổi mới ở Việt Nam).
(2) Tlđd.
(3) Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam: Các Nghị quyết kỳ họp thứ mười một, Quốc hội khóa X, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 2004, tr. 24.
(4) Tlđd.
(5) Giáo trình Hoạch định và phân tích chính sách công, Nxb. Đại học Quốc gia, H, 2004, tr. 31.
(6)  Văn kiện đại hội hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2001, tr.75.

Nguồn: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ

Tái cấu trúc kinh tế - Thực tế Việt Nam

Tái cấu trúc kinh tế là một quá trình và hiện đang là vấn đề nóng của nhiều nền kinh tế trên thế giới và cả của Việt Nam, gắn với hệ quả của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, sự dịch chuyển các lợi thế so sánh trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt được thúc đẩy bởi cuộc khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu năm 2008-2009.
 Tái cấu trúc kinh tế được hiểu là việc thay đổi cả về tương quan lượng và chất nền kinh tế để có cơ cấu kinh tế hiện đại, phát triển theo chiều sâu, đồng thời tiến hành những thay đổi cần thiết về môi trường thể chế để tạo điều kiện phát triển thuận lợi cho tất cả các thành phần kinh tế trong cơ cấu mới.
Tái cấu trúc nền kinh tế là một quá trình mở, với nội dung và nhịp độ tùy thuộc sự phát triển của khoa học, công nghệ và sự dịch chuyển lợi thế cạnh tranh giữa các nước và tình hình cụ thể của mỗi quốc gia. Đối với nước ta, tái cấu trúc nền kinh tế phải diễn ra trên cơ sở nhận thức mới và nội dung toàn diện, với các điểm nhấn sau:
1. Quan niệm về tái cấu trúc
Thứ nhất, coi quá trình tái cấu trúc gắn với yêu cầu hiện đại hóa và phát triển bền vững của Việt Nam trong thời kỳ mới là yêu cầu xuyên suốt trong qua trình phát triển; Coi ổn định vĩ mô và đồng thuận xã hội cao là nền tảng quan trọng nhất của sự phát triển; Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với phát triển các lĩnh vực văn hóa xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; đồng thời khắc phục tư tưởng chạy theo tốc độ mà không chú ý đúng mức đến chất lượng tăng trưởng.
Thứ hai, nhấn mạnh yêu cầu mới, quan trọng của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất: Theo đó, lực lượng sản xuất phải dựa vào trình độ khoa học, công nghệ ngày càng cao, phản ánh xu thế khoa học, công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Còn quan hệ sản xuất phải bảo đảm phát triển nhanh hài hoà các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp trên cơ sở tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, khuyến khích phát triển các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh với sở hữu hỗn hợp mà chủ yếu là các doanh nghiệp cổ phần, để loại hình kinh tế này trở thành phổ biến trong nền kinh tế, thúc đẩy xã hội hoá sản xuất kinh doanh và sở hữu. Hoàn thiện cơ chế chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân như một động lực ngày càng quan trọng của phát triển và ổn định kinh tế - xã hội…
Thứ ba, quá trình tái cấu trúc kinh tế cần có sự tham gia rộng rãi, tự nguyện của các doanh nghiệp và đối tác liên quan theo nguyên tắc thị trường, đồng thời, đề cao bàn tay nhạc trưởng thống nhất của Nhà nước thông qua các công cụ luật pháp và ngân sách nhà nước định vị lại đúng đắn hơn vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế nhà nước trong quá trình tái cấu trúc kinh tế. Theo đó kinh tế nhà nước không chỉ là doanh nghiệp nhà nước, mà còn có các nguồn lực khác do Nhà nước sở hữu, gồm ngân sách nhà nước, đất đai, tài nguyên, dự trữ quốc gia và chỉ chiếm vị trí chủ đạo trong một số lĩnh vực kinh tế thích hợp. Thông qua các chính sách phát triển và cơ chế điều tiết, phân bổ hiệu quả, các nguồn lực này sẽ là nhân tố kích hoạt, định hướng việc thực hiện chính sách cơ cấu và sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung. Vì vậy, khi nói kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo không chỉ nói riêng nguồn lực vật chất, mà phải đặt nó trong sự tác động của chính sách, khả năng sử dụng hiệu quả nguồn lực của Nhà nước. Hơn nữa, không chỉ nói đến vai trò của kinh tế nhà nước trong phát triển kinh tế, mà phải đặt trong tổng thể phát triển kinh tế - xã hội nói chung. Điều đó cũng đòi hỏi phải nhận thức và định vị lại nội dung hoạt động và cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước. Cần tăng cường gắn kết giữa các khu vực doanh nghiệp và thúc đẩy hình thành nền kinh tế với cơ cấu 2 tầng: Tầng trên là các doanh nghiệp lớn, hiện đại. Tầng dưới là các doanh nghiệp nhỏ và vừa liên kết chặt chẽ với nhau và với tầng trên. Đặc biệt, khuyến khích việc sáp nhập để phát triển các tập đoàn kinh tế lớn, đa sở hữu, kinh doanh đa ngành, hoạt động xuyên quốc gia; giảm thiểu dần các doanh nghiệp nhỏ, yếu kém sức cạnh tranh và không có triển vọng thị trường. Đồng thời, cần bắt đầu tái cấu trúc theo từng ngành và sản phẩm kinh tế chủ lực từ đó hình thành phương án chung của cả nước; mở rộng quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hình thành các sản phẩm chủ lực, quy mô lớn, có hiệu quả và phát huy lợi thế so sánh chung của đất nước, của địa phương và của doanh nghiệp; Đặc biệt, cần đề cao vai trò của SCIC (Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước) trong việc chủ động mua bán các cổ phần doanh nghiệp để định hướng và thúc đẩy quá trình này.
Thứ tư, tái cấu trúc kinh tế phải gắn với yêu cầu xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Tiềm lực kinh tế của đất nước, lực lượng doanh nghiệp trong nước có mạnh, nền kinh tế mới vững, vị thế trong hội nhập mới cao. Càng hội nhập có hiệu quả, Việt Nam càng có điều kiện thuận lợi để xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ.
Mục tiêu cao nhất của quá trình tái cấu trúc kinh tế Việt Nam theo hướng hiện đại và phát triển bền vững chính là: “Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau”, trên cơ sở lấy phát triển kinh tế làm trung tâm, đảm bảo sự thống nhất giữa kinh tế, xã hội với chính trị, quốc phòng, an ninh; gắn kết nhiệm vụ trung hạn với yêu cầu phát triển dài hạn, đồng thời phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó phải chọn đúng các khâu đột phá - những khâu hiện đang là những điểm nghẽn cản trở sự phát triển mà nếu giải quyết tốt các khâu này sẽ tạo ra những tiền đề giải phóng mọi tiềm năng, khai thác có hiệu quả các nguồn lực cho phát triển.
Kinh tế thị trường chỉ có thể được hoàn thiện khi các yếu tố, các loại thị trường được hình thành đồng bộ trong một môi trường cạnh tranh bình đẳng; Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường phải gắn với đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp. Nhà nước phải có chính sách và công cụ hiệu quả khắc phục những mặt trái của cơ chế thị trường; phải huy động các nguồn lực để thực hiện đột phá về cơ sở hạ tầng, tập trung vào giao thông và cơ sở hạ tầng đô thị lớn; phải đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân, phát triển mạnh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; đồng thời, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ để phát triển nhanh và bền vững.
Chuyển đổi mô hình tăng trưởng là đòi hỏi khách quan của quá trình phát triển, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh gay gắt, nhưng không thể hành động theo ý muốn mà phải tạo ra các tiền đề và điều kiện cho quá trình chuyển đổi. Những tiền đề và điều kiện đó chính là các đột phá chiến lược. Chính vì vậy, trong thời kỳ chiến lược tới, nhất là trong những năm đầu, phải tập trung giải quyết các khâu đột phá, kết hợp hợp lý giữa tăng trưởng theo chiều rộng với tăng trưởng theo chiều sâu, theo hướng chuyển mạnh sang chiều sâu. Tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng là công việc đòi hỏi sự nỗ lực của các ngành, các cấp, của cộng đồng doanh nghiệp. Trong đó, Nhà nước đóng vai trò mở đường và hỗ trợ còn doanh nghiệp là chủ thể, lực lượng chủ công của tiến trình này.
Giải bài toán tái cấu trúc kinh tế theo yêu cầu phát triển hiện đại và bền vững còn đòi hỏi phải coi trọng nội dung văn hóa xã hội và bảo vệ môi trường. Văn hóa với tư cách là lĩnh vực rộng lớn có nhiều nội dung gắn kết tương tác lẫn nhau, tác động mạnh đến kinh tế và mọi mặt của đời sống, đến từng con người và cả cộng đồng, hình thành nên hệ giá trị của một quốc gia, tạo ra bản sắc của một dân tộc, là yếu tố quan trọng trong tư duy phát triển. Vì vậy, cần “phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa xã hội hài hòa với phát triển kinh tế..., xử lý tốt mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, là một động lực phát triển”, cũng như bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của từng ngành, địa phương, trong từng dự án; đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường và phát triển các dịch vụ môi trường. Chủ động triển khai chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng; tăng cường hợp tác quốc tế trong hoạt động có tính toàn cầu này.
Chất lượng phát triển tùy thuộc chất lượng lãnh đạo và quản lý. Nói cách khác, tiền đề để giải thành công bài toán tái cấu trúc kinh tế Việt Nam theo yêu cầu phát triển hiện đại và bền vững đòi hỏi chúng ta phải giải thành công bài toán về nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên cơ sở không ngừng hoàn thiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ; Đồng thời, hoàn thiện các thiết chế thực hiện dân chủ, tăng cường dân chủ trực tiếp, đề cao vai trò phản biện xã hội, trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước các cấp…
2. Tái cấu trúc ở Việt Nam
Thứ nhất, tái cấu trúc về tài chính - đầu tư: Nhà nước tập trung đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực và các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội thiết yếu nhất; Đồng thời, đẩy mạnh huy động nguồn lực của các thành phần kinh tế cho đầu tư phát triển; Khuyến khích đầu tư vào các ngành sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng lớn, các ngành công nghiệp hỗ trợ, sử dụng công nghệ sạch; Hạn chế đầu tư vào các ngành khai thác tài nguyên, sử dụng nhiều đất, tiêu hao nhiều năng lượng; Không chấp nhận những dự án đầu tư công nghệ thấp, gây ô nhiễm môi trường. Phải giảm bớt chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư; kiên quyết cắt giảm các công trình chưa thực sự cần thiết, tập trung nguồn lực cho các dự án tạo ra năng lực sản xuất và năng lực xuất khẩu mới, các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội thiết yếu, sớm đưa vào sử dụng; giảm bội chi ngân sách và thâm hụt cán cân thương mại, kiềm chế tốc độ tăng giá. Hoàn thiện cơ chế chính sách về đầu tư để huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển và nâng cao hiệu quả đầu tư; mở rộng các hình thức đầu tư theo cơ chế BOT, BT, khẩn trương ban hành quy định về hợp tác công - tư (PPP) để phát triển hệ thống giao thông, nhất là các công trình lớn. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong đầu tư, xác lập quyền sử dụng đất, thủ tục hải quan, thuế, nhằm giảm chi phí kinh doanh cho doanh nghiệp. Cải thiện khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp. Hướng mạnh hoạt động của Ngân hàng phát triển vào việc hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ; tăng nguồn kinh phí bảo lãnh tín dụng và năng lực thẩm định dự án được bảo lãnh của Ngân hàng này. Ưu tiên nguồn tín dụng cho các sản phẩm trọng điểm. Nghiên cứu việc phân bổ hạn mức tín dụng cho các khu vực doanh nghiệp theo mức đóng góp vào GDP và kim ngạch xuất khẩu.
Thứ hai, tái cấu trúc ngành, sản phẩm: Tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong tổng sản phẩm quốc dân, trọng tâm là phát triển công nghiệp hỗ trợ và các ngành dịch vụ chất lượng cao, có giá trị gia tăng lớn, nhằm tạo ra nhiều sản phẩm có khả năng cạnh tranh để có thể tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời, coi trọng vai trò có ý nghĩa chiến lược lâu dài của nông nghiệp trong việc ổn định xã hội, bảo đảm an ninh lương thực và cải thiện đời sống nông dân; xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa với công nghệ cao nhằm tăng giá trị gia tăng trên một đơn vị diện tích đất; gắn kết chặt chẽ giữa áp dụng khoa học công nghệ với tổ chức sản xuất; giữa sản xuất, chế biến với phân phối trong một chuỗi giá trị, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các khâu trong chuỗi giá trị đó, giữa phát triển nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới. Đặc biệt, phát triển công nghiệp hỗ trợ phải được coi là một nội dung trọng tâm của tái cấu trúc các ngành sản xuất công nghiệp. Tạo sự gắn kết giữa các doanh nghiệp chế tạo với doanh nghiệp lắp ráp, các doanh nghiệp trong nước với các nhà đầu tư nước ngoài trong việc lựa chọn và phát triển công nghiệp hỗ trợ theo cụm nhóm sản phẩm trên cơ sở thị trường có sự định hướng của Nhà nước, tập trung vào một số sản phẩm cơ khí, thiết bị điện, điện tử, sản phẩm công nghệ thông tin... (được biết, Thủ tướng Chính phủ vừa ký Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia đến năm 2020, mà theo đó đến năm 2015, Việt Nam sẽ hình thành và phát triển tối thiểu 10 sản phẩm quốc gia do các doanh nghiệp khoa học và công nghệ sản xuất dựa trên công nghệ tiên tiến); Khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư phát triển công nghiệp hỗ trợ; Phát triển mạnh các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao, có tác động lan tỏa rộng như dịch vụ du lịch, dịch vụ phân phối, vận tải, dịch vụ logistics và các dịch vụ cảng biển, nhằm tận dụng vị thế địa kinh tế của nước ta trong chuỗi cung toàn cầu; Triển khai chương trình quốc gia phát triển công nghệ thông tin, phấn đấu đến năm 2020 đưa Việt Nam thành nước mạnh về công nghệ thông tin. Đẩy mạnh việc thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới. Nhà nước tăng đầu tư đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội ở nông thôn, đầu tư phát triển công nghệ sinh học, công nghiệp chế biến nhằm tạo ra các sản phẩm có năng suất cao, chất lượng tốt, có khả năng cạnh tranh. Tăng cường công tác kiểm tra theo các tiêu chuẩn an toàn và vệ sinh thực phẩm từ sản xuất, chế biến, lưu thông đến tiêu dùng. Đầu tư mạnh hơn cho hệ thống bảo quản, dự trữ để giảm hao hụt, bảo đảm chất lượng hàng hóa, điều hoà cung cầu, ổn định giá cả.
Thứ ba, tái cấu trúc về doanh nghiệp: Đẩy nhanh tiến trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước, đẩy mạnh cổ phần hoá và cải cách các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Phát triển mạnh kinh tế dân doanh, mỗi doanh nghiệp phải tự tái cấu trúc để thích ứng với sự thay đổi về công nghệ và thị trường nhằm tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả. Các tập đoàn và tổng công ty nhà nước cần tập trung vào một số lĩnh vực chủ yếu của nền kinh tế quốc dân, phải chuyển từ hoạt động đa dạng sang chuyên môn hoá nhằm thực hiện chính sách cơ cấu; đẩy mạnh đổi mới và sáng tạo, nâng cao hiệu quả và tạo lập năng lực cạnh tranh dài hạn để có thể tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Cải cách cơ chế và tổ chức nhằm nâng cao trách nhiệm và hiệu lực hiệu quả quản lý nhà nước và quản lý của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước, đặt doanh nghiệp nhà nước vào môi trường cạnh tranh và quy định các chỉ tiêu chất lượng hoạt động của doanh nghiệp. Thực hiện chế độ kiểm toán bắt buộc và công khai kết quả kiểm toán.
Thứ tư, tái cấu trúc thị trường: Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường nước ngoài, tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu. Tăng cường kiểm tra chất lượng các mặt hàng nhập khẩu, bảo vệ người tiêu dùng và khuyến khích sản xuất trong nước. Coi trọng hơn thị trường nội địa, nhất là thị trường nông thôn. Đẩy mạnh cuộc vận động người Việt Nam dùng hàng Việt Nam; phát triển mạnh hệ thống phân phối của các doanh nghiệp nước ta trên thị trường nội địa để có thể làm chủ thị trường này, tạo cơ sở vươn xa, thâm nhập sâu vào thị trường thế giới, mở rộng thị trường xuất khẩu, khai thác có hiệu quả các thị trường có hiệp định mậu dịch tự do.
Thực hiện các nội dung tái cấu trúc trên đây, về thực chất, chính là thực hiện quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu theo chiều rộng dựa vào tăng vốn đầu tư, khai thác tài nguyên và nguồn lao động chất lượng thấp sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu trên cơ sở áp dụng những thành tựu mới về khoa học, công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao và kỹ năng quản lý hiện đại. Các nhân tố này liên quan chặt chẽ với nhau và tích hợp tác động, có vai trò quyết định trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng năng suất lao động và sức cạnh tranh. Trong đó, khoa học và công nghệ là động lực quyết định; con người đóng vai trò trung tâm, là chủ thể sáng tạo và sử dụng khoa học, công nghệ, thực hiện chức năng quản lý. Có kỹ năng quản lý hiện đại mới phát huy tối đa tác động của hai nhân tố trên.
Thứ năm, nâng cao năng lực quản lý nhà nước, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp: Đẩy mạnh hoàn thiện thể chế quản lý trên nguyên tắc bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân và thúc đẩy hình thành đồng bộ các yếu tố của kinh tế thị trường. Rà soát lại hệ thống phân cấp, bảo đảm tăng cường sự quản lý thống nhất của trung ương về quy hoạch phát triển, khai thác tối đa lợi thế so sánh theo tầm nhìn liên vùng nhằm tiết kiệm nguồn lực và bảo đảm quy mô kinh tế; đồng thời, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo và tinh thần trách nhiệm của địa phương, cơ sở. Chính sách vĩ mô phải chuyển những thông điệp rõ ràng nhằm tạo niềm tin cho thị trường và định hướng cho sản xuất kinh doanh; phải theo sát sự vận động của kinh tế thế giới và trong nước; nâng cao năng lực dự báo, chủ động, nhạy bén trong phản ứng chính sách; linh hoạt sử dụng phù hợp các công cụ của chính sách tiền tệ theo nguyên tắc thị trường, hạn chế sử dụng các biện pháp hành chính khi không thực sự cần thiết; nâng cao hiệu quả bình ổn và điều hòa nguồn vốn giữa các tổ chức tín dụng của thị trường liên ngân hàng; kết hợp chặt chẽ chính sách tài khoá với chính sách tiền tệ để ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát. Tăng cường giám sát hoạt động của các tổ chức tín dụng, các công ty chứng khoán, các quỹ đầu tư, bảo đảm kinh doanh trung thực, tuân thủ các tiêu chuẩn an toàn. Tập trung hoàn thiện thể chế, tạo lập thị trường đất đai lành mạnh trên nguyên tắc đất đai là công thổ quốc gia và là tư liệu sản xuất chủ yếu của nông dân. Nhà nước và người giao lại quyền sử dụng đất phải là những đối tượng được hưởng lợi chủ yếu từ việc chuyển giao quyền sử dụng đất. Đây là nguyên tắc cơ bản để hình thành chính sách và thị trường đất đai. Hoàn thiện cơ chế quản lý nhằm thúc đẩy dịch vụ tài chính và kinh doanh bất động sản phát triển lành mạnh. Khẩn trương hoàn chỉnh cơ chế, chính sách phát triển và tổ chức quản lý công nghiệp hỗ trợ. Phát triển các dịch vụ hỗ trợ khởi nghiệp. Phát triển nhanh thị trường công nghệ. Ban hành các chính sách khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng và đổi mới công nghệ nhằm thúc đẩy quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
Cùng với những nhiệm vụ nêu trên, phải luôn coi trọng và thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đối ngoại, tạo môi trường hoà bình ổn định để phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia; Xây dựng và triển khai có hiệu quả Chiến lược an sinh xã hội 2011 - 2020, Chương trình giảm nghèo bền vững và chương trình việc làm giai đoạn 2011 - 2015; phấn đấu để năm 2011 tỷ lệ hộ nghèo giảm 2% theo chuẩn mới; phát triển các loại hình bảo hiểm, mở rộng mạng lưới an sinh xã hội. Hoàn thiện chính sách khám chữa bệnh, chính sách viện phí. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng các bệnh viện từ nguồn vốn Nhà nước, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng bệnh viện; tăng cường đưa bác sỹ về các bệnh viện tuyến huyện và các xã, bảo đảm sự đồng bộ giữa cơ sở vật chất, trang thiết bị với đội ngũ thầy thuốc sử dụng các trang thiết bị, cải thiện chất lượng khám chữa bệnh ở các bệnh viện tuyến dưới, giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên. Tăng cường quản lý nhà nước về thuốc chữa bệnh, về bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm. Thực hiện các giải pháp đồng bộ để nâng cao chất lượng giáo dục; tiếp tục thực hiện các đề án về giáo dục đào tạo đã được phê duyệt; coi trọng chất lượng giáo dục phổ thông trên cả hai nội dung dạy chữ và rèn luyện nhân cách, dạy làm người. Trên cơ sở bảo đảm đội ngũ giáo viên, điều kiện dạy và học để mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục đại học và cao đẳng; triển khai xây dựng một số trường đại học chất lượng cao theo chương trình hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế. Phát triển mạnh đào tạo nghề với số lượng và cơ cấu phù hợp với nhu cầu thị trường, chú trọng đào tạo nghề cho công nghiệp hỗ trợ. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả thiết thực, hướng mạnh vào xây dựng văn hóa trong ứng xử, bài trừ các hủ tục mê tín dị đoan, làm cho văn hóa thấm sâu vào hành vi và nếp sống của mỗi người Việt Nam. Làm tốt công tác tuyên truyền để nâng cao ý thức của người dân và doanh nghiệp trong việc bảo vệ môi trường. Tăng cường kiểm tra, thanh tra và xử lý nghiêm những vi phạm pháp luật. Triển khai Chương trình mục tiêu và Kế hoạch hành động quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng, các chương trình nâng cấp đê biển, đê sông, các giải pháp chống ngập úng cho các thành phố lớn; ứng phó có hiệu quả với thiên tai bão lũ. Đề cao trách nhiệm của các tổ chức Đảng và chính quyền các cấp; phát huy vai trò của Mặt trận, các đoàn thể, nhân dân và báo chí trong cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí. Thực hiện có hiệu quả các chương trình phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội; bảo đảm trật tự an toàn giao thông.../.

TS. Nguyễn Minh Phong - Viện nghiên cứu phát triển kinh tế xã hội Hà Nội

Nguồn: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ