Thứ Hai, 24 tháng 1, 2011

NĂM CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH TƯ PHÁP THÀNH CÔNG

Hiện nay, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự đã được Quốc hội cho ý kiến lần thứ nhất tại Kỳ họp thứ 8 và dự kiến thông qua vào Kỳ họp thứ 9, có hai vấn đề lớn được đưa vào trong Dự thảo Luật : (1) Mở rộng sự tham gia của Viện Kiểm sát nhân dân vào 100% các  vụ việc dân sự (Khoản 2 Điều 1 Dự thảo 4); (2) Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có quyền xem xét lại các quyết định của chính mình (Khoản 51, 52 Điều 1 Dự thảo 4). Đây là thách thức lớn trong xây dựng thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam và là bước lùi trong thực hiện Chiến lược cải cách Tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 02/6/2005. Civillawinfor xin trích đăng lại bài viết của PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa về năm chủ trương cải cách tư pháp đã được trang Thông tin pháp luật dân sự đăng ngày 12/05/2008 để các bạn cùng tham khảo.
Mục đích, các tiêu chí cải cách hệ thống tòa án theo Nghị quyết 49 đã khá rõ ràng, theo thiển ý của riêng tôi, vấn đề hiện nay chủ yếu là ý chí chính trị của những người giữ quyền điều hành đất nước.
Ở địa phương, chánh án các tòa án thường có một vị trí xã hội khá khiêm tốn so với giám đốc các sở, ban ngành cùng cấp. Ở trung ương, tòa án chưa thực sự có điều kiện để trở thành một cơ quan quyền lực, góp phần xác lập chính sách một cách đáng kể ở nước ta.
Nếu tòa án tiếp tục thiếu tin cậy thì người dân sẽ tìm đến các phương pháp giải quyết tranh chấp ngoài tòa, công lý không được xác lập thì nguy cơ bất ổn tăng nhanh-hàng nghìn vụ đình công bất hợp pháp từ Nam ra Bắc, đòi nợ thuế, xiết nợ kiểu xã hội đen là một minh chứng cho nhận định này. Thêm nữa, khi người nước ngoài làm ăn tại Việt Nam, tranh chấp sẽ được đưa ra ngoài lãnh thổ nước ta để giải quyết, các trọng tài Singapore hay Hồng Kông sẽ thay thế tòa án Việt Nam trong việc xác lập trật tự kinh doanh ngay ở chính nước ta. Ngoài ra, tư pháp non yếu thì hành pháp lạm quyền, quan chức có nhiều cơ hội lạm dụng quyền lực công mà không bị truy hỏi về trách nhiệm chính trị cũng như pháp lý trước người dân.
Lựa chọn thành công theo gương những người hàng xóm Đông Á, chúng ta cần một nhà nước thượng tôn pháp luật. Nhà nước ấy cần cương tỏa quyền lực của hành chính, đặt Chính phủ, công an, quân đội, ngân hàng quốc doanh và tất cả mọi thiết chế quyền lực khác dưới sự giám sát của pháp luật, của tòa án. Khái niệm ấy người ta gọi là giám sát tư pháp đối với cơ quan công quyền.

Từ chối cải cách theo chiều sâu, lãng mạn phát triển theo “đặc thù riêng của đất nước chúng ta”- cái đặc thù ấy là những nhóm lợi ích ngày càng lớn mạnh đã chia sẻ ngày càng công khai các nguồn tài nguyên quốc gia-từ ruộng đất của nông dân tới các nguồn khoáng sản, bờ biển, rừng núi và sóng truyền thông. Người có tiền thường có năng lực chi phối chính sách kinh tế rất mạnh, chúng ta mau chóng sẽ có những chính thể sốt sắng vì quyền lợi của người giàu và có thế lực. Những người đang nắm chính quyền ở nước ta không tôn thờ một chủ nghĩa tư bản mang tính cướp bóc ấy.
Vậy thì, dù gọi là tôn dân-nhà nước của dân, hay tôn chủ nghĩa xã hội, tăng quyền cho các tòa án giám sát chính quyền sẽ là một hướng đi trúng. Muốn cho tòa án mạnh, mạnh trong tương quan với các cơ quan của Đảng, của chính quyền, của các tập đoàn kinh tế đầy sức mạnh, thì phải làm cho các cơ quan tư pháp độc lập, không khuất phục trước các thế mạnh cản trở công lý.
Năm chủ trương cụ thể
Muốn cho tòa án mạnh, mạnh trong tương quan với các cơ quan của Đảng, của chính quyền, của các tập đoàn kinh tế đầy sức mạnh, thì phải làm cho các cơ quan tư pháp độc lập, không khuất phục trước các thế mạnh cản trở công lý.
Muốn cho tòa án mạnh, thì các thẩm phán phải độc lập. Vậy nên, cải cách tư pháp, nếu muốn thực sự thành công và giúp dân chúng kiểm soát Chính phủ, phải hướng tới các chủ trương cụ thể như sau:
-  Thứ nhất, các thẩm phán phải được bổ nhiệm suốt đời, hoặc chí ít theo những nhiệm kỳ dài, ví dụ 12 năm, vênh với nhiệm kỳ của cơ quan hành pháp. Sau khi được bổ nhiệm, thẩm phán không bị thay đổi nơi trị nhiệm. Làm như vậy, các thẩm phán sẽ bớt sợ hãi hơn trước các cuộc tái bầu cử hay bổ nhiệm (cứ 5 năm một lần như hiện nay).
- Thứ hai, quỹ lương, ngân sách hoạt động của các tòa phải không lệ thuộc vào ngân sách địa phương. Ngạch tư pháp phải hạch toán, phân bổ ngân sách riêng từ trung ương, lãnh đạo các địa phương tuyệt nhiên không nên có ảnh hưởng gì tới chi tiêu của các tòa án. Thêm nữa, lương của thẩm phán cũng phải đủ nuôi họ và gia đình một cách tương đối đàng hoàng (theo thời giá hiện nay lương cho thẩm phán tòa phúc thẩm khoảng 10 triệu đồng/tháng là mức khiêm tốn cần trông đợi).
- Thứ ba, đã đến lúc phải từng bước thay mô hình “các con búp-bê ma-trutsch-ka” hiện nay, theo đó mỗi địa phương là một nhà nước nho nhỏ với đủ các cơ quan cảnh sát, quân đội, tòa án. Thành lập các tòa sơ thẩm theo khu vực, không tuân theo địa giới hành chính; thành lập các tòa phúc thẩm khu vực; những điều này kết hợp với sự tự do về ngân sách, sẽ làm cho tòa án ngày càng độc lập với chính quyền các tỉnh.
Đây là một đường lối đã được thông qua tại Nghị quyết số 49 về cải cách tư pháp của Bộ Chính trị, song sức cản chủ yếu nằm ở quan chức địa phương. Những quan tòa soi mói và không dễ khuất phục chưa chắc đã là điều mà lãnh đạo các tỉnh mong muốn hiện nay.
- Thứ tư, thẩm phán không nên chỉ là công nhân xử án, chỉ quen các thao tác tuân theo những hướng dẫn đã có sẵn. Bảo đảm cho họ mọi sự độc lập và tự do khi tuyên xử, và phải có những sự chuẩn bị cho cả xã hội về một vị thế mới của người thẩm phán. Họ nên là những nhân cách được dân chúng tin tưởng và kính mến trước hết về mặt đạo đức, về cảm nhận công lý, về bảo vệ niềm tin. Muốn vậy, nên nghiên cứu rất kỹ cách người Nhật, người Hàn đang cải cách nền tư pháp hiện nay. Theo thiển ý của tôi, không nên thu nạp thẩm phán từ các nhân viên thư ký tòa như hiện nay, mà nên bổ nhiệm họ trong số những luật sư đã hành nghề có uy tín nhiều năm.
- Thứ năm, nền tư pháp chỉ có thể được cải cách, nếu bắt đầu từ nền đào tạo luật học. Cũng như y khoa chữa bệnh cho người, người học luật nên có kinh nghiệm sống, chí ít là nên đã có một bằng cử nhân. Không có kinh nghiệm sống đa dạng thì làm sao phán xử được về sự đời. Các luật sư phải là người đã có một bằng đại học, học thêm 3-4 năm nữa để hành nghề luật. Vì thế luật học không nên đào tạo ở bậc đại học, mà chỉ nên đào tạo ở bậc sau đại học- hiểu theo nghĩa đã có một bằng đại học trước đó. Thêm nữa, dạy luật không chỉ là lý thuyết, mà nên dạy nghề. Người học phải trải qua các tín chỉ được thực hiện ở các văn phòng luật sư, các cơ quan nhà nước hay tòa án. Đây là một vấn đề rất mấu chốt, vì tòa án sẽ tốt lên đáng kể nếu các luật sư được tranh tụng công khai ngày càng giỏi và dám thách thức quan tòa.
Việc từng bước giảm bớt hội đồng nhân dân cấp huyện, tách các tòa án huyện ra khỏi cơ cấu hành chính để thành lập các tòa sơ cấp theo khu vực là điều có thể làm được trong vòng vài năm tới. Nếu làm được như vậy, chúng ta đang khám phá ra quá khứ, bởi một hệ thống tòa án từ sơ cấp- tòa phúc thẩm khu vực, tòa phá án tách rời với địa giới các tỉnh đã từng tồn tại ở Miền Bắc Việt Nam cho tới những năm 1953… chúng chỉ bị thay thế bởi các tòa án nhân dân sau Chiến dịch biên giới Việt Trung. Đọc Hiến pháp năm 1946 người ta vẫn còn thấy nguyên hình hài của chúng.
(Nguồn: TẠP CHÍ TIA SÁNG ĐIỆN TỬ)

Thứ Năm, 20 tháng 1, 2011

XU THẾ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LUẬT HỢP ĐỒNG TRUNG QUỐC

Việc ban hành Luật hợp đồng của Trung Quốc tháng 3 năm 2009 đã đánh dấu sự ra đời của hệ thống pháp luật hợp đồng Trung Quốc đương đại. Thực tiễn 10 năm qua cho thấy việc thi hành Luật hợp đồng đã góp phần xây dựng tểh chế kinh tế thị trường của Trung Quốc. Ngược lại, sự phát triển và thay đổi về kinh tế xã hội, khoa học kĩ thuật của Trung Quốc cũng ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển của pháp luật hợp đồng Trung Quốc.
Xu thế phát triển của pháp luật hợp đồng Trung Quốc đương đại chịu những ảnh hưởng lớn sau:
Một là thách thức của toàn cầu hóa: trong thế kỷ XX vừa qua, đặc biệt là sau khi kết thúc chiến tranh lạnh, thị trường thế giới dần được hình thành, nền kinh tế cũng phát triển nhanh chóng theo xu hướng toàn cầu hóa. Điều đó làm cho nguồn vốn lưu thông trên toàn cầu ngày càng tăng, hiệu ích tiền tệ và những nguy cơ cũng ngày càng tăng. Do ảnh hưởng của toàn cầu hóa, pháp luật hợp đồng với vai trò là quy tắc giao dịch chung cũng không ngừng được quốc tế hóa.
Hai là thách thức của sự phát triển kinh tế thị trường đối với pháp luật hợp đồng: Trong xã hội hiện đại, khi cơ cấu kinh tế xã hội phát sinh những biến động lớn, các tổ chức xã hội “phình to” chưa từng có, lũng đoạn gia tăng, sản xuất xã hội và tiêu dùng đều ở quy mô lớn, lĩnh vực sự nghiệp công phát triển nhanh chóng, vấn đề bảo hộ cho người lao động và người tiêu dùng ngày càng trở nên nóng bỏng rõ rệt. Do sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường, sự bình đẳng thực chất của quá trình giao dịch giữa các chủ thể dân sự trở thành vấn đề quan trọng. Điều đó có nghĩa là bên cạnh các doanh nghiệp có quy mô lớn với thực lực hùng hậu như các tập đoàn đa quốc gia là quảng đại người tiêu dùng ngày càng đông hơn, cho dù khi họ thành lập hợp đồng về hình thức là bình đẳng với nhau nhưng thực chất thì năng lực đàm phán không bình đẳng. Để tăng cường sự an toàn cho giao dịch và duy trì công bằng của Luật hợp đồng, đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng, xu thế phát triển quan trọng của Luật hợp đồng chính là tăng cường quản lí tự do của hợp đồng. Điều này biểu hiện chủ yếu ở việc hợp đồng ngày nay đã vận dụng các nguyên tắc về sự trung thực và chân thành, cho phép quan tòa can thiệp vào quan hệ hợp đồng. Điều đó đã ảnh hưởng mạnh tới lí luận trọng tâm của hợp đồng truyền thống về sự tự quyết định của các đương sự.

Nguồn: TẠP CHÍ LUẬT HỌC SỐ 11/2009

BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI: MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH NHÌN TỪ GÓC ĐỘ PHÁP LÝ ĐẾN THỰC TIỄN

Về bản chất, bảo đảm tiền vay chỉ là một trong những biện pháp để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ đối với hợp đồng chính, nó không phải là điều kiện bắt buộc, dù có các biện pháp này hay không đều không ảnh hưởng đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của các bên, bên có nghĩa vụ vẫn phải nghiêm túc thực hiện nghĩa vụ và chịu các biện pháp xử lý về tài sản nếu vi phạm (phong tỏa tài khoản, niêm phong tài sản, bị các cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác để đảm bảo trả nợ, …). Tuy nhiên, để đồng thời đạt được hai mục đích: Phát triển thị trường, khách hàng và bảo đảm an toàn đối với các khoản cho vay, thì việc áp dụng các biện pháp này được xem như công cụ hiệu quả và an toàn đối với các ngân hàng.
Hiện nay, mỗi ngân hàng thương mại hầu như đã xây dựng quy định về các biện pháp bảo đảm tiền vay để áp dụng thống nhất trong toàn hệ thống. Tuy nhiên, trên thực tế, ngay cả các “ông lớn” trong lĩnh vực ngân hàng cũng đã gặp không ít khó khăn, vướng mắc liên quan đến việc xử lý, định giá tài sản bảo đảm dẫn đến việc đưa khoản tín dụng của mình lâm vào tình trạng nợ xấu, nợ khó đòi khi những giao dịch bảo đảm không phát huy giá trị theo đúng nghĩa.
Hệ thống pháp luật nước ta quy định khá cụ thể về các giao dịch bảo đảm, từ Bộ luật Dân sự 2005 đến các văn bản hướng dẫn của Chính phủ, Bộ, ngành liên quan. Điều này xuất phát từ nhu cầu thực tế nhằm tạo ra một hành lang pháp lý bình ổn cho các bên. Song, điều đó không đồng nghĩa với việc, tất cả các hoạt động cấp tín dụng không có điều kiện bảo đảm là trái luật, vì pháp luật dân sự tôn trọng tối đa sự thỏa thuận và quyền tự định đoạt của các bên, luật quy định về các hình thức bảo đảm nhưng không cấm việc giao kết tín dụng không có bảo đảm. Do vậy, khi xem xét có lựa chọn các biện pháp bảo đảm hay không, các bên cần nghiên cứu đồng thời các quy định của pháp luật và Điều lệ cũng như quy định quản lý nội bộ của ngân hàng, vì nếu các quy định của Điều lệ không vi phạm vào điều cấm của pháp luật[1], các bên buộc phải có nghĩa vụ tuân thủ, mà trong trường hợp này, pháp luật không cấm các ngân hàng đề ra các biện pháp bảo đảm tiền vay, vì vậy, nếu quy định nội bộ của ngân hàng yêu cầu bắt buộc phải áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay, thì cán bộ ngân hàng sẽ vi phạm pháp luật nếu cho vay không có bảo đảm.
Tuy nhiên, pháp luật cũng quy định một số trường hợp cụ thể cho vay không cần có bảo đảm, tôi xin đơn cử một số quy định sau:

1. Một số trường hợp cho vay không cần có bảo đảm theo quy định của pháp luật
a) Nghị định 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ. Quy định về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn trong đó quy định cụ thể về mức cho vay tối đa trong trường hợp cho vay không có bảo đảm đối với cá nhân, tổ chức:
- Tối đa đến 50 triệu đồng đối với đối tượng là các cá nhân, hộ sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp;
- Tối đa đến 200 triệu đồng đối với các hộ kinh doanh, sản xuất ngành nghề hoặc làm dịch vụ phục vụ nông nghiệp, nông thôn;
- Tối đa đến 500 triệu đồng đối với đối tượng là các hợp tác xã, chủ trang trại.
- Tổ chức tín dụng xem xét cho vay tín chấp đối với các đối tượng khách hàng là cá nhân, hộ gia đình trên cơ sở có bảo đảm của các tổ chức chính trị – xã hội ở nông thôn theo quy định hiện hành. Tổ chức chính trị – xã hội phối hợp và được thực hiện toàn bộ hoặc một số khâu của nghiệp vụ tín dụng sau khi đã thỏa thuận với tổ chức tín dụng cho vay[2].
b) Quyết định số 92/2009/QĐ-TTg ngày 8/7/2009 của Thủ tướng Chính phủ: Quy định về tín dụng đối với thương nhân hoạt động thương mại tại vùng khó khăn, theo đó mức cho vay tối đa không có bảo đảm tiền vay được Thủ tướng Chính phủ như sau:
- Thương nhân vay vốn đến 30 triệu đồng không phải thực hiện bảo đảm tiền vay.
- Thương nhân vay vốn trên 30 triệu đồng phải thực hiện bảo đảm tiền vay theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm và hướng dẫn của Ngân hàng Chính sách xã hội[3].
Các văn bản quy định về mức trần cho vay không cần có bảo đảm nêu trên là một chính sách ưu đãi và hỗ trợ tín dụng của Nhà nước đối với một số đối tượng kinh doanh trong những ngành nghề, lĩnh vực nhà nước khuyến khích phát triển như nông, lâm, ngư nghiệp, vùng sâu, vùng xa hoặc vùng kinh tế khó khăn, quy định này nhằm đảm bảo tối đa quyền lợi của các cá nhân, tổ chức để phát triển sản xuất kinh doanh nếu họ chứng minh được mình thuộc diện ưu đãi vay vốn theo quy định của pháp luật.
2. Các biện pháp bảo đảm tiền vay trong tín dụng ngân hàng
Với bản chất là một tổ chức đặc thù có chức năng kinh doanh tiền tệ, ngân hàng thương mại thực hiện hoạt động kinh doanh của mình thông qua các quan hệ tín dụng, từ các quan hệ này, mối quan hệ giữa ngân hàng với các tổ chức, cá nhân được thiết lập và phát triển, gắn ngân hàng gần với các hoạt động sản xuất kinh doanh trong xã hội. Tuy nhiên, nếu không có những thiết chế cơ bản để bảo đảm các khoản tiền đi vay và cho vay hiệu quả, ngân hàng sẽ tự đặt mình trước những rủi ro khó lường đối với một loại hàng hóa vốn dĩ đã chứa đựng rất nhiều rủi ro, đó là “tiền tệ”. Lúc này, những thiết chế cơ bản về các biện pháp bảo đảm trong Bộ luật Dân sự 2005 sẽ được ngân hàng lựa chọn. Nhưng trong số 7 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh, tín chấp thì các biện pháp: cầm cố, thế chấp và bão lãnh được ngân hàng sử dụng nhiều hơn cả. Nghị định 178/1999NĐ-CP ngày 29/12/1999 của Chính phủ về bảo đảm tiền tiền vay của các tổ chức tín dụng cũng tập trung hướng dẫn về 3 biện pháp trên. Trong bài viết này, tác giả tập trung phân tích vào 2 biện pháp bảo đảm: cầm cố và thế chấp.
2.1. Tại sao ngân hàng hoặc khách hàng không sử dụng biện pháp đặt cọc, ký cược và ký quỹ để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự?
Theo quan điểm của tác giả là do một số nguyên nhân sau:
Đặt cọc: Xét trên phương diện lý luận, đặt cọc chủ yếu được hiểu như một biện pháp đảm bảo cho việc ký kết hợp đồng, sau khi hợp đồng được ký kết, khoản đặt cọc này sẽ được trả lại hoặc được trừ vào nghĩa vụ thanh toán của bên đặt cọc. Ngược lại, nếu hợp đồng không được giao kết, bên có lỗi sẽ phải chịu một khoản phạt cọc theo quy định của pháp luật và/ hoặc theo thỏa thuận của các bên. Xét trên phương diện thực tiễn, bản chất của quan hệ tín dụng là bảo đảm tiền vay và tài sản bảo đảm ít nhất phải tương đương với giá trị của khoản tiền cho vay (trừ trường hợp ngoại lệ), mà biện pháp đặt cọc thông thường sẽ nhỏ hơn nhiều so với giá trị hợp đồng (nhằm để đảm bảo việc giao kết hoặc trừ vào nghĩa vụ thanh toán) nên nếu lựa chọn biện pháp này, ngân hàng sẽ đưa mình vào thế rủi ro đối với khoản tín dụng của mình. Đặt cọc thường được sử dụng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa, còn đối với hợp đồng tín dụng – ngân hàng cho vay với người đi vay, thì ai sẽ là bên đặt cọc? Ngân hàng chắc chắn sẽ không bao giờ đưa cho khách hàng một khoản đặt cọc để bảo đảm hợp đồng vay. Còn khách hàng có lẽ sẽ rất ưa thích biện pháp này vì như vậy, họ sẽ nắm đằng chuôi, vừa “ép” được ngân hàng về việc giao kết hợp đồng và vừa phải bảo đảm khoản vay bằng một tài sản có giá trị thấp hơn rất nhiều so với giá trị hợp đồng. Do vậy, đặt cọc là một biện pháp có quá nhiều bất lợi cho ngân hàng nên xét trên phương diện thực tế, ngân hàng sẽ không lựa chọn hình thức này để đảm bảo cho việc giao kết hoặc thực hiện hợp đồng tín dụng, dù trên phương diện lý luận, pháp luật không cấm.
Ký cược: Là biện pháp bảo đảm cho hợp đồng thuê tài sản, theo đó bên thuê sẽ giao cho bên cho thuê một tài sản là động sản để đảm bảo cho việc trả lại tài sản thuê. Tín dụng bản chất là một hợp đồng vay, không phải hợp đồng thuê tài sản nên việc áp dụng ký cược trong hợp đồng sẽ không phù hợp.
Ký quỹ: Tài sản ký quỹ theo quy định tại Điều 361 Bộ luật Dân sự 2005 “Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quí, đá quí hoặc giấy tờ có giá khác vào tài khoản phong tỏa tại một ngân hàng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự”, như vậy, các tài sản để ký quỹ, về bản chất, đều là tiền hoặc các giấy tờ có giá trị như tiền, nếu gửi “tiền” vào một tài khoản phong tỏa của ngân hàng để đảm bảo cho một hợp đồng “vay tiền” khác thì có lẽ không hợp với logic, vì nếu khách hàng đã có tiền thì không có lý gì mang tiền đó đi ký cược để đảm bảo cho một hợp đồng vay tiền khác và phải chịu thêm một khoản lãi. Do vậy, trên thực tế, khách hàng sẽ không lựa chọn biện pháp bảo đảm trên trong hợp đồng tín dụng.
Về các biện pháp cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, tùy từng trường hợp, ngân hàng sẽ ký với khách hàng các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phù hợp, trong phạm vi bài viết, tôi chỉ xin được phân tích bản chất pháp lý và một số vướng mắc xung quanh việc áp dụng biện pháp trên.
2.2. Việc áp dụng các biện pháp bảo đảm cầm cố và thế chấp, những quy định pháp luật và một số vướng mắc hiện nay.
a) Cầm cố:
Cầm cố tài sản là việc bên cầm cố giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên nhận cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự[4], sau khi nhận chuyển giao tài sản cầm cố, bên nhận cầm cố có thể ủy quyền cho người thứ 3 giữ tài sản nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm trước bên cầm cố về việc thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 332 – Bộ luật Dân sự 2005[5].
Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản[6]. Sự phát triển kinh tế – xã hội và đa dạng hóa các loại hình tài sản hiện nay đã khiến cho phương pháp liệt kê thông thường về tài sản tại Thông tư 06/2000/TT-NHNN1 ngày 4/4/2000 không còn phù hợp. Tài sản gồm nhiều loại: Động sản, bất động sản, giấy tờ có giá và các quyền tài sản là các quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ, quyền đối với giống cây trồng, vật nuôi, quyền đòi nợ[7],…
Việc cầm cố tài sản phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính. Cầm cố tài sản có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản cho bên nhận cầm cố. Thời hạn cầm cố tài sản do các bên thoả thuận. Trong trường hợp không có thoả thuận thì thời hạn cầm cố được tính cho đến khi chấm dứt nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố.
Khi áp dụng biện pháp bảo đảm này, có một vấn đề nảy sinh đó là vấn đề định giá và xác định giá trị hao mòn của tài sản. Về giá tài sản, căn cứ theo các quy định của pháp luật về giá và Bộ luật Dân sự 2005, giá là do các bên thỏa thuận (trừ những trường hợp thuộc diện Nhà nước quản lý về giá), do vậy, thông thường việc định giá tài sản bảo đảm xác định theo những yếu tố cơ bản sau: Thỏa thuận của các bên (có tính đến yếu tố thị trường) và giá trị hao mòn (hữu hình và vô hình) của tài sản. Tuy nhiên, đối với việc cầm cố một số loại tài sản có những biến động lớn về giá như hiện nay (ngoại tệ, vàng, kim khí quý, đá quý) thì sẽ có vấn đề nảy sinh. Ví dụ, khi cầm cố 100 cây vàng vào thời điểm đầu năm 2010, anh A chỉ có thể thỏa thuận được với ngân hàng vay tối đa 2 tỷ, nhưng đến cuối năm 2010, thì con số đó có thể lên tới 3 tỷ. Vấn đề là ngân hàng có xem xét cho anh A vay thêm 1 tỷ nữa hay không khi con số 2 tỷ chưa đến hạn trả nợ. Điều này tùy thuộc vào quy định của ngân hàng và thỏa thuận của các bên. Đơn cử quy định của Ngân hàng Nam Á “đối với tài sản đảm bảo là vàng bạc, đá quý, các giấy tờ có giá: Mức cho vay tối đa do các đơn vị tự thỏa thuận với khách hàng với điều kiện đảm bảo an toàn tín dụng”. Như vậy, nếu anh A có quan hệ tín dụng với ngân hàng Nam Á thì có lẽ với tài sản bảo đảm là 100 cây vàng, rất có thể ngân hàng sẽ xem xét cho anh A vay tiếp 1 tỷ nữa, vì trong trường hợp này, pháp luật không cấm. Tuy nhiên, nếu trong trường hợp tài sản là động sản, cũng theo quy định của ngân hàng Nam Á, anh A chỉ có thể vay tối đa 60% giá trị tài sản bảo đảm.
Tuy nhiên, cầm cố chỉ áp dụng với một số khoản tín dụng có giá trị nhỏ, còn với khoản vay lớn các bên thường lựa chọn biện pháp bảo đảm thế chấp tài sản.
b) Thế chấp
Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, đây là biện pháp được sử dụng phổ biến hơn cả.
Thế chấp tài sản là việc bên thế chấp dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận thế chấp và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp[8].
Nếu như các quy định trước khi Bộ luật Dân sự 2005 ra đời phân biệt cầm cố và thế chấp dựa trên loại tài sản (thường phân loại thành động sản hay bất động sản) thì theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005, việc phân biệt hai biện pháp này phụ thuộc vào việc tài sản được bảo đảm do bên nào giữ. Nếu tài sản được chuyển giao cho bên nhận bảo đảm, đó là cầm cố. Nếu tài sản do bên bảo đảm giữ và bên nhận bảo đảm giữ các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản hoặc quyền sử dụng (đối với đất đai), đó là thế chấp. Như vậy, nếu hiểu theo đúng các quy định của Bộ luật Dân sự 2005, thì ngay cả đối với bất động sản, ngân hàng hoàn toàn có thể yêu cầu áp dụng biện pháp cầm cố nếu ngân hàng thỏa thuận được với khách hàng và có khả năng cầm giữ tài sản đó.
Nhà và quyền sử dụng đất, cầm cố hay thế chấp? Theo quy định tại Điều 12, Điều 22 – Nghị định 163/2006/NĐ-CP của Chính phủ và Điều 3 – Nghị định 83/2010/NĐ-CP của Chính phủ, đối với một số quyền tài sản hoặc bất động sản như quyền sử dụng đất, sử dụng rừng, tàu biển, quyền đòi nợ sẽ được áp dụng biện pháp bảo đảm là thế chấp. Vậy câu hỏi đặt ra là, các tài sản này có thể áp dụng biện pháp bảo đảm cầm cố có được không?
Ví dụ, doanh nghiệp A muốn vay vốn dài hạn (5 năm) của ngân hàng X bằng việc thế chấp nhà và quyền sử dụng đất có vị trí rất đẹp ngay giữa trung tâm thành phố, ngân hàng X lại đang có nhu cầu mở thêm chi nhánh và muốn doanh nghiệp A cầm cố tài sản đó cho ngân hàng, theo đó tiền hoa lợi, lợi tức của nhà và đất sẽ được xác định đúng bằng giá thuê theo giá thị trường. Trường hợp này sẽ có hai quan điểm:
(i) Doanh nghiệp A thế chấp nhà đất cho ngân hàng X và hai bên sẽ tiến hành ký hợp đồng thuê nhà – chính là tài sản được thế chấp. Theo quan điểm này, vì nhà đất là tài sản không thể chuyển dịch nên không thể cầm cố được và hiện nay khung pháp lý quy định về thế chấp nhà, đất quy định rất cụ thể, rõ ràng.
(ii) Doanh nghiệp A và ngân hàng thỏa thuận cầm cố nhà đất (nhà đất giao cho ngân hàng giữ) với thỏa thuận hoa lợi, lợi tức phát sinh thuộc tài sản của bên thế chấp (hoặc thuộc tài sản thế chấp). Theo quan điểm (ii) thì mặc dù tài sản không thể chuyển dịch được nhưng ngân hàng hoàn toàn có thể cử bộ phận của ngân hàng đến tiếp quản và quản lý, nên vẫn có thể áp dụng biện pháp bảo đảm cầm cố (tuy nhiên, hiện nay khung pháp lý cho việc cầm cố nhà đất pháp luật chưa quy định nên dù có theo quan điểm (ii) thì cũng khó có cơ sở thực hiện).
Trên thực tế, ngay tại các quy định của luật cũng đã có sự điều chỉnh, ví dụ tại điểm c, khoản 1, Điều 12 – Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ quy định “thế chấp tàu bay, tàu biển”, không có quy định cầm cố tàu bay, nhưng sang đến Nghị định 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm quy định “cầm cố tàu bay, thế chấp tàu bay”. Điều này có nghĩa, nếu tài sản có khả năng chuyển giao được sang bên nhận bảo đảm giữ, thì vẫn có thể áp dụng biện pháp cầm cố, như vậy việc cầm cố nhà và quyền sử dụng đất theo quan điểm (ii) không phải không có cơ sở.
b.1. Xác minh giá trị tài sản khi áp dụng biện pháp bảo đảm thế chấp. Những vấn đề nghịch lý.
Định giá tài sản dựa trên yếu tố thỏa thuận là một chế định dân chủ và văn minh của các quy định pháp luật dân sự, vì nó tôn trọng tối đa quyền của đương sự trong quan hệ dân sự, vấn đề là các bên dựa vào quy định đó như thế nào để vận dụng có lợi nhất cho mình. Hiện nay, hầu hết các ngân hàng đều có bộ phận định giá hoặc thuê tổ chức định giá trung lập đối với tài sản có giá trị lớn. Nhưng việc định giá tài sản thế chấp là bất động sản của ngân hàng còn một số bất cập, điển hình là hai trường hợp cụ thể sau:
(i) Định giá quá thấp so với giá thị trường, đặc biệt là trong lĩnh vực bất động sản. Hiện nay, không ít các doanh nghiệp “kêu trời” vì cách định giá tài sản là “quyền sử dụng đất” của ngân hàng, khi định giá để xác định mức cho vay, một số ngân hàng áp dụng nguyên khung giá đất do Nhà nước quy định (thực chất đây là khung giá để Nhà nước tính thuế) thấp hơn rất nhiều so với giá chuyển nhượng trên thị trường. Điều này dẫn đến việc doanh nghiệp được vay vốn quá ít so với mức thực tế họ lẽ ra được hưởng.
(ii) Định giá quá cao hoặc không đúng thực chất đối với tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất. Theo quy định của pháp luật, đất thuê trả tiền hàng năm, hoặc đất mà Nhà nước không thu tiền sử dụng đất sẽ không được chuyển nhượng hoặc thế chấp, nhưng tài sản trên đất vẫn có thể được đem ra thế chấp. Tất nhiên, việc thế chấp tài sản gắn liền với đất trong những trường hợp này sẽ đưa ngân hàng vào thế rủi ro cao nếu không nghiên cứu và dự liệu đầy đủ về các tình huống phát sinh. Vụ việc về thế chấp tài sản là rừng cây lâu năm trên khu đất do Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất giữa Ngân hàng N và doanh nghiệp A hiện vẫn gây nhiều tranh cãi. Vì trong quá trình thế chấp tài sản, Nhà nước có quyết định thu hồi đất theo quy hoạch, ngân hàng lâm vào thế tiến thoái lưỡng nan vì không thể phát mại rừng cây để trừ vào nghĩa vụ thanh toán, vụ việc trên hiện vẫn trong quá trình điều tra xem xét của các cơ quan chức năng.
b.2. Xác minh tư cách chủ sở hữu, tính hợp pháp của giấy tờ đối với tài sản thế chấp. Những vướng mắc chưa có đường gỡ.
Vấn đề đặt ra ở đây, ai là người xác minh, xác minh như thế nào, nếu xác minh sai, ai là người chịu trách nhiệm? Một loạt các sai phạm của cá nhân, cán bộ ngân hàng đến các cơ quan tổ chức khác khiến cho các nhà làm luật và áp dụng luật nao núng đi tìm nút gỡ, vì sai phạm và tổn thất trong ngành Ngân hàng đặc biệt nhạy cảm, nó ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế và gây hoang mang cho doanh nghiệp khi gửi đồng tiền mồ hôi, nước mắt và cả xương máu của mình vào tổ chức này. Về lý, cá nhân nào có lỗi, người đó phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, nhưng thực tế không đơn giản như vậy, vì thực chất rủi ro về kinh tế thường vẫn do ngân hàng gánh chịu.
Để làm sáng tỏ vấn đề trên, tác giả xin lược qua một số vụ án điển hình liên quan đến thế chấp, lừa đảo trong hoạt động ngân hàng gần đây.
Giám đốc công ty TNHH Trần Vũ dùng sổ đỏ giả thế chấp và chiếm đoạt 20 tỷ đồng của 5 ngân hàng, với hành vi trên, Trần Vũ đã bị Công an Đà Nẵng khởi tố về tội lừa đảo[9].
Vụ án Trần Lệ Thủy (sinh năm 1969, nguyên là cán bộ Ngân hàng Đầu tư phát triển Việt Nam BIDV, Chi nhánh Đông Đô) cùng 10 đồng phạm cấu kết làm giả sổ tiết kiệm, gây thất thoát hơn 170 tỷ đồng của BIDV Đông Đô. Trong khoảng thời gian từ năm 2003 đến tháng 4/2008, Trần Lệ Thủy đã lợi dụng nhiệm vụ được giao, cấu kết với người thân trong gia đình, bạn bè và một số cán bộ Ngân hàng Vietcombank chi nhánh Thành Công (Hà Nội) sửa chữa, xác nhận khống số dư trên giấy chứng nhận tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn của Vietcombank Thái Bình và Vietcombank chi nhánh Thành Công, sau đó đem thế chấp tại Quỹ tiết kiệm số 1 Ngân hàng BIDV Thái Bình và BIDV Đông Đô để chiếm đoạt tiền của các Ngân hàng trên. Bằng các thủ đoạn tương tự, từ năm 2003 đến tháng 4/2008, Thủy cùng đồng phạm đã sửa chữa, làm giả, tráo đổi 14 giấy chứng nhận tiền gửi có kỳ hạn, chiếm đoạt của BIDV Thái Bình hơn 29 tỷ đồng. Ngoài ra, Thủy chỉ đạo người thân quen sửa chữa, làm giả 23 giấy chứng nhận tiền gửi, xác nhận khống nhiều giấy tờ có giá trị để làm thủ tục vay hơn 260 tỷ đồng tại BIDV Đông Đô… Sau khi chiếm đoạt được tiền, các bị cáo đã dùng vào việc đầu tư kinh doanh bất động sản, chứng khoán, vàng, tiêu xài cá nhân[10].
Vụ án Mạc Thanh Việt (sinh năm 1970) vào thời điểm 1998 – 2001 được bầu làm Tổ trưởng tổ vay vốn của ấp Láng Cùng để quan hệ với Ngân hàng Công thương và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vay tiền phục vụ sản xuất, xóa đói giảm nghèo. Việt đã dùng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) của người dân để vay tiền bỏ túi riêng rồi trả lời với chủ hộ là vay không được. Chưa hết, Việt đã đánh cắp, mua và cả xin GCNQSDĐ của người khác, đem đi sửa hoặc đến cơ sở in lụa để in nâng diện tích đất trên giấy lên cao gấp nhiều lần và đem đến “người quen” là các cán bộ của xã Lương Thế Trân (cũ) để được ký chứng nhận, xác nhận các thủ tục giấy tờ cần thiết để vay tiền. Việt còn móc ngoặc với các “tay trong” là cán bộ ngân hàng để hồ sơ vay tiền khống, hồ sơ giả được “qua ải” trôi chảy mà không cần phải có bước kiểm tra, thẩm định. Khi các thủ tục đã xong, cuối cùng Việt thuê người đến ngân hàng ký vào các chứng từ để nhận tiền vay. Vụ việc diễn ra êm đến mức rất nhiều hộ dân tại xã Lương Thế Trân không hay rằng GCNQSDĐ của mình đã nằm trong ngân hàng, mãi cho đến khi cán bộ địa chính mang giấy nợ đến nhà thì mới “tá hỏa”.[11]
Như vậy, các quy định của pháp luật hay tổ chức tín dụng dù có chặt chẽ đến đâu, nhưng những người có trình độ thẩm định tính hợp pháp của giấy tờ và cán bộ ngân hàng nếu không làm đúng chức năng, nhiệm vụ và tư lợi cá nhân thì sai phạm và thất thoát tất yếu sẽ xảy ra, do vậy, kiện toàn quy định pháp luật phải đồng nghĩa với việc kiện toàn nhân lực, xây dựng quy chế quy định về trình độ và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ ngân hàng để giảm thiểu tối đa những vụ án nghiêm trọng như đã xảy ra trong thời gian gần đây. Các biện pháp bảo đảm thực chất là để ràng buộc nghĩa vụ giữa các bên, nhưng nếu được áp dụng và hiểu không đúng bản chất thì đôi khi nó lại trở thành công cụ để một số đối tượng lạm dụng để trục lợi.

Chú thích:
[1] Khoản 16 – Điều 22 Luật Doanh nghiệp 2005; Khoản 1 – Điều 31 Luật các Tổ chức tín dụng 2010
[2] Điều 8 – Nghị định 41/ 2010/ NĐ – CP ngaây 12/ 4/ 2010
[3] Điều 12 – Quyết định số 92/ 2009/ QĐ – TTg ngày 8/ 7/ 2009
[4] Điều 326 – Bộ luật Dân sự 2005
[5] Điều 16 – Nghị định 163/ 2006/ NĐ – CP ngày 29/ 12/ 2006
[6] Điều 163 – Bộ Luật Dân sự 2005
[7] Điều 22 – Nghị định 163/ 2006/ NĐ – CP ngày 19/ 12/ 2006
[8] Điều 342 – Bộ luật Dân sự 2005
[9] Nguồn; Báo Tuổi trẻ
[10] Nguồn: Vnexpress.net
[11] Nguồn: Vietbao.vn
Tài liệu tham khảo:
Nghị định số 178/ 1999/ NĐ – CP ngày 29/ 12/ 1999, Thông tư 06/ 2000/ TT – NHNN1 ngày 4/ 4/ 2000 hướng dẫn Nghị định 178, Nghị định 85 sửa đổi bổ sung một số điều Nghị định 178/ NĐ – CP. Tuy nhiên, khi Bộ luật dân sự 2005 ra đời, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm, áp dụng chung cho tất cả các giao dịch bảo đảm, kể cả trong tín dụng ngân hàng, bãi bỏ Nghị định 178/1999/NĐ-CP và Nghị định 85/2000/NĐ-CP.
Nghị định 83/2010 ngày 23/7/2010 về đăng ký giao dịch bảo đảm, Nghị định số 151/2006/ NĐ-CP ngày 20/12/2006 và Nghị định số 106/2008/NĐ-CP ngày 19/ 9/2008 sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định 151/2006/NĐ-CP quy định về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước, điểm đáng lưu ý là quy định về việc bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay (thực chất là tài sản hình thành trong tương lai theo khoản 2 Điều 321 Bộ luật Dân sự 2005, Thông tư số 12/2009/TT-NHNN ngày 28/5/2009 hướng dẫn một số nội sung trong cho vay có bảo lãnh của Ngân hàng Phát triển Việt Nam theo quy chế bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng thương mại ban hành theo Quyết định số 14/2009/QĐ-TTg và Quyết định số 60/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, …
Nguồn: TẠP CHÍ NGÂN HÀNG SỐ 23 NĂM 2010

Thứ Tư, 19 tháng 1, 2011

NHÌN LẠI VẤN ĐỀ HÔN NHÂN QUỐC TẾ THƯƠNG MẠI HÓA GIỮA VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC

1. Đặt vấn đề
Gần hai mươi năm đã trôi qua kể từ ngày chính phủ hai nước Việt Nam – Hàn Quốc chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao cấp Đại sứ (22/12/1992). Trong khoảng thời gian đó, mối quan hệ giữa hai nước đã có những chuyển biến rất sinh động, tích cực và đạt được nhiều thành quả trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học kĩ thuật… Trên lĩnh vực kinh tế, các nhà đầu tư, kinh doanh Hàn Quốc đã tìm đến Việt Nam như một thị trường mới mẻ, đầy hứa hẹn. Nắm bắt tiềm năng này, Hàn Quốc đã nhanh chóng trở thành nhà đầu tư và là đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam. Đồng thời, trong nhiều năm trở lại đây, Hàn Quốc cũng là thị trường thu hút nhiều lao động xuất khẩu của nước ta. Về mặt văn hóa xã hội, quan hệ trao đổi hợp tác giữa hai nước trên các lĩnh vực văn hóa – giáo dục, khoa học kỹ thuật phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ, mang lại những hiệu quả thiết thực. Làn sóng văn hóa Hàn Quốc (Hallyu) với mục tiêu truyền bá hình ảnh văn hóa Hàn Quốc ra thế giới đã ồ ạt tràn vào Việt Nam và được giới trẻ Việt Nam tiếp nhận mạnh mẽ… Có thể nói, dấu ấn Hàn Quốc để lại đối với xã hội Việt Nam trong gần hai mươi năm quan hệ ngoại giao là rất lớn. Tuy nhiên, trong mối quan hệ này, mặt tốt cũng nhiều, nhưng mặt xấu cũng không ít. Trên thực tế, đi cùng với những thành tựu trong quan hệ giữa hai nước là không ít những vấn đề xã hội nảy sinh và ngày càng trở thành những điểm nóng thu hút sự quan tâm của dư luận Việt Nam, Hàn Quốc. Trong đó, thiết nghĩ vấn đề cấp thiết hơn cả và cần sự quan tâm nhiều hơn từ chính phủ và xã hội hai đất nước chính là vấn đề môi giới hôn nhân quốc tế giữa cô dâu Việt Nam với đàn ông Hàn Quốc.
2. Vài nét về thực trạng môi giới kết hôn thương mại giữa phụ nữ Việt Nam và đàn ông Hàn Quốc
Từ vài năm trở lại đây, thỉnh thoảng báo chí Việt Nam và Hàn Quốc lại gây xôn xao dư luận của hai xã hội với những bài báo viết về những vụ việc đau lòng xảy ra đối với một số cô dâu Việt Nam bất hạnh trên xứ người. Cô dâu Việt Nam tự tử do không tìm được lối thoát cho mình trong cuộc hôn nhân với người chồng Hàn Quốc. Cô dâu Việt Nam bị chồng đánh đập tàn nhẫn đến chết… Trong suốt năm 2008, xã hội Việt Nam lẫn Hàn Quốc đều tỏ ra rất bất bình trước vụ việc cô dâu Việt Nam bị nhà chồng tước  đoạt quyền nuôi con, không cho cô  được tiếp xúc với hai  đứa con của mình ngay sau khi cô sinh xong. Và gần đây nhất là vụ việc cô dâu Thạch Thị Hồng Ngọc đã bị chồng, vốn là người có vấn đề về thần kinh, đâm chết vào ngày 8/7/2010 tại thành phố Busan.

Mức độ nghiêm trọng từ những vụ việc đáng tiếc xảy ra trong đời sống cô dâu Việt Nam trên xứ Hàn như đã nêu trên cho thấy rằng đã đến lúc chính phủ và xã hội ở hai quốc gia cần phải quản lý nghiêm ngặt hơn đối với vấn đề môi giới hôn nhân quốc tế, cũng như quan tâm sát sao hơn nữa để giải quyết nhiều hệ quả mang tính xã hội kéo
theo từ các cuộc hôn nhân này.
Tháng 5 năm 2006, chính quyền Roh Muhyun chủ trương xây dựng Hàn Quốc thành một xã hội đa văn hóa, đa dân tộc. Với chủ trương này, chính phủ Hàn Quốc đảm nhận vai trò chính để truyền bá chủ nghĩa đa văn hóa và xem đây như một cách thức dễ dàng để giải quyết các vấn đề của tỉ lệ sinh thấp trong xã hội Hàn Quốc đang già hóa đi.
Những ngân sách lớn từ chính quyền trung ương và địa phương được trút vào việc thành lập các trung tâm đa văn hóa do chính phủ điều hành, cũng như việc tổ chức những sự kiện và chương trình  được gọi là đa văn hóa. Hầu hết các chính sách của chính phủ được lập ra dưới cái tên của chủ nghĩa  đa văn hóa nhằm mục  đích cung cấp những chương trình như các lớp dạy tiếng Hàn hay các lớp dạy văn hóa Hàn Quốc để giúp những người nhập cư hòa nhập vào xã hội Hàn Quốc. Theo những chính sách đi từ trên  xuống này, chỉ sau một thời gian ngắn, thuật ngữ “chủ nghĩa đa văn hóa” nhanh chóng được phổ biến rộng rãi trên toàn quốc và trở thành câu nói cửa miệng đối với mỗi người  dân Hàn Quốc. Trong khi chủ nghĩa đa văn hóa do chính phủ Hàn Quốc chỉ đạo ngày  một lan rộng khắp xã hội Hàn Quốc thì vấn đề môi giới hôn nhân thương mại hóa dần bị lu mờ đi trong sự quan tâm của người dân. Rõ ràng những chính sách từ chính phủ Hàn Quốc vô hình trung đã góp phần thúc đẩy các hoạt động môi giới hôn nhân phát triển rầm rộ lên(1).
Ở Việt Nam, từ tước khi làn sóng Hallyu xâm nhập vào, vấn đề kết hôn di cư cũng đã được đề cập nhiều xuất phát từ những tiêu cực trong trào lưu kết hôn của phụ nữ Việt với chồng Đài Loan. Nhưng từ sau đó, cùng với việc tiếp nhận ảnh hưởng của Hallyu và hoạt động mạnh mẽ của các công ty môi giới hôn nhân quốc tế, số phụ nữ Việt đăng kí kết hôn với đàn ông Hàn Quốc càng nhiều. Kể từ sau khi số cặp kết hôn Việt Nam – Hàn Quốc vượt quá con số 1000 vào năm 2003, những năm sau  đó, xu hướng kết hôn với đàn ông Hàn Quốc đã tăng lên rất nhanh. Tính cho đến gần cuối năm 2007, tổng số phụ nữ Việt Nam lấy chồng Hàn đã lên tới con số 20,523 người (2).
Bảng 1: Hiện trạng phụ nữ nước ngoài kết hôn quốc tế ở Hàn Quốc (2007

  2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Phụ nữ
nước ngoài
7.304
10.006
11.017
19.214
25.594
31.180
30.208
29.140
Trung
Quốc 
3.586
7.001
  7.041
13.373
18.527
20.635
14.608
14.526
Việt Nam 95 134 476 1.403 2.462 5.822 10.131 6.611
Campuchia * * * 19 72 157 394 1.804
Nhật 1.131 976 959 1.242 1.224 1.255 1.484 1.665
Philipines 1.358 510 850 944 964 997 1.157 1.531
Mông Cổ      77 118 195 318 504 561 594 745
Thái Lan     270 185 330 346 326 270 273   531
Mỹ  235 265 267 323 344 285 334 377
Khác 552 817 899 1.246 1.171 1.198 1.233 1.350
Trên thực tế, con số này ám chỉ không ít những hiện tượng tiêu cực xung quanh vấn đề kết hôn quốc tế này. Trước hết đó là vấn đề các công ty môi giới hôn nhân. Hoạt động môi giới hôn nhân ở Việt Nam được xem là phạm pháp, nhưng các công ty này bằng đủ mọi hoạt động trá hình đã thiết lập nhiều đường dây để dụ dỗ các cô gái Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc. Các công ty này chủ yếu đánh  động vào sự ngây thơ, cả tin của các cô gái nông thôn chỉ muốn lấy chồng với hi vọng đổi đời để có thể giúp đỡ gia đình sau khi kết hôn… Trong khi đó, ở Hàn Quốc, các hoạt động quảng cáo, môi giới kết hôn này lại tự do phát triển mạnh mẽ, phụ nữ Việt Nam và cả những phụ nữ nước ngoài trở thành những món hàng để những người đàn ông Hàn Quốc đong đếm, lựa chọn về làm “vợ”. Tính chất thương mại hóa được thể hiện rõ trong quá trình những người đàn ông Hàn Quốc “xem hàng” (các cô gái Việt Nam) để lựa chọn và sau đó là trả tiền lo thủ tục cưới xin cùng tiền hoa hồng cho phía môi giới.
Đầu năm 2006, sau khi Nhật báo Chosun đăng bài viết về thực trạng cô dâu Việt lấy  chồng Hàn với cái nhìn vô cảm, bảo vệ cho các công ty môi giới và xúc phạm đến  quyền chân dung của phụ nữ Việt Nam, các du học sinh Việt Nam đã tập trung biểu tình trước tòa soạn báo Chosun yêu cầu tòa soạn phải nhận lỗi trước hành động sai trái của mình, đồng thời nhóm biểu tình cũng đề nghị xóa bỏ các bảng quảng cáo về cô dâu Việt Nam cũng như cô dâu những nước khác lấy chồng người Hàn. Cuộc biểu tình này đã đạt được những thành công nhất định, người dân hai nước, đặc biệt là người  dân Việt Nam đã có những quan tâm sâu sắc hơn đến vấn đề nhân quyền của người phụ nữ trong xã hội ngày nay.
3. Hậu quả xã hội trong hôn nhân quốc tế thương mại Việt Nam – Hàn Quốc
Được thực hiện một cách chóng vánh theo tính chất thương mại hóa nên các cuộc hôn nhân quốc tế giữa phụ nữ Việt Nam và  đàn ông Hàn Quốc hầu hết  đều không xây dựng trên một  điều kiện cần cốt lõi cho một cuộc hôn nhân là tình yêu thương và sự thông hiểu lẫn nhau. Tổng lượng thời gian tiếp xúc của những cặp vợ chồng này tính từ lúc gặp nhau trong buổi xem mặt cho đến khi cô dâu Việt Nam đặt chân  đến Hàn Quốc cũng chỉ không quá vài ngày. Khoảng thời gian để các cô dâu chuẩn bị học tập tiếng Hàn chỉ độ một tháng. Trong điều kiện như vậy, rõ ràng chúng ta có thể thấy trở ngại lớn nhất trong đời sống của người con dâu Việt Nam trong gia đình Hàn Quốc là bất đồng về ngôn ngữ và kém hiểu biết văn hóa. Những câu chuyện đáng tiếc đã xảy ra như báo chí đã đưa tin có thể xem là những minh chứng thuyết phục cho điều này. 
Tác giả bài viết này đã từng đứng lớp để dạy những hiểu biết cơ bản nhất về Hàn Quốc cho nhiều cô gái trẻ Việt Nam đang chờ đợi ngày nhận visa để đi sang Hàn Quốc đoàn tụ cùng gia đình chồng. Hầu hết những cô gái này xuất thân từ đồng bằng sông Cửu Long, trình độ học vấn thấp chỉ dừng lại ở mức tiểu học, hay trung học cơ sở là chính. Đó là những thanh niên thất nghiệp, nhà nghèo lại  đông anh em. Cuộc sống nghèo khổ và khó có thể tìm ra lối thoát ở quê nhà đã khiến họ dễ dàng nghe theo những lời giới thiệu của những cô gái cùng thôn đi lấy chồng Hàn Quốc, khiến họ nhẹ dạ tin vào bao lời nói đầy hứa hẹn của các công ty môi giới, thêm vào đó, được sự khuyến khích từ chính gia đình, họ đã quyết định đi lấy chồng nơi đất Hàn xa xôi với ước vọng đổi đời để có thể trút bớt gánh nặng cho gia đình. Trong khi đó, những đối tượng đàn ông Hàn Quốc được kêu gọi lấy vợ nước ngoài lại chủ yếu là: đàn ông đã góa vợ phải nuôi con một mình, đàn ông ở các vùng quê nghèo không kiếm được vợ, người tàn tật… và hầu hết họ cũng là những người nông dân với trình độ học vấn thấp. Chính trình độ học vấn thấp, những hạn chế về hiểu biết văn hóa hai nước cùng sự bất đồng ngôn ngữ là ba nhân tố chính gây nên những mối bất hòa, căng thẳng trong các gia đình đa văn  hóa này. Thiết nghĩ một khi giữa cô dâu Việt Nam và người chồng Hàn Quốc có được sự thông hiểu văn hóa này thì những xung đột trong các cuộc hôn nhân quốc tế này sẽ giảm đi đáng kể. Nắm bắt được điều này, hiện nay ở Hàn Quốc đã hình thành nhiều tổ chức, đoàn thể xã hội như Trung tâm hỗ trợ cho phụ nữ kết hôn di cư, Đường dây nóng hỗ trợ phụ nữ kết hôn di cư… thực hiện việc hỗ trợ, giúp đỡ, tư vấn, cung cấp cho phụ nữ kết hôn di cư tất cả những thông tin cần thiết về văn hóa, xã hội, pháp luật…
Một vấn đề quan trọng khác hiện nay được đặt ra liên quan đến hiện trạng hôn nhân quốc tế này chính là vấn đề giáo dục cho thế hệ con cái của mẹ Việt Nam và bố Hàn Quốc. Cùng với sự tăng lên của con số các cuộc hôn nhân quốc tế này, số con lai Việt Nam – Hàn Quốc cũng đang tăng lên nhanh chóng. Bất lợi đầu tiên của những đứa trẻ này là bố mẹ chúng không thông hiểu nhau về mặt ngôn ngữ, văn hóa dẫn đến sự
không nhất quán trong quá trình dạy con. Họ dễ dàng rơi vào sự lúng túng, không biết
nên dạy con bằng tiếng Hàn hay tiếng Việt. Nếu dạy con bằng tiếng Hàn thì mẹ không
đủ khả năng  để dạy và sau này con cũng không thể hiểu  được tiếng mẹ. Đồng thời người mẹ cũng không thể chỉ dạy con bằng tiếng Việt trong khi đang sống trên đất Hàn. Và làm thế nào để những đứa trẻ này không bị lạc lõng khi vào học ở các trường… vẫn còn là một vấn đề gây tranh cãi nhiều trong xã hội Hàn Quốc. 
4. Kết luận 
Những vấn  đề người viết trình bày trên  đây phần nào cho thấy  được mức  độ nghiêm trọng của những cuộc hôn nhân thương mại hóa giữa Việt Nam và Hàn Quốc. Tình trạng xâm hại nhân quyền, đặc biệt là quyền của người phụ nữ là thực tế đáng báo động để kêu gọi sự quan tâm của xã hội để giải quyết vấn đề này. Ở một góc độ nào đấy, xã hội Hàn Quốc đã thể hiện sự quan tâm của mình trong việc cải thiện những tiêu cực trong các cuộc hôn nhân quốc tế, bảo vệ và giúp  đỡ các cô dâu nước ngoài nói chung, Việt Nam nói riêng từng bước thích ứng dần với cuộc sống trên xứ sở kim chi này. Thiết nghĩ, xã hội Việt Nam cần cương quyết hơn nữa trong việc quản lý các hoạt động môi giới hôn nhân quốc tế. Bên cạnh đó, nhà nước cần quan tâm nhiều hơn, tạo công ăn việc làm để cải thiện đời sống người dân ở những vùng quê nghèo, thực hiện công tác tuyên truyền giúp họ hiểu sự nguy hiểm trong quá trình môi giới hôn nhân quốc tế. Đồng thời, chúng ta cần mở thêm lớp học cung cấp những thông tin cơ bản về văn hóa, xã hội… cũng như pháp luật Hàn Quốc cho những cô dâu này để họ có được những sự phòng bị thiết thực nhất trước khi xuất ngoại. Hi vọng Việt Nam, Hàn Quốc sẽ nỗ lực hơn nữa trong việc giải quyết vấn đề này để mối quan hệ giữa hai quốc gia ngày một tốt đẹp hơn.
Chú thích:
1.  Jiyoung Lee An,  A Review of Commercialized International Marriage Brokers in Korea, Migration Women Human Rights Forum, 2010, http://www.arenaonline.org/xe/?document_srl=2110#0
2.  Trích dẫn từ tư liệu trên diễn đàn chính sách kết hôn quốc tế Hàn – Việt của Bộ Gia đình Phụ nữ Hàn Quốc (ngày 23.11.2007
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Diễn đàn chính sách kết hôn quốc tế Hàn – Việt của Bộ Gia đình Phụ nữ Hàn Quốc
(ngày 23.11.2007)
[2] Jiyoung Lee An, A Review of Commercialized International Marriage Brokers in
Korea, Migration Women Human Rights Forum, 2010,
http://www.arenaonline.org/xe/?document_srl=2110#0
[3]   http://vnexpress.net/GL/The-gioi/Nguoi-Viet-5-chau/2010/07/3BA1E2BF/
[4]   http://www.thanhnien.com.vn/News/Pages/201030/20100724100204.aspx
Nguồn: TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG – SỐ 5(40).2010

Thứ Hai, 17 tháng 1, 2011

CÔNG VĂN SỐ 57 /BXD-QLN NGÀY 14 THÁNG 10 NĂM 2010 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ VIỆC CHUYỂN NHƯỢNG HỢP ĐỒNG MUA BÁN NHÀ Ở

Kính gửi:
Công ty cổ phần Xây dựng và Phát triển nhà Hoàng Anh
Bộ Xây dựng nhận được công văn số 105/CV-HA.10 ngày 28/8/2010 của Công ty cổ phần Xây dựng và Phát triển nhà Hoàng Anh (HAGL Land) đề nghị hướng dẫn về việc chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở của doanh nghiệp kinh doanh bất động sản. Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 60 của Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở thì những trường hợp tổ chức, cá nhân đã ký hợp đồng góp vốn hoặc hợp đồng hợp tác đầu tư (gọi chung là góp vốn) để được phân chia sản phẩm là nhà ở theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 9 của Nghị định số 71/2010/NĐ-CP mà sau đó bên tham gia góp vốn có nhu cầu chuyển nhượng lại nhà ở này cho người khác thì bên tham gia góp vốn được quyền trực tiếp ký hợp đồng chuyển nhượng cho bên thứ ba. Việc chuyển nhượng này được thực hiện theo hướng dẫn sau đây:
- Trường hợp là hộ gia đình, cá nhân hoặc tổ chức không có chức năng kinh doanh bất động sản thì thực hiện chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở theo quy định tại khoản 5 Điều 8 và khoản 1 Điều 20 của Thông tư số 16/2010/TT-BXD ngày 01/9/2010 của Bộ Xây dựng quy định cụ thể và hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 71/2010/NĐ-CP;
- Trường hợp là doanh nghiệp có chức năng kinh doanh bất động sản thì thực hiện bán nhà ở theo quy định tại khoản 3 Điều 20 của Thông tư số 16/2010/TT-BXD, doanh nghiệp này chỉ được chuyển nhượng nhà ở cho bên thứ ba sau khi đã thanh toán hết tiền mua nhà ở cho chủ đầu tư hoặc sau khi đã nhận bàn giao nhà ở từ chủ đầu tư. Việc chuyển nhượng nhà ở trong trường hợp này được thực hiện như sau:
+ Nếu doanh nghiệp đã thanh toán hết tiền mua nhà ở nhưng chưa nhận bàn giao nhà ở từ chủ đầu tư thì sau khi hoàn thành thủ tục bán nhà ở qua sàn giao dịch bất động sản theo quy định, doanh nghiệp được ký hợp đồng với tên gọi là hợp đồng chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ mua nhà ở (có các nội dung như văn bản chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở nêu tại phụ lục số 14 ban hành kèm theo Thông tư số 16/2010/TT-BXD) với bên nhận chuyển nhượng quyền và nghĩa mua nhà ở, hợp đồng này không phải công chứng, nhưng phải có xác nhận của chủ đầu tư vào hợp đồng, bên chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ mua nhà ở phải nộp nghĩa vụ tài chính cho Nhà nước theo quy định. Sau khi có xác nhận của chủ đầu tư thì chủ đầu tư sẽ chấm dứt giao dịch với doanh nghiệp (bên chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ mua nhà ở) để giao dịch trực tiếp với bên nhận chuyển nhượng quyền và nghĩa mua nhà ở;

+ Nếu doanh nghiệp đã thanh toán hết tiền mua nhà ở và đã nhận bàn giao nhà ở từ chủ đầu tư thì sau khi hoàn thành thủ tục bán qua sàn giao dịch bất động sản, doanh nghiệp được ký hợp đồng mua bán nhà ở với người mua theo mẫu quy định tại phụ lục số 15 ban hành kèm theo Thông tư số 16/2010/TT-BXD, hợp đồng mua bán này không cần phải có chứng nhận của công chứng và xác nhận của chủ đầu tư.
Như vậy, nếu Công ty HAGL Land đã ký hợp đồng góp vốn có phân chia sản phẩm là nhà ở với các tổ chức kinh doanh tại Việt Nam thì nay các tổ chức này được quyền trực tiếp ký hợp đồng chuyển nhượng lại nhà ở đó cho khách hàng của mình theo quy định tại khoản 2 Điều 60 của Nghị định số 71/2010/NĐ-CP, Điều 20 của Thông tư số 16/2010/TT-BXD và theo hướng dẫn nêu trên.
Trên đây là ý kiến trả lời của Bộ Xây dựng về việc chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở của doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, đề nghị Công ty HAGL Land căn cứ vào các quy định của Nghị định số 71/2010/NĐ-CP và quy định tại Thông tư số số 16/2010/TT-BXD của Bộ Xây dựng để thực hiện./.
TL. Bộ trưởng
Cục trưởng Cục quản lý nhà và thị trường bất động sản
(Đã ký)
Nguyễn Mạnh Hà

Roosevelt được chọn là tổng thống tốt nhất lịch sử Mỹ

Các học giả Anh vừa tổ chức cuộc xếp hạng đầu tiên về 40 đời tổng thống Mỹ, trong đó vị trí số một thuộc về nhà lãnh đạo gắn liền với Thế chiến II Franklin D Roosevelt, còn cựu tổng thống Bush con nằm ở nhóm cuối bảng.

Ảnh: BBC
Top 3 (ảnh lớn): Roosevelt, Lincoln, Washington. Năm vị trí tiếp theo (ảnh nhỏ): Thomas Jefferson, Theodore Roosevelt, Woodrow Wilson, Harry Truman và Ronald Reagan. Ảnh: BBC
Những bình chọn và đánh giá về các đời tổng thống Mỹ được khởi đầu từ năm 1960 với cuốn sách Presidential Power của chuyên gia nghiên cứu chính trị Mỹ Richard Neustadt. Trong công trình này ông giải thích: "Tại nước Mỹ chúng tôi ưa thích được "xếp hạng' một tổng thống. Chúng tôi đánh giá ông là 'yếu' hay 'mạnh'".
Nửa thế kỷ kể từ đó, việc đánh giá các tổng thống Mỹ một cách có hệ thống đã trở thành công việc quen thuộc của các học giả Mỹ. Cùng khoảng thời gian này, nghiên cứu về lịch sử và chính trị Mỹ cũng phát triển nhanh chóng trong các đại học tại Anh. Tuy nhiên, theo BBC đây là lần đầu tiên có một cuộc xếp hạng các đời tổng thống Mỹ do các học giả Anh thực hiện.
Cuộc bình chọn xếp hạng mang tính học thuật này được Trung tâm Tổng thống Mỹ thuộc Học viện Hoa Kỳ học nằm trong hệ thống Đại học London tiến hành trước khi diễn ra cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2010. Tổng cộng có 47 học giả Anh chuyên nghiên cứu về lịch sử và chính trị Mỹ tham gia thực hiện cuộc xếp hạng.
Các học giả Anh được yêu cầu xếp hạng năng lực của tất cả các tổng thống Mỹ từ năm 1789 đến 2009 (ngoại trừ William Henry Harrison và James Garfield vì họ đã qua đời ngay sau khi nhậm chức không lâu) theo 5 tiêu chí: Xây dựng chương trình hành động, năng lực lãnh đạo trong nước, chính sách đối ngoại, sự trong sạch của chính quyền và ý nghĩa lịch sử về di dản của họ.
Top 5 tổng thống Mỹ
1. Franklin Delano Roosevelt (1933-1945)
2. Abraham Lincoln (1861-1865)
3. George Washington (1789-1797)
4. Thomas Jefferson (1801-1809)
5. Theodore Roosevelt (1901-1909)
Nhóm 5 tổng thống cuối bảng
36. Andrew Johnson (1865-1869)
37. John Tyler (1841-1845)
38. Warren Harding (1921-1923)
39. Franklin Pierce (1853-1857)
40. James Buchanan (1857-1861)
Những học giả tham gia xếp hạng đã chấm điểm các đời tổng thống Mỹ theo từng tiêu chí với thang điểm từ 1 (không hiệu quả) đến 10 (rất hiệu quả). Kết quả sau đó được tính trên tổng số điểm mà mỗi tổng thống nhận được để đưa ra danh sách cuối cùng.
Theo đó, Tổng thống Franklin D Roosevelt (1933-1945) được xếp vị trí số một chung cả danh sách. Ngoài ra ông còn dẫn đầu về 3 tiêu chí là xây dựng chương trình hành động, năng lực lãnh đạo trong nước và chính sách đối ngoại. Tổng thống có công giải phóng chế độ nô lệ Abraham Lincoln (1861-1865) giữ vị trí thứ hai, đồng thời dẫn đầu tiêu chí ý nghĩa lịch sử về di sản. Vị tổng thống đầu tiên trong lịch sử Mỹ George Washington (1789-1797) đứng thứ ba và dẫn đầu về tiêu chí sự trong sạch của chính quyền.
Hầu hết các tổng thống Mỹ trong Top 15 đều thuộc thế hệ "người xưa", chỉ có một tổng thống trong nhóm cầm quyền từ 1977 đến 2009 là Ronald Reagan (1981-1989) có tên trong nhóm này với vị trí thứ 8. Trái lại, 5 tổng thống cầm quyền giai đoạn đầu của lịch sử nước Mỹ từ 1789 đến 1825 đều xếp ở vị trí cao như George Washington và Thomas Jefferson (trong Top 5) và John Adams, James Monroe và James Madison (trong Top 15).
Đương kim Tổng thống Barack Obama không nằm trong danh sách xếp hạng của các học giả Ảnh, nhưng ước tính cho thấy ông có thể lọt vào Top 10 nếu được chấm. Ông được đánh giá cao chủ yếu vì tầm quan trọng mang tính biểu tượng của việc đây là tổng thống da màu đầu tiên tại Mỹ. Còn người tiền nhiệm của ông là George W Bush (2001-2009) đứng ở vị trí thứ 31, thuộc nhóm 10 tổng thống cuối danh sách, do những di sản tiêu cực về cuộc chiến Iraq và việc ông bị đánh giá là "hống hách".
Vị trí những tổng thống Mỹ gần đây
8. Ronald Reagan (1981-1989)
18. Jimmy Carter (1977-1981)
19. Bill Clinton (1993-2001)
22. George H W Bush (1989-1993)
23. Richard Nixon (1969-1974)
24. Gerald Ford (1974-1977)
31. George W Bush (2001-2009)
Các cuộc xếp hạng tổng thống của học giả Mỹ thường đặt Abraham Lincoln đứng vị trí số một vì thành tựu lịch sử của ông trong cuộc nội chiến, đặc biệt là việc chấm dứt chế độ nô lệ. Họ cũng thường xếp George Washington đứng ở vị trí thứ hai vì vai trò lịch sử của ông trong việc khai lập quyền lực của tổng thống Mỹ.
Tuy nhiên, cuộc bình chọn của các học giả Anh đã cho thấy quan điểm khác đến từ xứ sở sương mù. Họ chọn Franklin D Roosevelt đứng vị trí số một vì đánh giá cao những thách thức lớn mà ông phải đối mặt khi làm tổng thống trong cả thời kỳ Đại suy thoái và Chiến tranh thế giới thứ hai, cũng như sự tự tin và năng lực lãnh đạo của ông trong hai cuộc khủng hoảng lịch sử này. Ý nghĩa lịch sử của di sản chính trị mà ông để lại cho nước Mỹ cũng được đánh giá cao.
Ngoài những cái tên trong Top 3, sự khác biệt trong đánh giá của các học giả Mỹ và Anh còn thể hiện qua cách xếp hạng một số tổng thống nổi tiếng khác. Những cuộc bình chọn gần đây tại Mỹ thường xếp John F Kennedy (1961-1963) ở vị trí thứ 6, nhưng ông chỉ đứng ở vị trí thứ 15 trong cuộc xếp hạng tại Anh. Các học giả xứ sương mù tỏ ra không hài lòng với Kennedy vì khoảng trống giữa khả năng hùng biện với những thành tựu cụ thể khi làm tổng thống của ông.
Nguồn: vnexpress

Chủ Nhật, 16 tháng 1, 2011

BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI

Khái niệm biện pháp khẩn cấp tạm thời (KCTT)
Trong pháp luật Việt Nam, Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) 2004 có một chương riêng với 28 điều quy định về biện pháp KCTT (Chương VIII, các Điều từ 99 đến 126). Về bản chất, các quy định mới của các Điều từ 48 đến 53 Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 (LTT 2010) là luật riêng so với các quy định chung của BLTTDS 2004. Nói cách khác, trong tố tụng trọng tài phải áp dụng trước tiên các quy định của LTT 2010, nếu các quy định đó thiếu, chưa rõ hoặc chưa cụ thể thì cần áp dụng các nguyên tắc chung về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự.
Biện pháp KCTT (Interim injunctive relief, Vorläufiger Rechtsschutz) được hiểu là một công đoạn tố tụng rút ngắn và giản đơn nhằm giúp cơ quan tài phán can thiệp nhanh chóng, kịp thời nhằm bảo vệ chứng cứ, tài sản tranh chấp hoặc các đảm bảo khác thiết yếu cho thi hành các nghĩa vụ, trong khi phiên tranh tụng chính chưa kết thúc. Tuy rằng mục đích hướng tới là các biện pháp cụ thể, ví dụ kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, cấm định đoạt tài sản, song Chương VII LTT 2010 các Điều từ 48 đến 53 về biện pháp KCTT là một quy trình, quy định quyền yêu cầu, thẩm quyền xem xét và ban hành các quyết định tố tụng, các đảm bảo, quyền khiếu nại và yêu cầu đền bù thiệt hại nếu có.
Quy trình tố tụng này là một phần phụ, phái sinh, có tính chất chuẩn bị, bổ trợ cho một thủ tục tố tụng chính đang được cơ quan tài phán thụ lý. Đây là một chế định của luật tố tụng dân sự, thường có các đặc trưng sau:
- Thứ nhất, các biện pháp này phải do một bên yêu cầu, thường là nguyên đơn, còn cơ quan tòa án thường không có quyền tự mình ra các quyết định nhằm bảo tồn tài sản tranh chấp hoặc chứng cứ; trừ những trường hợp hết sức hãn hữu tòa án mới tự mình (ex officio) ra các lệnh tòa, ví dụ được nêu tại Điều 119, Điều 102 1-5 BLTTDS 2004;
- Thứ hai, phải có những điều kiện nhất định kèm theo các yêu cầu cho áp dụng biện pháp này, ví dụ phải có chứng cứ đủ tin rằng quyền lợi của bên yêu cầu sẽ không được đảm bảo nếu không áp dụng ngay các biện pháp ví dụ như phong tỏa tài khoản hay kê biên tài sản;

- Thứ ba, quy trình ban hành các lệnh tòa để bảo toàn tài sản hay chứng cứ hoặc các biện pháp mang tính tạm thời khác thường là thủ tục rút gọn, dựa trên yêu cầu, các chứng cứ, hồ sơ của bên yêu cầu cung cấp, thường không thể có thời gian để tổ chức lấy lời khai của chứng nhân, cũng không mở phiên xét xử, mà cơ quan tài phán quyết định thường là dựa trên hồ sơ;
- Thứ tư, hình thức quyết định thường là các lệnh tòa (court’s order, einstweilige Verfügung), không phải là bản án;
- Thứ năm, bên bị thi hành các lệnh tòa đó có quyền khiếu nại, nếu việc áp dụng biện pháp khẩn cấp đó không có cơ sở, gây ra thiệt hại cho bên bị thi hành thì người này có quyền yêu cầu bồi thường;
- Thứ sáu, sau khi có lệnh tòa, bên yêu cầu thường phải tự liên hệ với cơ quan thi hành án (ví dụ Gerichtsvollziehers theo luật Đức) để yêu cầu cho thi hành.
Thẩm quyền ban hành các lệnh tạm thời trong tố tụng trọng tài
Đây là chủ đề gây tranh luận sôi nổi trong giới học thuật và thực tiễn. Khi nguyên đơn khởi kiện ra trọng tài, thường có hai cơ quan có thể quyết định về các lệnh tạm thời này, một là hội đồng trọng tài, hai là tòa thường tụng có thẩm quyền, hoặc cả hai cơ quan này.
Điều cần lưu ý là khái niệm trọng tài ở đây được hiểu là Hội đồng trọng tài (HĐTT), chứ không phải Trung tâm trọng tài, ví dụ VIAC. Ban thư ký thường có chức năng thụ lý, cung cấp các dịch vụ tống đạt, yêu cầu các bên chỉ định trọng tài viên và ra quyết định thành lập HĐTT (đây mới là khái niệm tòa án trọng tài Schiedgericht, arbitral tribunal). Chỉ có HĐTT này mới có quyền ra các lệnh tạm thời, tương tự như lệnh tòa.
Xét về mặt thực tiễn, nếu cần tới các lệnh khẩn cấp, nguyên đơn có thể có một vài bất lợi về thời gian nếu phải chờ bị đơn chỉ định trọng tài viên và ban thư ký hoàn tất thủ tục thành lập HĐTT. Thời gian để thành lập một HĐTT, nếu bị đơn có chiến lược trì hoãn, có thể tốn tới 1-2 tháng. Thời gian ấy đủ dài để bị đơn, nếu muốn, có thể tẩu tán đáng kể các tài sản tranh chấp.
Thêm một lý do nữa, về mặt lý thuyết, người ta cho rằng chỉ có tòa án, một cơ quan công lực, mới có quyền ra các lệnh tạm thời nhằm can thiệp vào tài sản của đương sự, đặc biệt là hạn chế các quyền định đoạt của họ. Nếu lệnh đó cần có hiệu lực đối với một bên thứ ba, ví dụ một công ty kho bãi đang lưu trữ hàng hóa tranh chấp của bên bán và bên mua, thì người ta càng khẳng định đó phải là một lệnh tòa, chứ không thể là lệnh từ một cơ quan tài phán tư do hai bên tự thỏa thuận. HĐTT nếu có là tòa án, thì cũng chỉ là tòa án tư, các lệnh tạm thời có thể có hiệu lực đối với hai bên đương sự, song khó có lý do để cho các lệnh đó hiệu lực hạn chế quyền của người thứ ba.
Ngoài ra, người ta còn băn khoăn rằng lệnh tạm thời còn phải được thi hành. Nếu lệnh đó do tòa án ban hành, khả năng thực thi sẽ tuân theo các quy định của tố tụng dân sự. Nếu lệnh đó do HĐTT ban hành, người ta cần sửa các quy định tương ứng về thi hành án, để đảm bảo lệnh của HĐTT cũng có hiệu lực thi hành tựa như lệnh tòa.
Đó là tóm lược những tranh luận liên quan đến việc ai sẽ có thẩm quyền cuối cùng quyết định về các lệnh tạm thời. Người Đức đã bổ sung Điều 1041 vào BLTTDS, Điều 1041 cho phép HĐTT (tức là Schiedgericht) có quyền ban hành các biện pháp khẩn cấp tạm thời. Các nước khác có quy định dè dặt hơn, ví dụ Luật Tố tụng dân sự 2001 của Tây Ban Nha, Điều 722, quy định rằng về nguyên tắc tòa thường tụng có thẩm quyền chung về biện pháp KCTT, trừ phi các bên có thỏa thuận khác trong hợp đồng liên quan đến điều khoản trọng tài. Ở Trung Hoa, Điều 28 LTT 1994 quy định khá dè dặt đại thể rằng nếu một bên muốn bảo quản tài sản trong vụ tranh tụng trọng tài, thì có quyền yêu cầu ủy ban trọng tài, ủy ban sẽ ra quyết định yêu cầu tòa án nhân dân ra các biện pháp cần thiết, nếu không có cơ sở mà vẫn yêu cầu thì phải bồi thường. Các quy định về biện pháp KCTT cũng có thể tìm thấy ở Điều 258 Luật Tố tụng dân sự Trung Hoa. Như vậy, nếu thỏa thuận trọng tài, các bên phải chờ HĐTT đã được lập, sau đó mới có quyền yêu cầu hội đồng này nhờ tòa án can thiệp, trừ trường hợp tranh chấp về hàng hải, theo Điều 28 Luật Hàng hải Trung Hoa các bên có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp KCTT kể cả khi HĐTT chưa được lập.
LTT 2010 của Việt Nam quy định rất uyển chuyển, và có vẻ như rất thận trọng rằng các bên có thể nhờ cậy đến tòa án (sau khi nộp đơn kiện tới trọng tài – Điều 53.1) hoặc trọng tài (sau khi lập HĐTT – các Điều 48, 49) yêu cầu ban hành các lệnh KCTT. Nếu yêu cầu được gửi tới cả hai nơi, thì có thể dịch Nôm rằng cơ quan tài phán nào nhận trước sẽ thụ lý, cơ quan nhận sau phải từ chối (theo Điều 49.3 LTT 2010, HĐTT phải từ chối yêu cầu, nếu đương sự đã yêu cầu tòa án; ngược lại theo Điều 53.5 LTT 2010, tòa án phải từ chối, nếu đương sự đã yêu cầu HĐTT).
Chúng tôi cho rằng, đây là một thiết kế rất khôn khéo, phù hợp với tình hình hiện nay ở Việt Nam. Tuy nhiên, như đã bình luận ở trên, tùy theo vụ việc, trên thực tế, có thể sẽ có lợi hơn cho nguyên đơn, nếu sau khi khởi kiện tại trung tâm trọng tài và yêu cầu tòa án ra các lệnh tòa cho áp dụng biện pháp KCTT theo quy định của Điều 53 LTT 2010, bởi như thế người yêu cầu sẽ có một vài lợi thế: (i) thứ nhất không phải mất thời gian chờ thành lập HĐTT, (ii) thứ hai tòa án và hệ thống thi hành giúp việc thực thi biện pháp liên thông hơn.
Chứng cớ thuyết phục sự cần thiết của biện pháp KCTT
Cơ quan tài phán cần có chứng cớ để được thuyết phục rằng một lệnh can thiệp tạm thời là hợp lý. Điều 50 LTT 2010 cũng như Điều 117.1 BLTTDS 2004 có thể cần được hướng dẫn chi tiết hơn, song về cơ bản, tòa án hay HĐTT nhận định sự cần thiết dựa trên hồ sơ, chí ít phải có những nhận định căn bản sau:
- Thứ nhất, bên yêu cầu phải có căn cứ pháp lý tối thiểu cho yêu cầu chính, ví dụ nếu tranh chấp về mua bán thì phải có khế ước và các chứng từ liên quan;
- Thứ hai, bằng chứng, tài sản tranh chấp có nguy cơ bị tiêu hủy do đặc tính tự nhiên của nó; giữa yêu cầu áp dụng lệnh KCTT và yêu cầu chính phải có những mối liên quan xác đáng.
Để nhận định về sự cần thiết này, sau khi nhận đơn, bằng chứng và biện pháp bảo đảm HĐTT phải họp hoặc trao đổi và thống nhất quyết định giữa các trọng tài viên; hình thức phiên họp hay trao đổi này chưa được quy định chi tiết tại Điều 50, chỉ quy định tại Điều 50.5 LTT 2010 rằng HĐTT sẽ xem xét ra quyết định áp dụng biện pháp KCTT trong thời hạn 03 ngày làm việc.
Biện pháp bảo đảm tương đương
Điều 120.1 BLTTDS 2004 và Điều 50.3 LTT 2010 có hai quy định tương đối giống nhau, buộc người yêu cầu biện pháp KCTT phải gửi tiền, vàng, đá quý, giấy tờ có giá hay tài sản khác do HĐTT hoặc tòa án ấn định làm biện pháp bảo đảm để cơ quan tài phán ra các lệnh tạm thời. Số tiền hay tài sản bảo đảm phải tương đương nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thi hành lệnh tòa phải thực hiện hoặc tương ứng giá trị thiệt hại có thể phát sinh do lệnh tạm thời mà HĐTT gây ra khi được áp dụng.
Sự khó khăn khi thể hiện hai điều luật này cũng xuất hiện trong Điều 1041.1 BLTTDS Đức khi tòa án trọng tài có quyền yêu cầu mỗi bên nộp một khoản bảo đảm hợp lý, người ta dùng chữ Angemessene Sicherheit, chứ không dùng chữ tương đương hay tương ứng như trong luật Việt Nam.
Ví dụ, nếu hai bên tranh chấp về một lô hàng trị giá một tỷ đồng, chắc tòa án sẽ không giải thích rằng tài sản bảo đảm phải tương ứng với một tỷ đồng, bởi giải thích như vậy quá bất lợi cho bên yêu cầu biện pháp KCTT, làm chi phí tranh tụng tăng đáng kể, và trên thực tế sẽ vô hiệu hóa khả năng sử dụng các lệnh tòa tạm thời. Có thể tòa sẽ giải thích theo hướng nếu các lệnh tòa phong tỏa tài sản bên bị được thực hiện, ví dụ giữ tàu biển, thì các thiệt hại thực tế có thể ước lượng từ lệnh là căn cứ tính ra khoản bảo đảm phải nộp tương ứng với các chi phí ấy. Đó có thể là các thiệt hại do tài khoản bị phong tỏa, các cơ hội bị bỏ lỡ do hàng hóa bị cấm bán, chi phí phát sinh do tài sản tranh chấp phải bảo tồn, cất trữ. Điều khó khăn khi xác định giá trị bảo đảm này có thể dự báo trên thực tế sẽ làm các trọng tài viên khá lưỡng lự trước các lệnh tạm thời, đặc biệt khi lệnh đó liên quan đến những khối tài sản ngày càng lớn.
Thi hành các biện pháp khẩn cấp tạm thời
Điều 50.5 quy định các biện pháp KCTT do HĐTT ban hành được thi hành theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự. Nếu các lệnh tạm thời do tòa án quyết định, lệnh đó được thi hành theo Điều 126 BLTTDS và pháp luật thi hành án dân sự. Bản án, quyết định có hiệu lực thi hành theo Điều 2.1.e. Luật Thi hành án dân sự 2008 bao gồm các quyết định của trọng tài thương mại. Có thể cần giải thích quyết định này không chỉ bao gồm phán quyết (Arbitral arward, Urteil) mà bao gồm tất cả các quyết định khác trong tố tụng trọng tài, ví dụ các lệnh tạm thời.
- LTT 2010 là một thành tựu lập pháp quan trọng. Các quy định về biện pháp KCTT trong Luật này được thiết kế uyển chuyển và hợp lý, hiệu quả của chúng có thể cần phải chờ đợi sự phán xét từ thực tiễn và nên được đánh giá chung trong tổng thể hệ thống pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.
Nguồn: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ

KINH NGHIỆM CỦA DOANH NGHIỆP VÀ QUÁ TRÌNH ĐIỀU TRA CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ

GS. BRUCE A. BLONIGEN – Khoa Kinh tế thuộc Đại học Oregon, chuyên gia nghiên cứu của NBER, Cộng tác viên của Trung tâm Nghiên cứu Toàn cầu hóa và Chính sách Kinh tế Leverhulme (GEP)
Giới thiệu
Điều tra chống bán phá giá (AD) bắt đầu khi có đơn kiện của một bên trong nước có liên quan. Đây là một nhà sản xuất điển hình (hoặc một nhóm nhà sản xuất) mà sản phẩm của họ đang cạnh tranh với các sản phẩm nhập khẩu là đối tượng của cuộc điều tra. Sau đó cơ quan có thẩm quyền điều tra sẽ xác định thực sự có bán phá giá hay không, bán phá giá được định nghĩa là việc doanh nghiệp nước ngoài bán sản phẩm với giá thấp hơn giá công bằng hay giá thông thường, và liệu những hành động thương mại như vậy có gây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa trong vụ kiện hay không. Nếu những tiêu chuẩn này thoả mãn, một mức thuế chống bán phá giá tương đương với biên độ phá giá đã tính toán sẽ được áp dụng với các sản phẩm nhập khẩu. Ở Hoa Kỳ, việc tính toán biên độ phá giá do Cục Thương mại Quốc tế của Bộ Thương mại Hoa Kỳ (USDOC) tiến hành, và Uỷ ban Thương mại Quốc tế (USITC) sẽ xác định tổn thất.
Có sự tác động qua lại rất lớn giữa những người đệ đơn kiện và cơ quan có thẩm quyền điều tra chống bán phá giá ở Hoa Kỳ. Bên đệ đơn phải trình cho cơ quan có thẩm quyền một đơn kiện phù hợp về trường hợp mà họ muốn điều tra và sau đó cung cấp đầy đủ thông tin cũng như các phân tích và lý lẽ pháp lý trong suốt quá trình điều tra. Các thông tin chi tiết về luật pháp cũng như cách thức mà các cơ quan của chính phủ áp dụng luật trong các trường hợp thực tế là rất quan trọng. Sự phức tạp của việc kiện tụng và quá trình đưa ra biện pháp chống bán phá giá cho thấy rằng việc các bên đệ đơn có kinh nghiệm hay có ý thức học hỏi đóng một vai trò quan trọng trong quá trình kiện và kết quả của vụ kiện chống bán phá giá. Đặc biệt, người ta cho rằng các kinh nghiệm sẵn có làm giảm chi phí kiện về sau và đồng thời cũng làm tăng ảnh hưởng của những người đệ đơn khi họ tranh cãi về vụ kiện và có nhiều khả năng thu được kết quả có lợi hơn. Việc nhận thức về những tác động như vậy rõ ràng thúc đẩy việc đệ đơn nhưng tác động của nó đến kết quả vụ kiện còn rất mơ hồ như chúng ta xem xét chi tiết ở phần tiếp theo. Mặc dù việc học hỏi có thể làm tăng khả năng đưa ra phán quyết có lợi ở những vụ kiện này, nhưng người ta lại coi trọng chi phí kiện thấp hơn là những tác động như vậy nên họ thường sẽ lựa chọn các vụ kiện thiếu lý lẽ hơn.

Nghiên cứu này lần đầu tiên dự báo và xem xét một cách hệ thống tác động tiềm ẩn của việc tìm hiểu về cách thức đệ đơn kiện và kết quả của vụ kiện chống bán phá giá. Chúng tôi dùng những số liệu chi tiết về vụ kiện chống bán phá giá và kết quả ở Hoa Kỳ từ những năm 1980 đến những năm 1990 để kiểm chứng các giả thuyết của mình. Những phân tích thực nghiệm của chúng tôi cho thấy rằng việc tìm hiểu có tác động lớn đến việc đệ đơn. Mọi thứ khác không đổi, ngay cả những tác động lên ngành sản xuất nội địa trong khoảng thời gian đồng nhất, các hoạt động chống bán phá giá trước đó trong ngành sản xuất SIC có 4 con số làm tăng khả năng đệ đơn chống bán phá giá trong một năm của một ngành sản xuất trung bình từ mức cơ bản 2% lên 9%. Việc học hỏi (hoặc các kinh nghiệm) của những người đệ đơn cũng ảnh hưởng tới kết quả của cuộc điều tra chống bán phá giá ở Hoa Kỳ. Đối với biên độ chống bán phá giá, các kinh nghiệm sẵn có thực sự đã khiến cho biên độ phá giá thấp hơn khoảng 12%, trong khi biên độ mẫu trung bình là 43.5%. Thực tế này phù hợp với trường hợp mà tác động của các kinh nghiệm tới chi phí kiện (và hệ quả là làm tăng các vụ kiện thiếu lý lẽ) chiếm ưu thế hơn bất cứ tác động nào tới người đệ đơn để có được biên độ phá giá cao. Mặt khác, chúng tôi cũng tìm thấy những bằng chứng cho thấy khả năng đưa ra một phán quyết chắc chắn tăng từ khoảng 42% lên 54% khi những người đệ đơn đã có kinh nghiệm cho dù họ lựa chọn cùng các vụ kiện thiếu lý lẽ với chi phí thấp. Một cách tương tự, những kinh nghiệm sẵn có làm tăng khả năng đưa ra một thoả thuận đình chỉ từ 3% lên 7%. Tóm lại, những kinh nghiệm sẵn có khiến cho người ta đệ đơn kiện nhiều hơn và các bằng chứng cho thấy rằng số lượng đơn tăng lên là do các vụ kiện thiếu lý lẽ. Các kinh nghiệm sẵn có cũng giúp cho những người đệ đơn có nhiều khả năng đạt được kết quả có lợi hơn nhưng hầu như không có tác động lên biên độ phá giá, do vậy việc tăng các vụ kiện thiếu lý lẽ sẽ khiến biên độ phá giá giảm đi đáng kể với những người đã có kinh nghiệm đệ đơn kiện. Một lưu ý cuối cùng là mặc dù ngành sản xuất thép có một số lượng lớn những người đã nhiều lần đệ đơn kiện chống bán phá giá ở Hoa Kỳ thì kết quả chúng tôi thu được không thể hiện chi tiết về ngành thép và cũng không thay đổi đáng kể khi chúng tôi loại bỏ những quan sát về hoạt động chống bán phá giá trong ngành sản xuất thép ra khỏi mẫu. Phần còn lại của nghiên cứu này theo trình tự như sau: Phần hai sẽ là lý thuyết ngắn gọn về việc kinh nghiệm sẵn có ảnh hưởng như thế nào lên hoạt động đệ đơn và kết quả chống bán phá giá ở Hoa Kỳ. Phần ba sẽ cung cấp những số liệu chi tiết về những người đệ đơn lặp lại được chọn làm mẫu trong số liệu chống bán phá giá của Hoa Kỳ và cuối cùng là phần bốn đưa ra những phân tích số liệu quan trọng về tác động của các kinh nghiệm sẵn có.
2. Các kinh nghiệm sẵn có ảnh hưởng thế nào đến cách thức đệ đơn và kết quả của vụ kiện chống bán phá giá
Căn cứ vào việc đệ đơn thì có một giả thuyết rõ ràng là các kinh nghiệm sẵn có làm tăng khả năng đưa ra một phán quyết chống bán phá giá chắc chắn với các điều kiện khác không đổi. Tác động này được đưa ra với những giả thuyết sau 1) sự mơ hồ khi áp dụng luật, 2) những người đệ đơn cũng đưa sự mơ hồ này vào vụ kiện cụ thể của họ, và 3) kinh nghiệm sẵn có của những người đệ đơn giúp họ biết cách tranh luận sắc bén hơn trong vụ kiện. Tất cả những giả thuyết này dường như phù hợp với các vụ kiện chống bán phá giá ở Hoa Kỳ. Chúng ta nhận thấy rõ sự mơ hồ khi áp dụng luật trong văn bản làm rõ các thực tiễn tuỳ ý mà Bộ thương mại áp dụng để tính toán biên độ phá giá cho những vụ kiện mà các yếu tố phi kinh tế ảnh hưởng tới phán quyết của USITC. Trong phần trả lời công khai của cả hai cơ quan (USITC và USDOC) về những vấn đề trong phán quyết của họ mà người đệ đơn đưa ra thì người đệ đơn cũng góp phần giải quyết điều mơ hồ này. Thêm vào đó, các quyết định có thể bị phản đối hoặc ủng hộ trước khi bắt đầu quá trình giải quyết tranh chấp. Trong trường hợp này, không khó để có thể hình dung rằng người đệ đơn có nhiều khả năng để thu được kết quả có lợi hơn bằng những kinh nghiệm kiện chống bán phá giá sẵn có.
Tuy nhiên, bài thảo luận này sẽ không xem xét tác động của kinh nghiệm đến việc một đơn kiện chống bán phá giá có được nộp lần đầu tiên hay không và cũng coi những người đệ đơn có kinh nghiệm tương tự như những người đệ đơn lần đầu trong các vụ kiện. Điều này có thể không đúng. Đặc biệt nếu kinh nghiệm làm giảm chi phí kiện tụng thì có thể dẫn đến việc người đệ đơn đưa ra những vụ kiện thiếu lý lẽ, thực tế có nhiều việc để làm hơn. Do vậy kinh nghiệm không chỉ tác động trực tiếp tới kết quả vụ kiện mà còn tác động lên chi phí kiện tụng. Để giải quyết vấn đề này, chúng tôi sẽ bắt đầu tập trung vào một doanh nghiệp sản xuất sản phẩm cạnh tranh với nguồn hàng nhập khẩu tiềm năng từ nước ngoài ở một hay nhiều sản phẩm. Trong trường hợp này một doanh nghiệp sẽ đánh giá quy tắc ra quyết định như sau cho mỗi khả năng kết hợp giữa sản phẩm và hàng nhập khẩu, với j Î J, doanh nghiệp sẽ đệ đơn kiện chống bán phá giá nếu mỗi sự kết hợp thoả mãn:
clip_image002
Vế trái của công thức (1) biểu thị cho lợi ích kỳ vọng thu được từ việc đệ đơn, trong đó clip_image004 và clip_image006 biểu thị cho các khả năng ra phán quyết chắc chắn hay đình chỉ và clip_image008 và clip_image010 biểu thị cho lợi ích khác 0 không được tính đến từ kết quả thu được. Các khả năng có phán quyết đình chỉ, chắc chắn hay bất lợi cộng lại thành 1 và lợi ích thu được nếu kết quả bất lợi là 0. Các khả năng và lợi ích thu được không tính đến từ các phán quyết đình chỉ và chắc chắn phụ thuộc vào một tập hợp các biến số bao gồm đặc điểm người đệ đơn, các điều kiện kinh tế vĩ mô, đặc điểm sản phẩm/ngành sản xuất và bản chất của cạnh tranh giữa những người đệ đơn và đối thủ cạnh tranh của họ, trong đó Zj biểu thị cho phán quyết chắc chắn và Xj biểu thị cho thoả thuận đình chỉ. Hai tập hợp biến số này là khác nhau vì thí dụ như các biến số trong Xj bao gồm cả những yếu tố phụ xác định vị thế thương lượng tương đối mà ảnh hưởng tới khả năng chấp thuận một thoả thuận đình chỉ và lợi ích kỳ vọng không được tính đến thu được sau đó từ một thoả thuận như vậy. Lợi ích không được tính đến trong trường hợp phán quyết chắc chắn bị ảnh hưởng bởi độ lớn của biên độ phá giá, ký hiệu là DM. Ở vế phải của công thức, FC biểu thị cho chi phí kiện và các chi phí có liên quan khác của người đệ đơn trong một vụ kiện chống bán phá giá ở Hoa Kỳ với giả thiết các chi phí này là như nhau với các sản phẩm. E biểu thị cho kinh nghiệm của một doanh nghiệp mà chúng tôi nhấn mạnh trong bài thảo luận dưới đây và giả sử rằng E đặc trưng cho doanh nghiệp chứ không đặc trưng cho vụ kiện (vì thế không có chỉ số dưới j). Cuối cùng clip_image012 biểu thị cho lợi ích thuần kỳ vọng không được tính đến của các vụ kiện trong tương lai tính từ khi đệ đơn vụ kiện này và giả sử là như nhau cho j sản phẩm.
Rất nhiều trường hợp phù hợp với công thức (1) và nguyên tắc ra quyết định theo công thức này, mỗi trường hợp có ý nghĩa khác nhau trong việc chuyển các kinh nghiệm thành kết quả vụ kiện chống bán phá giá. Để hiểu được điều này và thu hẹp trọng tâm nghiên cứu, giả sử rằng tập hợp các vụ kiện có khả năng xảy ra với một doanh nghiệp trong một thời điểm nhất định là một tập hợp liên tục tuân theo quy tắc phân phối đều, clip_image014 và không có kinh nghiệm (E=0), có một tập hợp phụ các trường hợp mà lợi ích kỳ vọng vượt quá chi phí ước tính, clip_image016. Xj và Zj là một nhóm các yếu tố thể hiện cho cả các khả năng và lợi ích không được tính đến trong công thức trên và cả biên độ phá giá. Nếu Xj và Zj là các hàm tăng thì người ta có thể nghĩ đến một tập hợp các vụ kiện trong clip_image016[1] với các giá trị Xj và Zj đủ lớn. Ban đầu chúng tôi cũng giả sử rằng thuế chống bán phá giá trong các giai đoạn trước kia không được duy trì lâu dài. Giả thiết này chỉ ra rằng chúng tôi lấy mẫu thay thế từ giai đoạn này sang giai đoạn khác, tuy nhiên dưới đây chúng tôi sẽ trình bày ngắn gọn về các kết quả có khả năng xảy ra nếu chúng tôi lấy mẫu mà không thay thế các doanh nghiệp đệ đơn chống bán phá giá.
Với giả thiết như vậy, giờ đây chúng tôi có thể đánh giá được các tác động có thể có của kinh nghiệm (E) tới quyết định đệ đơn kiện chống bán phá giá và kết quả thu được trung bình của vụ kiện. Trước tiên, giả sử E chỉ tác động đến chi phí kiện chứ không tác động đến xác suất đưa ra kết quả của vụ kiện hay độ lớn của biên độ phá giá (đạo hàm từng phần của DM(.), clip_image004[1] (.) và clip_image006[1](.) với E bằng 0). Trong trường hợp này, E tăng chỉ làm giảm chi phí kiện, FC. Kết quả ngay lập tức sẽ là một tác động có lựa chọn, có nhiều vụ kiện thoả mãn công thức (1) hơn và có nghĩa là số doanh nghiệp đệ đơn sẽ tăng lên. Tuy nhiên, nếu kinh nghiệm không ảnh hưởng tới kết quả của vụ kiện chống bán phá giá thì những vụ kiện mới được lựa chọn sẽ có khả năng thành công thấp hơn và biên độ phá giá nhỏ hơn. Do vậy trong trường hợp này chúng tôi mong muốn số lượng đơn kiện (hay khả năng kiện) tăng lên mặc dù đối với những người đệ đơn có kinh nghiệm thì biên độ phá giá trung bình và các khả năng đưa ra phán quyết có lợi là giảm.
Trong trường hợp ngược lại, biên độ phá giá và các khả năng đưa ra quyết định tăng khi kinh nghiệm không có ảnh hưởng gì tới chi phí kiện. Trong trường hợp này, biên độ phá giá và khả năng đưa ra các phán quyết chắc chắn và đình chỉ (hay có lợi) tăng lên trong tất cả các vụ kiện khả thi thuộc tập hợp clip_image018. Vì vậy lợi ích kỳ vọng trong nhiều vụ kiện lớn hơn chi phí kiện và số đơn kiện tăng lên. Tuy nhiên, không giống như những trường hợp trước, chúng tôi thấy biên độ phá giá trung bình và khả năng đưa ra phán quyết có lợi tăng, do mức lợi ích cần thiết để vượt qua chi phí không thay đổi. Điều này phụ thuộc vào giả thiết phân phối đều của clip_image018[1]. Nếu số lượng các vụ kiện chuyển từ không đệ đơn sang đệ đơn có kinh nghiệm bằng số các vụ kiện trong tập clip_image018[2]0 gồm những người đệ đơn không có kinh nghiệm, khi đó biên độ phá giá trung bình và khả năng ra các phán quyết có lợi không tăng mà thậm chí còn giảm.
Có lẽ trường hợp chắc chắn nhất là có nhiều kinh nghiệm hơn sẽ làm tăng biên độ phá giá và khả năng của phán quyết có lợi đồng thời giảm chi phí kiện. Do cả hai trường hợp trên đều khiến cho số đơn kiện tăng lên nên trường hợp này cũng được dự báo tương tự. Tuy nhiên ảnh hưởng tới biên độ phá giá và các khả năng của phán quyết có lợi là không rõ ràng và phụ thuộc vào tác động của kinh nghiệm tới chi phí kiện hoặc tới lợi ích kỳ vọng. Nếu kinh nghiệm tác động chủ yếu tới chi phí kiện thì kinh nghiệm sẽ làm giảm biên độ phá giá trung bình và khả năng có được phán quyết có lợi, và nếu kinh nghiệm chủ yếu ảnh hưởng tới lợi ích kỳ vọng chứ không phải chi phí kiện thì kinh nghiệm sẽ làm tăng biên độ phá giá trung bình và khả năng có được phán quyết có lợi.
Trường hợp mà không thể trực tiếp áp dụng công thức (1) thì các doanh nghiệp có thể sử dụng các đơn chống bán phá giá để thúc đẩy sự hợp tác hoặc các hiệp định hợp tác ngầm. Những trường hợp này được đưa ra ở Prusa (1992) và trong cuộc thảo luận về “những người đệ đơn theo quy trình” ở Staiger và Wolak (1994). Trong trường hợp này, quy trình chống bán phá giá hầu như không đóng nhiều vai trò trong việc mang lại lợi ích kỳ vọng, những vụ kiện này không chắc là sẽ đưa ra được mức thuế chống bán phá giá kể cả khi đã hoàn tất điều tra và cơ quan có thẩm quyền điều tra không tham gia vào việc đàm phán một thoả thuận đình chỉ. Do vậy kinh nghiệm có thể chỉ ảnh hưởng đến chi phí kiện. Vì thế chúng tôi mong rằng kinh nghiệm cũng có tác động tương tự như trong trường hợp đầu tiên đã thảo luận trên đây nếu đơn kiện chống bán phá giá là nhằm thúc đẩy hoặc duy trì hợp tác, kinh nghiệm làm số đơn kiện tăng lên nhưng giảm biên độ phá giá và các khả năng đưa ra phán quyết có lợi. Đây có lẽ là trường hợp rõ ràng nhất mà kinh nghiệm giúp các doanh nghiệp tận dụng lợi thế để hành động hiệu quả hơn trong quy trình chống bán phá giá.
Cuối cùng, giả sử rằng quy trình chống bán phá giá ở các vụ kiện trước là không thay đổi – đây là điều kiện đủ cho các doanh nghiệp lựa chọn vụ kiện mẫu để đệ đơn mà không có sự thay thế. Trong trường hợp này, doanh nghiệp sẽ đưa ra một số vụ kiện tiêu biểu nhất trong giai đoạn đầu, tìm hiểu các tác động của chúng và sau đó đưa ra những vụ kiện ít tiêu biểu hơn trong giai đoạn tiếp theo, v.v. Nếu như việc tìm hiểu các tác động trong những vụ kiện phụ giảm đi thì hoạt động đệ đơn cuối cùng cũng sẽ giảm đi trong trường hợp không có sự thay thế nào. Nói cách khác ảnh hưởng của kinh nghiệm là sẽ làm hoạt động đệ đơn tăng lên nhanh chóng sau giai đoạn đầu tiên nhưng sau đó sẽ giảm dần khi tất cả các vụ kiện khả thi có lợi ích thuần có quyết định áp thuế chống bán phá giá trong thời gian dài. Biên độ phá giá và các khả năng đưa ra phán quyết có lợi cũng giảm trong trường hợp này giống như trường hợp có sự thay thế, trừ phi tác động của nó mạnh đến nỗi mà các vụ kiện thiếu lý lẽ trong giai đoạn đầu sẽ tiến triển tốt hơn một cách tương đối so với những vụ kiện được đệ đơn lần đầu tiên.
Phần còn lại của nghiên cứu chuyển sang xem xét dữ liệu để phân tích những mơ hồ trong lý thuyết về việc liệu kinh nghiệm sẽ làm tăng lên hay giảm đi biên độ phá giá và các khả năng đưa ra phán quyết có lợi cũng như kinh nghiệm đó ảnh hưởng thế nào đến hoạt động đệ đơn chống bán phá giá. Chúng tôi sẽ xem xét qua về những phân tích chi tiết trong phần tiếp theo trước khi chuyển sang những phân tích số liệu chính thức.
Nguồn: VCCI