Thứ Hai, 2 tháng 5, 2011

MẤY VẤN ĐỀ VỀ ĐỔI MỚI KINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra và luận giải sự kết hợp, hòa trộn, thống nhất biện chứng giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, giữa kinh tế và chính trị là nét độc đáo riêng của Việt Nam. Từ thực tiễn của hơn 20 năm đổi mới trong lĩnh vực này, tác giả đã đưa ra những yêu cầu mới và một số vấn đề cần quan tâm trong đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong giai đoạn tới đây của công cuộc đổi mới ở Việt Nam.
Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam được chính thức bắt đầu từ 1986 với khâu đột phá là đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế. Không thể nói một cách đơn giản rằng, ở Việt Nam, đổi mới kinh tế trước đổi mới chính trị sau. Trên thực tế, hai quá trình đó không tách rời nhau. Nhưng, rõ ràng là, Việt Nam đổi mới tư duy kinh tế trước, đổi mới tư duy chính trị sau theo nghĩa đổi mới chính trị ngay từ đầu đã không phải là trọng tâm và chủ yếu. Đổi mới tư duy, đổi mới các quan điểm, quan niệm về phương thức phát triển đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam, dù trước hết trong kinh tế thì cũng đã là đổi mới chính trị. Đổi mới các quan điểm chính trị chính là bước khởi đầu cho đổi mới trong kinh tế và trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.
Nếu xét từ góc độ đó thì đổi mới ở Việt Nam lại không phải bắt đầu từ đổi mới kinh tế, mà đúng ra là bắt đầu từ đổi mới quan điểm, đường lối về cách thức phát triển kinh tế của Đảng, nghĩa là bắt đầu từ đổi mới các quan điểm chính trị trong lĩnh vực kinh tế. Dĩ nhiên, đổi mới chính trị ở đây chưa phải là đổi mới đồng bộ, toàn diện, tất cả các yếu tố, bộ phận của chính trị nói chung. Nhưng, rõ ràng là, không có đổi mới quan điểm về cách thức phát triển đất nước thì không thể có những thành tựu phát triển kinh tế – xã hội trong đổi mới vừa qua. Nếu nhìn cả vào những tìm tòi, thử nghiệm trước Đại hội Đảng lần thứ VI thì rõ ràng là việc đổi mới quan điểm chính trị về phương thức phát triển kinh tế đã được bắt đầu sớm hơn nhiều so với mốc thời gian của Đại hội VI(1).
Trong quan hệ đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam khó có thể nói đổi mới kinh tế trước hay đổi mới chính trị trước. Nếu xét từng yếu tố riêng lẻ thì có thể kết luận là đổi mới kinh tế hoặc đổi mới chính trị trước. Nhưng, nếu xét tổng thể, toàn diện thì các kết luận như vậy là thiếu căn cứ. Sự kết hợp, hoà trộn giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, sự thống nhất biện chứng giữa kinh tế và chính trị, giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là nét độc đáo riêng của Việt Nam, khác với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây.

Công cuộc đổi mới ở Việt Nam đã tiến hành được hơn 20 năm. Những thành tựu to lớn của đổi mới có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ với hôm nay, mà cả với ngày mai. Đời sống xã hội đang thay đổi khá nhanh chóng trên trên tất cả các phương diện và các lĩnh vực khác nhau. Nhưng, nhìn chung, công cuộc đổi mới đang như một công trường xây dựng chưa hoàn thành, còn ngổn ngang công việc. Có những việc đã làm xong, nhiều việc đang làm dở, nhiều việc khác cần phải làm nhưng lại chưa làm được. Nếu đặt đổi mới trong tổng thể quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì những việc đã, đang và sẽ phải làm, có thể được đánh giá ở tầm chiến lược một cách đầy đủ, toàn diện hơn. Tính bề bộn, dang dở, trình tự các việc phải làm và tầm cỡ của mỗi việc cần phải được nhìn nhận lại một cách đầy đủ, khách quan, khoa học hơn. Từ đó, mới có thể rút ra được những bài học kinh nghiệm thực sự bổ ích và thiết thực hơn, giúp cho sự phát triển bền vững nhanh hơn, mạnh hơn trong thời gian tới.
Hiện nay, công cuộc đổi mới quan điểm chính trị về kinh tế và đổi mới kinh tế nói chung đang thực sự bước vào một giai đoạn mới. Những yêu cầu về đổi mới quan điểm phát triển kinh tế và đổi mới kinh tế đang đòi hỏi phải có những đột phá mới. Mặc dầu những tư tưởng, quan điểm được Đại  hội VI và các Đại hội tiếp theo của Đảng nêu ra có tính chất bước ngoặt, phá vỡ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, xóa bỏ bao cấp, bước đầu chấp nhận kinh tế thị trường và sở hữu cá thể, nhưng tính chất đồng bộ, toàn diện và triệt để của những quan điểm mới vẫn còn bị hạn chế. Đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị hiện nay sẽ không còn đầy đủ và triệt để, sẽ không đồng bộ và toàn diện, nếu chỉ dừng lại ở việc đa dạng hoá các hình thức sở hữu, các khu vực kinh tế, xoá bỏ bao cấp và thay thế cơ chế kế hoạch hoá tập trung, mệnh lệnh, bao cấp bằng cơ chế kinh tế thị trường chưa phát triển đầy đủ và đồng bộ. Thực tiễn đời sống xã hội đang đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa trong các lĩnh vực, như phân phối, quản lý và điều hành nền sản xuất, xã hội. Đòi hỏi này được thể hiện bằng hàng loạt những vấn đề đang được đặt ra một cách cấp thiết trên bình diện xã hội: cải cách chế độ tiền lương, thực hiện công bằng xã hội, đổi mới phương thức quản lý đời sống kinh tế, xã hội (quản lý hộ khẩu, thuế thu nhập cá nhân, bất động sản, lao động,v.v.).
Mặt khác, sự phát triển kinh tế trong hơn hai thập kỷ đổi mới vừa qua cũng đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa trên lĩnh vực chính trị, trong đó có cả những lĩnh vực, những vấn đề mà, từ trước đến nay, hầu như chưa động chạm đến nhiều. Thực tiễn đời sống xã hội đang bức xúc về những vấn đề, như cải cách hành chính, dân chủ hoá, tổ chức lại bộ máy chính phủ và hệ thống chính quyền các cấp, đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và quan hệ Đảng – Nhà nước – các đoàn thể chính trị, xã hội, v.v.. Tính bức xúc đòi hỏi phải đổi mới hệ thống chính trị xuất phát trước hết từ nhu cầu phát triển và đổi mới kinh tế đã diễn ra trong hơn 20 năm qua tích tụ lại. Sự bất cập, thiếu đồng bộ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị đã gây ảnh hưởng kìm hãm sự phát triển và đổi mới tiếp tục tiến xa hơn nữa.
Trên một góc độ khác, mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, như đã nói, lại có quan hệ gắn bó với nhu cầu nội tại của sự phát triển tiếp theo của đất nước. Thực tiễn đổi mới kinh tế đang đòi hỏi đổi mới chính trị phải nới lỏng hơn nữa, phải tháo gỡ những trói buộc của các quan điểm chính trị, các chính sách, thiết chế, cơ chế hoạt động, tổ chức bộ máy… Nhu cầu đổi mới hệ thống chính trị, các tư tưởng, quan điểm, tâm lý chính trị, những thiết chế và cơ chế hoạt động của các tổ chức chính trị, đặc biệt là của bộ máy nhà nước, để mở đường cho kinh tế và xã hội phát triển bền vững luôn là một nhu cầu khách quan xuất phát từ sự phát triển xã hội.
Đòi hỏi đổi mới chính trị hiện nay được tích tụ nhiều năm trong quá trình đổi mới được thể hiện ở nhiều vấn đề, trong nhiều lĩnh vực và với các mức độ, quy mô khác nhau. Nhưng, tựu trung lại, dưới dạng tổng quát, cô đọng và tập trung nhất là đổi mới nhận thức về chủ nghĩa xã hội và những đặc điểm của thời đại ngày nay. Mọi sự ràng buộc, lệ thuộc, thậm chí có thể nói, tình trạng nô lệ cho những quan điểm và thể chế cũ đang là xiềng xích trói buộc đổi mới chính trị và kìm hãm đổi mới kinh tế ở Việt Nam. Nhìn lại cuộc thảo luận vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân ngay trước Đại hội X của Đảng vừa qua, chúng ta có thể thấy rõ tình trạng này. Hàng loạt vấn đề khác được thảo luận sôi nổi thời gian qua, như quản lý hộ khẩu, các thủ tục hải quan, thuế thu nhập cá nhân, quản lý bất động sản, cải cách thủ tục hành chính, tổ chức lại bộ máy hành pháp các cấp, cơ chế và quan hệ Đảng -  Nhà nước – các đoàn thể chính trị – xã hội,… đang là những vấn đề bức xúc của đời sống chính trị – xã hội. Đó là những bức xúc thể hiện nhu cầu nội tại của sự phát triển kinh tế – xã hội trong nhiều năm qua.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay, không chỉ đổi mới kinh tế, mà cả đổi mới chính trị ngày càng trở thành nhu cầu bức xúc hơn. Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế thúc đẩy mạnh mẽ nhu cầu đổi mới nội tại, đồng thời tạo cơ hội cho đổi mới kinh tế và chính trị rộng lớn hơn, đồng bộ và toàn diện hơn, sâu sắc và triệt để hơn. Sự tác động ấy, một mặt, trực tiếp buộc chúng ta phải thay đổi một số thể chế, luật pháp, quy trình thực hiện, quan điểm và phương pháp đánh giá các vấn đề kinh tế, xã hội, v.v.. Mặt khác, nó thúc đẩy nhu cầu nội tại, bên trong của Việt Nam về đổi mới một cách mạnh mẽ hơn. Đổi mới ở giai đoạn hiện nay và sắp tới gắn bó chặt chẽ và chịu tác động của toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế lớn hơn nhiều so với khi chúng ta bắt đầu đổi mới năm 1986. Nhu cầu đổi mới cả kinh tế lẫn chính trị đòi hỏi phải có những đột phá căn bản. Nếu như ở giai đoạn trước đây, đổi mới cả kinh tế lẫn chính trị đã động chạm đến phần ngoài thì sắp tới, đổi mới buộc phải động chạm đến phần nhân lõi: hệ thống chính trị, phương thức phân phối, công bằng xã hội, dân chủ và văn minh,…, bởi nó trực tiếp động đến nền tảng chính trị và kinh tế của toàn xã hội và của các bộ phận dân cư nhạy cảm nhất.
Điều đó khiến cho công cuộc đổi mới ở giai đoạn sắp tới phức tạp hơn, khó khăn hơn. Trước đây, khi bắt đầu đổi mới, xã hội trong trạng thái khủng hoảng, các tầng lớp dân cư đều có nhu cầu bức thiết về đổi mới với mức độ tương đồng, do đó dễ dàng thống nhất mục tiêu, biện pháp. Việc khởi xướng đổi mới tư duy, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, dễ dàng nhận được sự đồng thuận xã hội rộng rãi và sâu sắc. Tình hình hiện nay không hoàn toàn giống như hơn 20 năm trước đây. Phân tầng xã hội trong hơn 20 năm qua tạo nên những lợi ích và nhu cầu khác nhau đối với giai đoạn tiếp theo của đổi mới. Giai đoạn tiếp theo cũng không thể chỉ xác định trọng tâm duy nhất của đổi mới chỉ là đổi mới kinh tế. Bối cảnh quốc tế cũng như những đòi hỏi nội tại của xã hội đang yêu cầu đổi mới trong giai đoạn tiếp theo phải xem đổi mới chính trị như một trong những trọng tâm quan trọng để thúc đẩy đổi mới kinh tế. Hơn nữa, đó phải là những đổi mới quan điểm một cách căn bản, đột phá để tạo nên bước phát triển nhảy vọt nhưng vững chắc. Đổi mới kinh tế vẫn phải đồng hành với đổi mới chính trị, nhưng đổi mới chính trị trong giai đoạn tới phải được chú trọng và nhấn mạnh hơn để tạo ra những bước đột phá mới, căn bản. Nếu không có những bước đột phá căn bản, mới trong đổi mới, Việt Nam vẫn có thể phát triển đều và ổn định, nhưng sẽ không rút ngắn được khoảng cách tụt hậu so với các nước phát triển cao. Điều này đã được các nhà lãnh đạo và các học giả, quần chúng nhân dân nhận thức rõ. Đây sẽ là lực lượng và động lực quan trọng cho giai đoạn đổi mới tiếp theo.
Như vậy, trong giai đoạn tiếp theo vẫn phải là đổi mới trước hết các quan điểm, quan niệm về con đường, phương thức phát triển nhưng không còn thuần túy là phương thức phát triển kinh tế. Đổi mới sẽ phải là đổi mới đồng bộ hơn, cả kinh tế lẫn chính trị, trong đó đổi mới chính trị phải được chú trọng nhiều hơn, đụng chạm trực tiếp nhiều hơn đến những vấn đề của hệ thống chính trị, như tổ chức bộ máy nhà nước các cấp, cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị, các quan điểm và cơ chế thực hiện công bằng, dân chủ,… Đó là một đòi hỏi khách quan của xu thế phát triển chung của đất nước trong bối cảnh mới nói chung và của đổi mới trong giai đoạn hiện nay nói riêng. Đòi hỏi đó buộc chúng ta phải suy ngẫm, tìm tòi để phát hiện ra mắt xích then chốt cần đổi mới hiện nay là gì. Đó là những nhận định chung, tổng quát, bao trùm về những nét chung và chính yếu nhất, là bức tranh chung về quan hệ đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, trên thực tế, chúng ta thấy tương quan giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong những nét chi tiết đang diễn biến rất đa dạng và đa chiều cả trong nhận thức lẫn trong hiện thực.
Phân tích thực chất và hiện trạng của đổi mới ở nước ta, có thể nêu lên một số vấn đề chính cần lưu ý nhiều hơn trong đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị giai đoạn 5 đến 10 năm tới như sau:
Thứ nhất, trong giai đoạn tiếp theo, thực tiễn đang đòi hỏi phải đổi mới chính trị với tốc độ nhanh hơn, toàn diện hơn, đồng bộ hơn, “cởi trói” để giải phóng các tiềm năng xã hội làm cho kinh tế phát triển mạnh hơn, đời sống xã hội vận động nhanh hơn. Cần nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của mối quan hệ biện chứng giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị và quán triệt triệt để, nhất quán mối quan hệ biện chứng ấy trong suốt quá trình đổi mới và trong tất cả các vấn đề của đổi mới. Đổi mới tiếp theo là phải đổi mới cả ý thức chính trị và tư duy chính trị, đổi mới không chỉ những quan điểm chính trị, tư duy chính trị mà là đổi mới cách thức giải quyết hàng loạt vấn đề cụ thể của đời sống xã hội, như cải cách hành chính, quan hệ Đảng – Nhà nước – các đoàn thể chính trị, xã hội,… Việc đổi mới đường lối cần phải được tiến hành đồng thời vừa trên cơ sở nghiên cứu lý luận, vừa trên cơ sở nghiên cứu và tổng kết thực tiễn. Điều đó, một mặt, giúp chúng ta tránh được chủ quan, giáo điều sách vở; mặt khác, tránh được chủ nghĩa kinh nghiệm, thiếu nhìn xa trông rộng, “chỉ thấy cây mà không thấy rừng”, chỉ thấy trạng thái tĩnh mà không thấy trạng thái động. Điều này cũng là hợp lôgíc với nguyên tắc đổi mới kinh tế đi trước một bước so với đổi mới chính trị. Những đổi mới về kinh tế của chúng ta sẽ tiến triển chậm chạp, nếu chúng ta không tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn về chính trị. Đổi mới về chính trị, trước hết là đổi mới về đường hướng phát triển, đổi mới về chính sách, về luật pháp và sau đó, chúng ta phải tính đến việc đổi mới cả hệ thống chính trị.
Thứ hai, cần có đổi mới tư duy mang tính chất cách mạng trong lĩnh vực lý luận chính trị và đường lối đổi mới chính trị để cho đổi mới phát triển một cách toàn diện, đúng hướng, hài hòa, đồng bộ và bền vững. Có thể nói, thể chế kinh tế mới hình thành là không thể đảo ngược và nó đang chờ sự mở đường tiếp theo của cải cách chính trị trước ngã ba đường, cần có những đột phá tiếp tục trong tư duy lý luận về đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Nếu không có những đột phá mang tính cách mạng kiểu như đổi mới tư duy 1986, chúng ta khó có thể đi nhanh, đi trước đón đầu, phát triển "rút ngắn". Điều đó có nghĩa rằng, những năm tới, chúng ta không thể chỉ đẩy mạnh đổi mới chính trị, mà phải đồng thời tiếp tục đổi mới kinh tế. Nhưng, để đổi mới kinh tế mạnh hơn, đồng bộ và toàn diện hơn, có hiệu quả và để kinh tế phát triển với tốc độ nhanh hơn, cần đổi mới chính trị bằng những đột phá trong quan điểm lý luận chính trị. Chủ trương đảng viên được phép làm kinh tế tư nhân tại Đại hội X của Đảng là một đột phá. Nhưng chúng ta cần nhiều đột phá trong tư duy lý luận chính trị hơn nữa.
Thứ ba, trong đổi mới ở những năm sắp tới cần phòng tránh tình trạng lũng đoạn nhà nước của các nhóm lợi ích. Cần có cơ chế “vận động hành lang” (lobby) công khai, minh bạch, tuân thủ pháp luật. Điều quan trọng nhất trong vấn đề này là, khi thực hiện đổi mới cả chính trị lẫn kinh tế không được để lợi ích các nhóm, tập đoàn lên cao hơn lợi ích quốc gia, dân tộc. Lợi ích của các nhóm, các tập đoàn, cá nhân là động lực quan trọng, nhưng không thể để các nhóm lợi ích lũng đoạn các chính sách, bởi nếu điều đó xẩy ra thì đổi mới sẽ chệch hướng và sự đồng thuận xã hội sẽ bị phá vỡ, quốc gia sẽ phải hứng chịu những bi kịch. Lũng đoạn trong kinh tế sớm muộn cũng sẽ đưa đến lũng đoạn trong chính trị, còn nếu có lũng đoạn trong chính trị thì sẽ nhanh chóng lũng đoạn được kinh tế. Nhiệm vụ quan trọng nhất về phương diện này của Nhà nước là biết điều hòa các lợi ích trên cơ sở đặt lợi ích quốc gia lên trên hết. Bằng cách đó, Nhà nước mới có thể huy động được sức mạnh cộng đồng dân tộc phấn đấu cho mục tiêu chung là “sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”(2). Cần phải sử dụng sức mạnh của các nhóm lợi ích với tư cách một lực của sự phát triển, nhưng lại phải thực hiện công bằng xã hội trong mỗi lĩnh vực, mỗi chính sách, cả trong đổi mới kinh tế lẫn đổi mới chính trị. Làm chủ trong đổi mới bao hàm trong đó nội dung làm chủ việc sử dụng các nhóm lợi ích mà không để các nhóm lợi ích lũng đoạn đổi mới.
Thứ tư, có thể ví đổi mới trong hơn 20 năm qua đã thành công chủ yếu theo bề rộng, đổi mới trong giai đoạn tới đây sẽ diễn ra theo chiều sâu và do vậy, sẽ động chạm nhiều đến lợi ích, đặc quyền, đặc lợi và thậm chí là đặc ân của một số nhóm xã hội nhất định. Bởi thế, đổi mới trong giai đoạn sắp tới chắc chắn sẽ khó khăn hơn, phức tạp hơn, quyết liệt hơn, đòi hỏi quyết tâm và ý chí mạnh mẽ hơn, nhưng lại phải tỉnh táo và sáng suốt. Tiến hành đổi mới kinh tế, đặc biệt là đổi mới chính trị, tuyệt đối không được chủ quan, nóng vội, bất chấp quy luật. Chính trị không thể đi trước quá xa kinh tế và kinh tế không thể thoát ra khỏi chính trị quá xa, tương tự như quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong nhận thức hiện nay. Đổi mới chính trị là đổi mới toàn diện, đổi mới toàn bộ các nội dung, yếu tố của chính trị và do vậy, sẽ động chạm đến toàn bộ hệ thống chính quyền và lợi ích của các nhóm, các cá nhân trong hệ thống đó. Việc đó sẽ làm rung chuyển toàn bộ hệ thống và do vậy, cần hết sức thận trọng, tỉnh táo, sáng suốt, phải chuẩn bị kỹ về lý luận và những điều kiện cần thiết, có bước đi thích hợp và phải làm chủ được quá trình đổi mới trong lĩnh vực này, tránh lặp lại sai lầm trong đổi mới chính trị của Liên Xô trước đây.
Thứ năm, những năm qua, chúng ta đã nhấn mạnh nhiều đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Điều đó hoàn toàn đúng và phù hợp với bối cảnh đất nước chưa thoát khỏi cảnh nghèo đói, khủng hoảng trầm trọng. Đến lúc này, đời sống vật chất của các tầng lớp dân cư đã được cải thiện. Những năm tới sẽ là giai đoạn “cất cánh” của đất nước. Vì vậy, trong đổi mới cần phải tập trung nhiều hơn cho những vấn đề xã hội, như công bằng, bình đẳng, dân chủ,… Đổi mới cả kinh tế lẫn chính trị phải thúc đẩy phát triển và tiến bộ xã hội chứ không chỉ cho tăng trưởng kinh tế. Đây chính là điều mà trong thời gian sắp tới, chúng ta phải quán triệt sâu sắc khi tiến hành đổi mới. Đổi mới là để thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội nhanh hơn, nhân dân giàu có hơn và hạnh phúc hơn, đất nước mạnh hơn, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh hơn. Điều đó cũng có nghĩa rằng, phải tiến hành đổi mới đồng bộ hơn, toàn diện hơn cả trong kinh tế lẫn chính trị và cả trong quan hệ đổi mới kinh tế – đổi mới chính trị. Phải đổi mới mạnh mẽ hơn, đồng bộ, hài hòa hơn, toàn diện hơn trước hết trong kinh tế, phát triển kinh tế với tốc độ nhanh hơn để làm cơ sở cho đổi mới chính trị và đổi mới chính trị để cho đổi mới kinh tế tiếp tục phát triển. Một trong những yếu tố hàng đầu trong đổi mới chính trị là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đây là yếu tố then chốt trong cải cách, đổi mới chính trị hiện nay. Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đang là một đòi hỏi tất yếu, nội tại của sự phát triển và hiện đại hoá đất nước. Nó gắn liền với hàng loạt quá trình kinh tế, xã hội khác của đất nước. Đổi mới chính trị hiện nay cũng phải tuân thủ nguyên tắc là đổi mới chính trị phải làm sao để kinh tế tiếp tục phát triển. Đổi mới chính trị mà kinh tế không phát triển, đời sống nhân dân không được cải thiện, chất lượng cuộc sống của người dân không được nâng lên thì đổi mới chính trị ấy cũng là không hiệu quả. Do vậy, đổi mới chính trị phải hướng đến việc làm cho kinh tế phát triển. Về nguyên tắc, phải đổi mới toàn diện nhưng có trọng tâm. Bởi lẽ, các yếu tố của hệ thống chính trị không ăn khớp, không phù hợp với nhau thì sự đổi mới của yếu tố này có khi lại phủ định sự phát triển của yếu tố khác. Tính toàn diện, theo chúng tôi, phải được đảm bảo, nhưng cũng phải có hướng ưu tiên. Ưu tiên hiện nay là nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Thứ sáu, trong đổi mới chính trị, khâu then chốt là xây dựng, đổi mới và chỉnh đốn Đảng, trước hết là dân chủ nội bộ Đảng và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Một chính đảng lớn bậc nhất thế giới và cũng là lớn nhất trong lịch sử, như Đảng Cộng sản Liên Xô, vẫn bị sụp đổ nhanh chóng, nếu quan liêu, mất dân chủ, xa rời nhân dân, đánh mất lòng tin của dân và sự đồng thuận của xã hội. Đảng phải luôn tự đổi mới, hoàn thiện mình và thực hành dân chủ một cách đầy đủ, nhất quán, rộng rãi trước hết trong Đảng. Đồng thời, phải tạo cho cho xã hội Việt Nam thói quen sinh hoạt dân chủ. Nói cách khác, để tiếp tục đổi mới kinh tế và chính trị thì đổi mới và chỉnh đốn Đảng, trước hết là thực hành thực sự dân chủ trong nội bộ, đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng là khâu đầu tiên cần tiến hành, sau đó mới có thể mở rộng ra phạm vi toàn xã hội.
Thứ bảy, đổi mới trong những năm tiếp theo cả trong kinh tế lẫn chính trị không thể lảng tránh vấn đề quan hệ giữa Đảng – Nhà nước – các đoàn thể chính trị, xã hội. Nếu không đổi mới, Đảng sẽ bị tụt hậu và không thể ngang tầm với những đòi hỏi của sự phát triển. Đổi mới Nhà nước là một đòi hỏi bức xúc của công tác quản lý phát triển kinh tế – xã hội hiện thời. Đổi mới Mặt trận Tổ quốc là một nhiệm vụ quan trọng để có thể thực thi dân chủ một cách rộng rãi và hiệu quả trong xã hội. Đổi mới hệ thống chính trị phải tuân thủ nguyên tắc “chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế”, phục vụ đổi mới kinh tế. Trong bối cảnh kinh tế thị trường ngày càng phát triển, đa thành phần sở hữu, đa hình thức kinh doanh, nhiều nhóm lợi ích xuất hiện, việc dân chủ hóa trong đời sống kinh tế và đời sống xã hội ngày càng gia tăng và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng thì việc tìm kiếm một cơ chế thích hợp với điều kiện Việt Nam cho sự kiểm sát quyền lực kinh tế và chính trị nói riêng, quyền lực xã hội nói chung là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng và cấp thiết. Không có sự kiểm sát quyền lực tốt thì tiêu cực xã hội không thể giảm thiểu. Phải thừa nhận một thực tế là, chúng ta chưa có một cơ chế tốt về kiểm soát, cân bằng quyền lực. Đây cũng chính là nguyên nhân sâu xa của tình trạng lạm quyền hiện nay, gây nên nhiều tiêu cực nghiêm trọng, đe dọa chính uy tín và sự tồn tại của Đảng, Nhà nước và chế độ. Đối trọng quyền lực và tam quyền phân lập là thành quả văn minh nhân loại cần được nghiên cứu kỹ để có thể Việt Nam hóa hoặc tìm ra cơ chế riêng thích hợp với chúng ta.
Theo chúng tôi, đó là những điểm căn bản, then chốt và có ý nghĩa rất quan trọng đối với công cuộc đổi mới. Nó vừa là kinh nghiệm từ quá khứ, vừa là đòi hỏi của hiện tại và tương lai. Trong tổng thể, chúng tạo nên một khối thống nhất, gắn bó chặt chẽ, không thể bỏ qua điểm nào mỗi khi giải quyết bất cứ một vấn đề cụ thể nào của quan hệ đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện nay. Cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn hơn 20 năm đổi mới đều chứng tỏ rằng, kết hợp hài hoà, đồng bộ đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị chính là phương thức phát triển bền vững của đất nước ta, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay và sắp tới. q

(1) Hiện đang có các ý kiến khác nhau về thời điểm bắt đầu đổi mới ở Việt Nam. Một trong số đó xem đổi mới trong thực tế được bắt đầu còn sớm hơn cả Nghị quyết Trung ương 6 năm 1979. Đổi mới bắt đầu từ khi có khoán “chui” trong các hợp tác xã vào những năm 70-80, dù hình thức khoán ấy đã bị loại bỏ ngay khi ra đời không lâu. Cũng do vậy, có người nói rằng, đổi mới nảy mầm từ thực tiễn, Đảng đã biết tổng kết, nhân rộng và phát triển thành sự nghiệp đổi mới hiện nay.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.76.
PGS.TSKH. LƯƠNG ĐÌNH HẢI – Phó viện trưởng Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt
Nguồn: TẠP CHÍ TRIẾT HỌC SỐ 7 (230) năm 2010

XUNG ĐỘT LỢI ÍCH GIỮA CÁ NHÂN VÀ TỔ CHỨC

Lợi ích của cá nhân hay của tổ chức quan trọng hơn? Bất công xảy ra đối với một người là có nguy cơ sẽ xảy ra đối với mọi người!
Báo chí trong nước đưa nhiều tin bài về vụ một huấn luyện viên Taekwondo đi máy bay của Hãng hàng không quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines), và xảy ra va chạm với tiếp viên của hãng hàng không này. Đúng sai thuộc về ai chưa rõ nhưng đây là một điển hình cho xung đột lợi ích hay mâu thuẫn xuất hiện giữa một cá nhân và một tổ chức, hơn nữa, đây là một tổ chức có tính độc quyền về vận chuyển hàng không.
Tin tức khác cho thấy một vài cá nhân ở Hà Nội không đồng ý với quyết định bồi thường di dời căn nhà của mình cho dự án quy hoạch và xây dựng tại khu “đất vàng” của một công ty cổ phần về xây dựng và bất động sản đang thực hiện. Liệu các cá nhân không đồng ý với giá thỏa thuận đền bù có bị “cưỡng chế” giải tỏa để thực hiện dự án cho lợi ích của tổ chức?
Có dư luận cho rằng những người đại diện cho tổ chức như cô tiếp viên của Vietnam Airlines hay lực lượng an ninh hàng không hành động thái quá… Dư luận khác lại ủng hộ “tổ chức” và cho rằng các cá nhân có thể đã hành động “quá đáng”. Vị huấn luyện viên có thể đã “nóng nảy” hay “chống cự”, “bất hợp tác” với nhân viên hàng không… và chủ nhân các ngôi nhà trong dự án quy hoạch có thể đã “quá tham” khi không chấp nhận giá đền bù gần 1 tỉ đồng/mét vuông trong khi đời sống chung của người dân không được như vậy…
Bên cạnh đó, các thông tin phản hồi từ hàng trăm độc giả của các diễn đàn cho thấy có người ủng hộ cá nhân là vị huấn luyện viên không quen biết nọ hay ủng hộ các cá nhân là chủ nhân các ngôi nhà bị quy hoạch giải tỏa ở “khu đất vàng” Hà Nội vì họ ở vị thế yếu, bị “tổ chức” lớn, có tính độc quyền, các dịch vụ được tổ chức đưa ra có tính “không thể không theo hay không sử dụng được”.
Vấn đề đặt ra ở đây là liệu quyền lợi của cá nhân so với tổ chức có công bằng và được đặt ngang nhau? Khi có xung đột lợi ích giữa cá nhân và tổ chức hay tập thể, đặc biệt là các tổ chức có tính độc quyền cao như Vietnam Airlines hay các công ty đầu tư quy hoạch và xây dựng dự án dân cư… thì nên giải quyết trên cơ sở nào?Nếu chúng ta xem nhẹ lợi ích của cá nhân bất chấp các cá nhân này có lý lẽ đúng đắn thì trong tương lai nếu chính chúng ta rơi vào tình cảnh tương tự, ai sẽ bênh vực cho cá nhân chúng ta?

Cơ sở của công lý hay pháp luật là nhằm đảm bảo quyền lợi của cá nhân hay tổ chức? Một số người có thể nhầm tưởng rằng lợi ích của tổ chức luôn phải đặt cao hơn lợi ích của cá nhân. Khi có xung đột thì “cá nhân” đương nhiên phải hy sinh quyền lợi cho “tập thể” hay tổ chức. Điều này dễ dẫn tới xem nhẹ lợi ích của mỗi cá nhân hay cá thể trong cộng đồng mà quên rằng mỗi cá nhân trong cộng đồng là con người của chính mỗi chúng ta, sẽ tạo ra một cộng đồng có mạnh mẽ và phát triển bền vững được hay không, một xã hội có “thượng tôn pháp luật” hay không.
Thử nghĩ một ngày nào đó, nếu vị huấn luyện viên nói trên bị cấm đi máy bay của Vietnam Airlines mà không còn cách nào để di chuyển bằng đường hàng không (Vietnam Airlines đang chiếm thị phần lớn tuyệt đối trong nước) mặc dù có thể ông ta đúng trong xung đột với nhân viên hàng không! Sẽ không còn hành khách nào dám phản đối các hành vi không đúng của cơ quan hàng không, sẽ không ai dám có ý kiến nếu dịch vụ của cơ quan hàng không không tốt, kể cả việc có thể bị đối xử bất công. Lâu dài sẽ ra sao?
Các cá nhân chủ nhà ở Hà Nội nếu bị “cưỡng chế” giải tỏa bất chấp việc pháp luật đất đai có quy định quyền sở hữu nhà ở hợp pháp của người dân và các chủ dự án đầu tư phải thương lượng giá đền bù với người dân (Luật Đất đai 2003) thì bất công có thể xảy ra đối với cá nhân người chủ nhà này có thể sẽ lặp lại với bất kỳ ai. Một ngày nào đó, sẽ có một tổ chức hay công ty nào khác tới quy hoạch và giải tỏa nhà của chính chúng ta hay con em mình đang ở mà không cần thương lượng giá đền bù thỏa đáng (vấn đề giá đền bù thế nào là thỏa đáng là một đề tài khác)!
Con đường dung hòa là “nhất thể hóa” lợi ích của cá nhân và tập thể. Lợi ích của cá nhân chính là lợi ích của tập thể hay cộng đồng. Công lý cho cá nhân chính là công lý cho cộng đồng. Bảo vệ lợi ích cá nhân cũng chính là bảo vệ cộng đồng. Tránh bất công xảy ra đối với cá nhân cũng chính là chống nguy cơ bất công xảy ra đối với tất cả mọi người trong tương lai.
Pháp luật để bảo vệ công lý của mỗi cá nhân và mang lại công bằng cơ hội về lợi ích của cá nhân trong cộng đồng. Nếu lợi ích của cá nhân không được nhìn nhận thích đáng, không được tôn trọng, thì công lý có nguy cơ bị xâm hại và trong trường hợp đó, lợi ích thật sự chưa chắc thuộc về tổ chức hay tập thể, mà chỉ là của những cá nhân khác, tổ chức khác, nhân danh hay ngụy trang “tổ chức” hay “tập thể” để mưu cầu lợi ích khác mà thôi.
Nguồn: THỜI BÁO KINH TẾ SÀI GÒN

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ MÂU THUẪN, XUNG ĐỘT LỢI ÍCH GIỮA NHÓM TRỤC LỢI VÀ NHÓM THIỆT HẠI HIỆN NAY

Từ nghiên cứu mâu thuẫn xung  đột lợi ích  ở TP.HCM, chúng tôi cho rằng về thực chất và nổi bật là mâu thuẫn xung  đột giữa các nhóm trục lợi và nhóm thiệt hại lợi ích. Đây coi như một sự khái quát mới về một cặp mâu thuẫn, xung đột lợi ích hiện nay  ở nước ta và trong đó có TP.HCM.
Sau đây là một số nội dung, chúng tôi muốn trao đổi với bạn đọc.
1. Kinh tế thị trường với sự hình thành nhóm trục lợi và nhóm thiệt hại   
- Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế có  đặc điểm chủ yếu như sau:
Đó là nền kinh tế có nhiều chế  độ sở hữu và thành phần kinh tế với nhiều chủ thể lợi ích có xu hướng phân hóa đa dạng khác nhau, có khi đối lập nhau như lợi ich cá nhân, lợi ích nhóm, lợi ích giai tầng xã hội…, từ đó nảy sinh mâu thuẫn lợi ích.
Nền kinh tế thị trường có bản chất và động lực cơ bản là chạy theo mục đích lợi nhuận, thậm chí có lúc gần như là mục đích duy nhất. 
Nền kinh tế bên cạnh mặt tích cực như: năng động,  đòi hỏi sự minh bạch, tạo cơ hội cho mọi người làm việc và phát triển… nhưng  đồng thời nó cũng có mặt khuyết tật, tiêu cực tạo nên khủng hoảng kinh tế chu kỳ, phân hóa tạo nên những người rất giàu và những người rất nghèo, gây nên xung đột lợi ích.
Nền kinh tế thị trường hiện đại có đặc điểm là gắn với xu hướng công nghệ sạch, thân thiện môi trường, gắn với công bằng xã hội, phúc lợi xã hội, đề cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp…. Xu hướng này là tiền  đề của nền kinh tế thị trường XHCN.
Cùng với quá trình  đó là quá trình  đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa đã nảy sinh nhiều vấn đề về lợi ích khác nhau, thậm chí đối lập nhau, nhất là trên lĩnh vực nhà đất, các quan hệ lao động trong các doanh nghiệp và môi trường sống.
Nước ta từ khi chuyển sang thời kỳ  đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa nhưng nền kinh tế này còn sơ khai, trình độ thấp, mặc dù có yếu tố  để tiến tới nền kinh tế thị trường hiện  đại, hướng tới kinh tế thị trường hiện đại. Trong thời kỳ mới này những mâu thuẫn, xung đột lợi ích đã và đang diễn ra rất đa dạng và có phần phức tạp.
- Đời sống xã hội.
Đời sống xã hội là toàn bộ không gian xã hội gắn với hoạt động của con người, cộng đồng người với những nhu cầu, lợi ích nhất định. Có nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội: lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Đời sống xã hội trong công trình này chủ yếu lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực xã hội, nhưng là xét trong quan hệ với các lĩnh vực khác, hoặc bao gồm một phần lĩnh vực khác.
Đời sống xã hội của một quốc gia là tổng thể các mặt kinh tế xã hội tạo nên trong  đó về mặt tổ chức, cộng đồng thì bao gồm nhiều nhóm xã hội, cư dân, các  giai tầng. Các nhóm xã hội, nhóm lợi ích và các giai tầng được phân chia dựa trên một số tiêu chí chung: hoặc chủ yếu về tư liệu sản xuất, hoặc phân công lao  động xã hội hoặc về quyền lực (uy tín). Trong quá trình đáp ứng các nhu cầu của cuộc sống đã nảy sinh những lợi ích khác biệt, mâu thuẫn từ  đó mà ra. Đời sống xã hội luôn luôn vận  động, phát triển làm nảy sinh những mâu thuẫn và thông qua những mâu thuẫn khá phức tạp, nhất là về mặt lợi ích hay quyền lợi.
- Sự hình thành nhóm trục lợi và nhóm thiệt hại.
Từ khi chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, định hướng xã hội chủ nghĩa (1986) cho đến nay, có thể bước  đầu phân quá trình này thành 3 phân kỳ với những đặc điểm khác nhau:
Phân kỳ 1 (1986-1994): giai đoạn chuẩn bị các nhân tố kinh tế, kỹ thuật, xã hội cho việc định lại các phạm vi tác động của hệ thống kế hoạch hóa và quản lý tập trung trong điều kiện thị trường mở, hội nhập khu vực và quốc tế, cũng như tạo những tiền đề mới về cơ sở hạ tầng kỹ thuật, môi trường vĩ mô cho việc phát triển kinh tế hàng hoá – dịch vụ vận hành theo cơ chế thị trường, hình thành và phát triển các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Giai  đoạn chuyển đổi này diễn ra nhanh chóng và  đầy kịch tính với những biểu hiện của khủng hoảng (lạm phát 3 con số, biến động giá cả – tiền tệ, sản xuất – kinh doanh trì trệ tại nhiều cơ sở quốc doanh cả trung ương lẫn địa phương…), đồng thời bắt đầu xuất hiện một số nhân tố mới từ đầu thập niên 90 (xuất khẩu gạo, dầu thô; đầu tư nước ngoài và sự có mặt của nhiều văn phòng đại diện công ty nước ngoài và tổ chức quốc tế tại TP.Hồ Chí Minh và Hà Nội). Các nhóm trục lợi  đầu tiên xuất hiện, gây hậu quả lớn  là những nhóm núp bóng tín dụng (Thanh Hương, Anh Đào…), các nhóm buôn bán qua biên giới chủ yếu qua con đường phi hạn ngạch, kinh tế ngầm….
Phân kỳ 2 (1995-2006): giai  đoạn tăng trưởng và phát triển, đặc biệt tập trung vào các tỉnh Vùng kinh tế trọng điểm Phía Nam (TP.Hồ Chí Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu -  Đồng Nai – Bình Dương), và từ 2002, lan rộng ra các tỉnh phía bắc sông Hồng của Vùng trọng điểm kinh tế Bắc Bộ (Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Vĩnh Phúc), cũng như một số tỉnh Vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ (Đà nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi).… Với sự phát  triển nhanh chóng và quy mô ngày càng lớn đầu tư trong nước và nước ngoài, thị trường hàng hóa, xuất nhập khẩu, thị trường lao động, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội…, cùng với những cải cách kinh tế nhằm thúc đẩy hình thành nhanh chóng và phát triển đồng bộ các nhân tố thị trường theo xu thế toàn cầu hóa và các mục tiêu, định hướng chiến lược quốc gia phát triển nhanh, bền vững…  hàng loạt nhóm trục lợi thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều  địa phương, nhiều cấp độ hình thành, âm thầm, kiên trì nhưng nhanh chóng lợi dụng mọi cơ hội, mọi phương thức (hợp pháp, phi pháp, công khai, ngấm ngầm, hình thức, phi hình thức, trong nước, ngoài nước…) để trục lợi ở mọi quy mô, mọi lĩnh vực (tới cả văn hóa, tâm linh…) có thể.  Vì thế, rất cần có nhiều công trình nghiên cứu để nhận dạng đúng đắn, đầy đủ, cũng như những đặc điểm nguồn gốc, mâu thuẫn của các nhóm này  như một loại hiện tượng mới theo những quy luật mới của các nền kinh tế chuyển đổi trong điều kiện bước đầu hình thành nền kinh tế mới toàn cầu hóa. 
Phân kỳ 3 (từ 2007): Làn sóng đầu tư mới sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), những cơ hội và quy mô, tốc  độ lan rộng các nhân tố thị trường ra nhiều tỉnh, thành phố khi cơ sở hạ tầng kỹ thuật ngày càng hoàn thiện, các tuyến giao thông xuyên Á hình thành và hoạt động, có thể dự báo về sự bột phát của nhiều nhóm trục lợi mới (tương tự như sự bột phát của thị trường chứng khoán, thị trường địa ốc 2007).
Trong quá trình đổi mới của kinh tế Việt Nam diễn ra trong khung cảnh đặc biệt của nền kinh tế thế giới giai  đoạn vừa qua – giai  đoạn tái cấu trúc và chuyển hướng về chất, mang tính lịch sử quy mô thiên niên kỷ.
Trước hết,  đó là những chuyển biến  đột phá được dự báo trước (từ những năm 70 của thế kỷ XX) về sự chấm dứt không thể trì hoãn của các mô hình công nghiệp hóa trên nền khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, phá vỡ cân bằng sinh thái, thay đổi khí hậu toàn cầu; đó là những tiền đề khoa học và kỹ thuật cho phép loài người từng bước và nhanh chóng chuyển sang một kỷ nguyên mới – kinh tế tri thức và xã hội thông tin – chỉ trong vòng 50 – 60 năm (chứ không phải hàng trăm năm  đối với các cuộc cách mạng công nghiệp, hàng ngàn năm đối với xã hội nông nghiệp – nền kinh tế dựa vào sức người là chính, đồng thời cũng không phải là  đã chuyển hẳn sang kỷ nguyên mới này, mà hiện mới chập chững những bước đầu tiên).
Nhiều mô hình kinh tế đã có một thời kỳ phát triển rực rỡ trong thế kỷ XX (trước 1973) gặp hàng loạt những khó khăn, từng bước đổ vỡ (như mô hình kế hoạch hóa tập trung) hoặc ở ngưỡng của sự đổ vỡ (như mô hình kinh tế Mỹ); mô hình kinh tế Nhật Bản đã thành công trong gần 40 năm sau  đại chiến thế giới lần thứ hai (thành công tới mức: vào cuối những năm 80 của thế kỷ 20, nhiều học giả nổi tiếng, trong đó có cả các học giả Mỹ,  đều từng xác  định nhiều luận cứ về khả năng “nước Nhật mua cả thế giới” vào đầu thế kỷ 21- điều chưa xảy ra và thậm chí còn khó có thể xảy ra). Những gì diễn ra trong 14 –15 năm gần đây là những mâu thuẫn gay gắt mới trong nền kinh tế Nhật Bản trước những thực tiễn mới của hệ thống kinh tế toàn cầu; sự xuất hiện và phát triển đầy kỳ tích của mô hình “đàn sếu bay” của nhiều quốc gia khu vực  Đông Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Hồng Công,  Đài Loan, Malaysia, Thái Lan, Inđônêsia, Philippin), trong trên 20 năm (kể từ 1967) tạo nên một loạt các nước “công nghiệp hóa mới – NIC” bỗng chao đảo trong cuộc khủng hoảng trước thềm thiên niên kỷ (khởi đầu từ khủng hoảng tài chính khu vực Đông Nam Á với quy mô và tốc độ lây lan lạ kỳ, chưa từng có – 1996-1999); sự xuất hiện và phát triển của mô hình kinh tế chuyển  đổi thành công một cách đáng khích lệ của Trung Quốc trong 15 năm gần đây (với 3 lần tăng trưởng và tụt dốc của hơn 12 năm trước đó)…
Thực tiễn mới quan trọng cần đặc biệt quan tâm tại Việt Nam là: Hội nhập đầu tiên, trước hết là nông nghiệp (đối với các sản phẩm hàng hóa quy mô lớn đã hình thành: lúa, thủy sản, cà phê, điều, tiêu) sau đó mới là công nghiệp (dầu khí, may, giầy, điện tử, chế biến gỗ…) và dịch vụ. Các nhóm trục lợi luôn bám sát thực tiễn mang tính hệ thống này. Các kịch bản liên kết  động lực thị trường, liên ngành, liên vùng theo sản phẩm – dịch vụ có lợi thế so sánh quy mô chiến lược… cần  được nghiên cứu, phân tích theo sơ đồ cho các hệ thống động và mở. 
-  Nguồn gốc các nhóm trục lợi tại Việt Nam, TP.HCM và những mâu thuẫn mang tính cộng sinh, ký sinh.
Bước  đầu phân tích, nghiên cứu vô số các dữ liệu của công luận và thông tin đại chúng theo sơ đồ hệ thống, có thể thấy rằng các nhóm trục lợi tại Việt nam, TP.HCM có các nguồn gốc khá đa dạng:
Có nguồn gốc thị trường
- Thị trường bất động sản: lợi dụng những kẽ hở pháp lý và chênh lệch rất lớn giữa giá trị  đất  đai trong các bước của quá trình chuyển đổi, xây dựng và phát triển kinh tế thị trường nhiều thành phần, có sự tham gia khôn khéo – thậm chí trắng trợn – của
những phần tử có chức có quyền tha hóa, biến chất.
- Thị trường lao động: lợi dụng nhận thức bảo thủ, lỗi thời về lao động,   quản lý lỏng lẻo các công ty, trung tâm xuất khẩu lao động, giới thiệu việc làm.
- Thị trường hàng nông nghiệp, hải sản,…: lợi dụng các biến động thị trường cung vật tư thiết bị và cầu sản phẩm nông nghiệp,  đặc  điểm tiêu thụ… nhằm trục lợi, dẫn tới nghịch lý “được mùa thua được giá”.
- Thị trường giáo dục, đào tạo soạn và in sách giáo khoa, dạy thêm, học thêm: lợi dụng định hướng cải cách giáo dục sai lầm và kéo dài (theo hướng nhồi nhét kiến thức quá khả năng tâm sinh lý, lấn át các mục tiêu quan trọng khác của giáo dục), lạm dụng sự quan tâm lớn của xã hội và phụ huynh trong đầu tư cho thế hệ tương lai, lạm dụng truyền thống hiếu học… cũng như những ấu trĩ trong định hướng thị trường cung cầu nguồn nhân lực, xã hội hóa….
Có nguồn gốc cơ hội:
-  Lợi dụng sự yếu kém trong quản lý: quy hoạch treo, quy hoạch chưa đạt yêu cầu, kể cả “các mảng còn trắng” trong quy hoạch; hàng giả, hàng nhái, vi phạm quy  định tràn lan; cố tình im lặng, chậm giải quyết các khiếu kiện và phát hiện của công luận, dư luận…
- Lợi dụng sự  ấu trĩ và bảo thủ trong tư duy chiến lược (núp bóng bảo hộ ngành mũi nhọn, trọng điểm,…): lợi dụng chủ trương đầu tư của Nhà nước nhập khẩu trang thiết bị lạc hậu, rẻ tiền (nhà máy đường, xi măng lò  đứng…), linh kiện, vật tư dưới các danh nghĩa nội  địa hóa, bảo hộ sản xuất trong nước để ăn chênh lệch  giá (xe máy từ Trung Quốc, clinhke, phôi thép, rác thải…).
- Lợi dụng sự thoái hóa, biến chất cùa các người có chức, có quyền (lan tới cả các lĩnh vực tòa án, thanh tra, kiểm tra, thuế vụ, hải quan, công an, kiểm lâm…).
Có nguồn gốc khác :
- Kinh tế ngầm xuyên quốc gia: buôn lậu qua biên giới (xăng dầu, vải vóc, thuốc lá, rượu, hàng điện tử, than đá…), trốn thuế.
- Xã hội đen: buôn bán ma túy, phụ nữ, trẻ em; bảo kê; mại dâm trá hình; cờ bạc, số  đề, hụi; bán hàng đa cấp, đầu tư đa cấp, ăn cắp cước viễn thông (sử dụng các phương tiện hiện đại)…
Đặc  điểm mâu thuẫn lợi ích bao trùm của các nhóm trục lợi với những nguồn gốc nêu trên chính là khả năng cộng sinh và ký sinh rất cao: bám chặt vào những thời cơ và kẽ hở, điều kiện thuận lợi, linh hoạt liên kết (hoặc biến dạng), chuyển hướng theo những thời cơ, điều kiện mới nhằm tồn tại và trục lợi, làm hao mòn lòng tin vào chế độ, xâm hại lợi ích chung của cộng đồng. 
2. Mâu thuẫn, xung đột giữa các nhóm trục lợi và nhóm thiệt hại lợi ích – cái nhìn về bản chất chiều sâu các loại nhóm lợi ích trong đời sống xã hội hiện nay. 
Đó là mâu thuẫn, xung đột chính trong đời sống xã hội ta.
Mâu thuẫn trong đời sống xã hội thường có loại mâu thuẫn còn tiềm  ẩn, các chủ thể tạo nên mâu thuẫn còn mờ nhạt, chưa hình thành nhóm rõ nét. Nhưng cũng có loại mâu thuẫn xã hội hình thành và biểu lộ, hiện hữu giữa các nhóm người. Có thể có nhiều các gọi như nhóm xã hội, nhóm lợi ích hay gọi thẳng tên nhóm người cụ thể hơn (nhóm người sử dụng lao  động hay người lao  động, nhóm các nhà đầu tư, nhóm người hưởng lợi, người tiêu dùng). Cách gọi và phân loại này mang tính chất trung tính. Nhưng từ tính chất,  động cơ của các loại nhóm  ấy trong quá trình tương tác cũng có thể phát sinh loại nhóm, theo cách phân loại khác. Cho nên có một cách khái quát khác làm rõ bản chất của loại nhóm này xét ở góc nhìn bản chất lợi ích. Đó là “nhóm trục lợi” (có lúc, chúng tôi gọi là nhóm đầu cơ) và “nhóm thiệt lợi”.
Với cách tiếp cận“nhóm trục lợi”, chúng ta cần làm rõ thêm, vì  đó là một cách nhìn hợp lý  đáng phân tích toàn diện hơn. Chúng ta có thể bàn tiếp về những nhóm có mâu thuẫn liên quan với nhóm trục lợi. Khi đặt ra khái niệm nhóm trục lợi là nhìn nhóm lợi ích trong các loại hình nhóm xã hội – kinh tế theo bản chất xã hội của nó: lợi ích thực tế vì ai, cho ai và bằng cách thức nào.  Nhóm trục lợi là nhóm lợi ích chỉ biết vì bản thân và dùng thủ đoạn bất minh để thu lợi bằng cách làm hại đến lợi ích nhóm khác. Nhưng theo chúng tôi thì không nên đồng nhất nhóm trục lợi với các nhóm lợi ích tư nói chung, như có người quan niệm. Nhưng đồng thời phủ nhận sự tồn tại độc lập của nhóm trục lợi, theo nghĩa trục lợi là bản chất chung của con người là không đúng. Trục lợi chỉ là bản chất của một số người hay nhóm người. Trục lợi khác tư lợi, tư lợi tức quan tâm đến lợi ích tư của mình.
Nhóm trục lợi có thể xuất hiện nhiều  ở các nhóm lợi ích tư và cũng có thể xuất hiện từ các nhóm lợi ích công (bị lợi dụng và biến dạng)1. Các dự án, đề án như dự án – đề án công nghệ thông tin (đề án 112) mấy năm trước là lĩnh vực công nhưng từ đó cũng sinh ra nhóm trục lợi. Nhóm thiệt lợi là nhân dân và nhà nước, nhưng hiện hình thành các nhóm người cụ thể.
Như vậy, xem xét theo tuyến nhóm trục lợi trong quan hệ với nhóm thiệt hại lợi ích, một sự phát hiện và khái quát mới của nhóm  đề tài, phải  được xét trong tương quan tương sinh tương khắc với loại nhóm lợi ích – như mặt đối lập mâu thuẫn của chính
nó - nhóm thiệt hại lợi ích.  Nhóm thiệt lợi ở đây không chỉ là hiểu theo nghĩa rộng là nhân dân và đất nước mà thực tế đã nảy sinh ra nhóm người cụ thể mà chúng tôi tạm gọi là “nhóm thiệt lợi” (bị thiệt hại về lợi ích).  Còn trong quan hệ với các nhóm trục lợi, là có “nhóm chính lợi” (nhóm theo  đuổi những lợi ích chân chính, hợp pháp). Nhưng từ nhóm chính lợi trong thực tế cũng có thể bị phân hóa  thành một tuyến nhóm trục lợi và nhóm thiệt lợi và đó là một mâu thuẫn nằm  ở chiều sâu các nhóm lợi ích, các nhóm xã hội mâu thuẫn, xung  đột về lợi ích trong thực trạng phát triển kinh tế xã hội hiện nay. Tuy rằng, các nhóm chính lợi  (lợi ích chân chính, hợp pháp) vẫn tồn tại trong tương qnan với nhóm trục lợi. Và khi các nhóm trục lợi hay nhóm thiệt lợi được cải biến, thay đổi theo hướng hợp với luật pháp và mục tiêu chung của đất nước thì cũng có thể trở lại, trở thành nhóm chính lợi. Nhưng ở đây chúng ta chỉ bàn về quan hệ giữa nhóm trục lợi và nhóm thiệt lợi.
Có người cho rằng không có nhóm trục lợi riêng. Thực ra cả nhóm trục lợi và nhóm thiết lợi là tồn tại trong thực tế, có thể đan xen vài các nhóm lợi ích, đến lúc nào đó áp đảo và hình thành nhóm riêng. Chẳng hạn, vụ tiêu cực đất đai ở Gò Vấp hay Hóc Môn, Cần Giờ, quận 2 (TP.HCM) và nhiều nơi khác mà trong đó có cấu kết giữa công chức nhà nước và những người làm ăn trục lợi bên ngoài hết sức phức tạp. Trong lĩnh vực nhà đất, đó chính là nhóm những cò đất cấu kết với cán bộ công chức tha hóa và làm thiệt hại lợi ích của cộng đồng dân cư (diện giải tỏa, đền bù hay mua bán đất bất hợp pháp) và làm thiệt hại cả lợi ích của nhà nước. Báo Người Lao  động ngày 2-4-2008, đã thông tin về tình trạng cán bộ tiếp tay cho “cò” lộng hành trong việc cấp chủ quyền nhà đất tại quận Gò Vấp – TP.HCM. Qua tìm hiểu, chúng tôi còn phát hiện một số doanh nghiệp “chung sức” với cán bộ để biến không thành có, trắng thành đen…, điển hình là sai phạm tại phường 11, quận Gò Vấp2.
Mà không chỉ lĩnh vực nhà  đất, các lĩnh vực khác như trong giáo dục, y tế cũng vậy. Trong lĩnh vực y tế thì đó là nhà sản xuất, kinh doanh thuốc và nhà quản lý, thực hành chức năng nghiệp vụ và người dân gồm người tiêu dùng sử dụng thuốc và các dịch vụ y tế khi khám và chữa bệnh. Những vụ việc về giá thuốc và dịch vụ mua bán thuốc cũng như hoạt  động khám chữa bệnh cũng  đã có móc ngoặc với nhau làm thiệt hại lợi ích bệnh nhân. Hoặc trên lĩnh vực vệ sinh thực phẩm, chúng ta cũng thấy tình tình tương tự đã có sự cấu kết nào đó giữa người quản lý và nhà sản xuất kinh doanh thực phẩm làm ảnh hưởng xấu  đến lợi ích và sức khỏe của người tiêu dùng. Trong lĩnh vực giáo dục thì các nhà sản xuất sách giáo khoa, hay thực hành chức năng giáo dục trong chừng mực đã hình hành nên nhóm vụ lợi hay trục lợi làm thiệt hại lợi ích của học sinh, sinh viên- nhóm thiệt lợi. Trong lĩnh vực doanh nghiệp, ngoài nhóm trục lợi trong việc cổ phần hóa thì khi  các nhà đầu tư, các nhà sản xuất, chủ doanh nghiệp trốn thuế, không đóng bảo hiểm cho người lao động và bớt xén tiền công, và các chế độ khác của người lao động thì đó cũng là một loại trục lợi. Và những người thiệt lợi là những người lao  động – những người công nhân.
Chúng tôi cho rằng, các lĩnh vực này  đã hình thành mâu thuẫn, xung đột  nhóm lợi ích từ ba loại chủ thể, ba loại nhóm chính, như: 1) nhà  đầu tư, nhà thầu, hay nhà sản xuất kinh doanh hay hành nghề nói chung; 2) thứ  đến là nhà nước thông qua chính sách và cán bộ công chức thi hành công vụ; 3) nhóm dân cư hay nhóm những người lao  động, những người tiêu dùng, nói chung là người dân liên quan tới các dự án và thực thi chính sách phát triển. Nhưng trong quá trình tương tác và hoạt  động  đã sinh ra nhóm trục lợi là “nhóm phi pháp lợi” và nhóm thiệt lợi.  Đã hình thành nhóm lợi ích trục lợi mà ta gọi tắt là nhóm trục lợi gồm cò đất và một số cán bộ công chức tha hóa cấu kết với nhau và làm thiệt hại cho những người có đất và thiệt hại cho Nhà nước. Nhóm thiệt lợi từ đó mà ra. Và như vậy là xuất hiện mâu thuẫn xung  đột lợi ích chính giữa 2 lại nhóm này.
Tất nhiên, nhóm thiệt hại được sinh ra có 4 tác nhân chính: 1) Hoặc do chính sách phát triển của nhà nước còn bất cập, hạn chế, chưa đồng bộ chẳng hạn chính sách  đền bù giải tỏa không thỏa  đáng, không theo giá thị trường) nên hình thành nên những người ít hưởng lợi được từ tăng trưởng kinh tế, trái lại bị thiệt hại từ tăng trưởng ấy (khoảng cách giàu nghèo gia tăng, ô nhiễm môi trường, bệnh tật) hoặc từ thiên tai bất thường; 2) Những tác động do cơ chế cạnh tranh của nền kinh tế thị trường, có thể gây thắng lợi của nhóm này và thiệt hại  ở nhóm khác như phá sản trong kinh doanh; 3) Cũng còn tác nhân là do yếu thế hơn từ hoàn cảnh khách/ chủ quan nào gây nên (hậu quả chiến tranh, thiên tai, bệnh tật, trình độ tay nghề…); 4)  Nhưng trực tiếp là do các nhóm trục lợi gây nên như là hệ quả của nó như nói ở trên…
Cần nghiên cứu biểu hiện cụ thể của mâu thuẫn, xung  đột lợi ích giữa nhóm trục lợi và nhóm thiệt hại. 
Nhóm trục lợi thường sử dụng nhiều thủ  đoạn thu lợi bất chính như: 1) Lợi  dụng và lạm dụng quyền lực cả quyền lực kinh tế và quyền lực hành chính, kể cả mua quan bán chức; 2) Lợi dụng sự chênh lệch giá cả thị trường và giá cả nhà nước quy định trong nền kinh tế chuyển  đổi và  đầu cơ, bất chấp thiệt hại cho cộng đồng; 3) Lợi dụng sự bất cập và yếu kém trong quản lý của Nhà nước và sự tha hóa một bộ phận công chức; 4) Thường liên kết những phân tử có động cơ vụ lợi, trục lợi có khi theo kiểu mafia, hoạt động ngầm, dưới hình thức tổ chức phi chính thức theo từng phi vụ làm ăn. 
Khi họ muốn thì có thể có trăm phương ngàn kế để phù phép biến trắng thành đen, biến công thành tư, biến luật pháp thành luật rừng, nghĩa là ai hại mặc ai miễn ta có lợi. Kết cục là nhiều nhóm trục lợi làm giàu bất chính và càng giàu như thế càng thao túng quyền lực của chính quyền; còn hệ quả là càng nhiều các nhóm thiệt lợi, thất thế và nghèo đi. Bất công xã hội và bất bình  đẳng xã hội cũng như phân hóa giàu nghèo, phân hóa giai tầng từ đó mà ra và gia tăng. Nhưng họ- những nhóm thiệt lợi này – phản ứng lại và đấu tranh với nhóm trục lợi và những bất cập, sai lầm trong chính sách của Nhà nước bằng cách nào?   1) Khiếu kiện và khiếu kiện mang tính chất biểu tình kéo dài (lĩnh vực nhà  đất). Họ khiếu kiện  đối với Nhà nước để giúp họ đòi lại công bằng.    2) Đình công, bãi công (trong doanh nghiệp), tức đòi doanh nghiệp, chủ  đầu tư sản xuất phải trả lại công bằng cho họ, trả lại lợi ích hợp pháp mà họ được hưởng bị gian lận và tước đoạt phi pháp. 3) Hoặc họ phản ánh và phản ứng về sự thiệt hại lợi ích của mình – người hưởng các dịch vụ y tế và giáo dục thông qua phương tiện thông tin đại chúng tạo dư luận xã hội (lĩnh vực y tế, giáo dục và nhiều lĩnh vực khác). 4) Bất lực, bất mãn, âm thầm chịu đựng, mất dần niềm tin và hoặc  phản ứng tự phát… (nhiều lĩnh vực). Đó cũng là biểu hiện của xung đột (tranh chấp) lợi ích. Rõ ràng, đã đến lúc phải đặt trên bàn nghị sự để tìm chính xác, nhận thức và giải pháp đấu tranh hạn chế và loại trừ dần, nhưng dứt khoát  đối với các nhóm đầu cơ, trục lợi, đảm bảo lợi ích chính đáng và công bằng cho các nhóm thiệt hại lợi ích (thiệt lợi)./.
Chú thích:
1  Bài Thời sự & suy nghĩ. Báo Tuổi trẻ, Thứ Bảy, 29/03/2008, 08:05 (GMT+7)
2  Vụ cấp chủ quyền nhà đất tại quận Gò Vấp – TP.HCM. Biến không thành có, trắng thành  đen. 03-04-2008
Nguồn: BẢN TIN KINH TẾ VÀ XÃ HỘI CỦA VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN TP.HCM, QUÝ IV, NĂM 2010

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN TRAO ĐỔI THÊM VỀ ĐỊNH HƯỚNG SỬA ĐỔI CƠ BẢN BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

Nằm trong các hoạt động chuẩn bị sửa đổi cơ bản Bộ luật dân sự năm 2005, trong hai ngày (02/03/2011 và 27/04/2011), Bộ Tư pháp và Tổ chức Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) đã phối hợp tổ chức Tọa đàm giữa các chuyên gia Việt Nam với các chuyên gia dài hạn của Nhật Bản về một số định hướng sửa đổi cơ bản Bộ luật dân sự năm 2005. Đại diện của Vụ Pháp luật dân sự – kinh tế (Bộ Tư pháp) Viện khoa học xét xử (Tòa án nhân dân tối cao) và chuyên gia Nhật Bản đã tập trung thảo luận về bốn nội dung: (1) yêu cầu, phạm vi và tiến độ sửa đổi cơ bản Bộ luật Dân sự năm 2005; (2) một vài vấn đề cần được nghiên cứu để xây dựng Bộ luật dân sự; (3) một số định hướng trong sửa đổi phần quy định chung của Bộ luật dân sự; (4) một số bất cập trong thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật dân sự năm 2005.
Về cơ bản, các chuyên gia Việt Nam và Nhật Bản đã nhất trí về định hướng sửa đổi cơ bản bộ luật dân sự năm 2005 và những nguyên tắc mà nhóm biên tập[2] đưa ra bao gồm:
- Thứ nhất, Bộ luật dân sự phải thể chế hóa được đầy đủ các quan điểm mới của Đảng về xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và thể chế kinh tế thị trường trong các văn kiện đã được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng: (1) Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011); (2) Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020; (3)  Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng;
- Thứ hai, tiếp nhận các quan điểm khoa học, khái niệm, phạm trù khoa học pháp lý liên quan đến Bộ luật dân sự mà trước đây chưa được áp dụng, ví dụ: trái quyền, vật quyền… Bên cạnh đó, kế thừa các thành tựu xây dựng pháp luật về dân sự ở Việt Nam và trên thế giới;
- Thứ ba, đặt Bộ luật dân sự ở vai trò là luật gốc, luật cơ bản của hệ thống luật tư, có tính trừu tượng hóa cao, khái quát hóa cao, điều chỉnh các quan hệ xã hội ổn định, không quy định các vấn đề phụ thuộc nhiều vào các quyết định chính trị để đảm bảo tính ổn định của Bộ luật dân sự;
- Thứ tư, xác định Bộ luật dân sự là bộ luật của lưu thông dân sự, bình đẳng, tôn trọng quyền tự quyết, tự định đoạt của các chủ thể;
- Thứ năm, tăng cường các biện pháp tôn trọng và bảo đảm quyền dân sự.
Tuy nhiên, tại Tọa đàm có nhiều vấn đề còn có những ý kiến khác nhau, cần có nghiên cứu cơ bản, sự trao đổi khoa học từ phía các chuyên gia Việt Nam và nước ngoài Nhật Bản trong quá trình xây dựng dự thảo Bộ luật dân sự sửa đổi.
1. Về nguồn của Luật dân sự
Trên cơ sở đề xuất của nhóm biên tập, bên cạnh quy phạm pháp luật và tập quán (Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2005), cần thừa nhận học thuyết pháp lý và án lệ là nguồn của luật dân sự, các đại biểu tham dự tọa đàm đã đưa ra ba quan điểm:
- Quan điểm thứ nhất: không nên đưa học thuyết pháp lý làm nguồn của pháp luật dân sự. Bởi lẽ theo nguyên tắc, khi xét xử thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật không thể căn cứ vào một luận cứ khoa học nào đó để phán quyết. Về áp dụng án lệ có hai mâu thuẫn dẫn tới việc áp dụng án lệ không hợp lý ở Việt Nam đó là: (1) Việt Nam theo hệ thống pháp luật thành văn, (2) việc áp dụng án lệ cũng đòi hỏi trình độ của thẩm phán phải thực sự cao (hiện tại Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu này?!).
- Quan điểm thứ hai: cũng không thừa nhận học thuyết pháp lý là nguồn của luật dân sự. Tuy nhiên, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật dân sự cũng cần phải dựa phải dựa trên các giá trị nhân đạo, nhân văn của xã hội (được tổng kết dựa trên các luận cứ khoa học trong các học thuyết pháp lý). Việc thừa nhận án lệ là nguồn của luật dân sự là cần thiết. Thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự hiện nay, thẩm phán thường áp dụng “án lệ”. Việc tham khảo các vụ án trước đó để so sánh và xét xử là chuyện thường xuyên. Muốn đưa ra một điều luật thì phải giải thích được về mặt thực tiễn của nó.
Theo các chuyên gia Nhật Bản, tập quán đã được thừa nhận chính thức là một nguồn của luật dân sự Nhật Bản (ví dụ, căn cứ vào tập quán về việc nam nữ chung sống như vợ chồng không có đăng ký kết hôn hình thành trong xã hội Nhật Bản, việc thẩm phán thừa nhận hôn nhân thực tế đối với các trường hợp chung sống này là phổ biến, các bên chung sống có các quyền và nghĩa vụ như vợ chồng có đăng ký kết hôn). Pháp luật dân sự Nhật Bản không thừa nhận chính thức án lệ là nguồn của Luật dân sự. Tuy nhiên, trong pháp luật tố tụng dân sự, án lệ lại được thừa nhận trong trường hợp đương sự căn cứ vào bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án về một vụ việc tương tự để kháng án. Thực tiễn đã chứng minh việc áp dụng án lệ có thể bảo vệ tốt hơn quyền dân sự của chủ thể, hiệu quả giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án. Án lệ chỉ có thể thực hiện được nếu có cơ chế công khai các quyết định, bản án có hiệu lực của Tòa án. Đối với học thuyết pháp lý, cũng đã từng có tranh luận tại Nhật Bản có thừa nhận học thuyết pháp lý là nguồn của luật dân sự hay không? Hiện nay, nó không được coi là nguồn của luật, thẩm phán chỉ có thể tham khảo các luận cứ khoa học thuộc các học thuyết pháp lý trong việc cân nhắc nội dung phán quyết của mình.
Căn cứ vào kết quả thảo luận trên, theo chúng tôi, việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung nguồn của luật dân sự được quy định trong Bộ luật dân sự là cần thiết. Trong đó, cần tập trung những vấn đề sau: (1) Việt Nam có nên thừa nhận án lệ là nguồn của luật dân sự hay không? Cơ sở lý luận, thực tiễn của cả việc thừa nhận hay không thừa nhận án lệ là nguồn của luật dân sự? Nếu thừa nhận thì nên quy định trong pháp luật về nội dung hay pháp luật về tố tụng? thừa nhận ở phạm vi nào? Dựa trên nguyên tắc nào?; (2) trong áp dụng tập quán có nên thừa nhận tập quán của một hiệp hội, tập quán quốc tế là nguồn của luật dân sự? Cơ sở lý luận, thực tiễn của cả việc thừa nhận hay không thừa nhận? Nếu thừa nhận thì nên thừa nhận ở phạm vi nào? Dựa trên nguyên tắc nào?; (3) thực tế ở Việt Nam đã xuất hiện một số quan hệ hợp đồng trong đó các chủ thể lại thỏa thuận áp dụng luật về hợp đồng của nước khác (ví dụ áp dụng pháp luật về hợp đồng của Nhật Bản) để áp dụng cho quan hệ hợp đồng của mình, thỏa thuận này có nên được công nhận hay không? Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề?.
2. Về thời hiệu khởi kiện
Đề xuất của nhóm biên tập là không quy định về thời hiệu khởi kiện với ý nghĩa là thời hiệu thụ lý của Tòa án mà nên thay thế nó bằng thời hiệu hưởng quyền và thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự[3]. Qua thảo luận, cũng có hai quan điểm khác nhau về vấn đề này:
- Quan điểm thứ nhất, nên tiếp tục quy định thời hiệu khởi kiện trong Bộ luật dân sự với ý nghĩa là thời hiệu thụ lý của Tòa án trong Bộ luật dân sự để tránh khởi kiện tràn lan, gây khó khăn cho công tác giải quyết tranh chấp của Tòa án và nâng cao trách nhiệm của các chủ thể luật tư;
- Quan điểm thứ hai, Tòa án không có quyền từ chối thụ lý giải quyết các yêu cầu của chủ thể luật tư, việc quy định thời hiệu khởi kiện vi phạm nguyên tắc này. Theo thông lệ quốc tế, Tòa án phải thụ lý vụ việc dân sự khi có yêu cầu, nhưng căn cứ vào thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ để bác yêu cầu của chủ thể khởi kiện, công nhận quyền hoặc miễn trừ nghĩa vụ cho chủ thể trong quan hệ có tranh chấp.
Hiện nay Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã được Quốc hội Việt Nam thông qua, trong đó thời hiệu khởi kiện với ý nghĩa là thời hiệu thụ lý của Tòa án vẫn tiếp tục được thừa nhận. Tuy nhiên, có sự thay đổi so với Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 là đã loại bỏ quy định cho phép tòa án trả lại đơn khởi kiện vì lý do hết thời hiệu, tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ việc nếu phát hiện thấy thời hiệu khởi kiện đã hết tòa án có quyền đình chỉ giải quyết vụ việc (căn cứ được giải trình là Tòa án chưa có đủ căn cứ để xác định còn hay không còn thời hiệu yêu cầu, do vậy Tòa án không được trả là đơn ngay tại thời điểm thụ lý, sau khi thụ lý thấy có đủ căn cứ là đã hết thời hiệu thì Tòa án có thể ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc).
Theo các chuyên gia Nhật Bản, việc thụ lý và giải quyết yêu cầu của đương sự là trách nhiệm của thẩm phán không vì lý do nào đó từ chối thực hiện trách nhiệm này. Bộ luật dân sự Nhật Bản vì thế không quy định thời hiệu khởi kiện với tư cách là thời hiệu để tòa án thụ lý giải quyết vụ việc dân sự, mà chỉ quy định thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự để bác yêu cầu của chủ thể khởi kiện, công nhận quyền hoặc miễn trừ nghĩa vụ cho chủ thể trong quan hệ có tranh chấp.
Chúng tôi cho rằng, việc sửa đổi, bổ sung chế định về thời hiệu trong Bộ luật dân sự là một vấn đề lớn, cần được nghiên cứu cơ bản trên những nội dung sau: (1) bản chất của việc quy định thời hiệu? (2) mối quan hệ giữa thời hiệu hưởng quyền, thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự và thời hiệu khởi kiện (từ Điều 155 đến Điều 162 Bộ luật dân sự năm 2005); (3) cần ghi nhận những loại thời hiệu nào trong Bộ luật dân sự?.
3. Về chủ thể của quan hệ dân sự là tổ chức
Đề xuất của nhóm biên tập, chủ thể của quan hệ dân sự bao gồm thể nhân và pháp nhân. Tuy nhiên, cần nghiên cứu về tư cách chủ thể của các tổ chức không đảm bảo các điều kiện là pháp nhân tại Điều 84 Bộ luật dân sự năm 2005. Theo quy định hiện hành, ngoài hộ gia đình, tổ hợp tác, còn nhiều tổ chức khác chưa được pháp luật Việt Nam quy định cụ thể hoặc có quy định nhưng còn nhiều quan điểm khác nhau (tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, các hội được thành lập theo thỏa thuận của các thành viên theo nguyên tắc chịu trách nhiệm vô hạn bằng tài sản của thành viên). Qua thảo luận tại Tọa đàm đã có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này.
Theo các chuyên gia Nhật Bản, Bộ luật dân sự chỉ nên quy định nguyên tắc chung về pháp nhân, đối với các pháp nhân chuyên biệt cần được quy định trong pháp luật chuyên ngành (luật doanh nghiệp, luật Hợp tác xã, Luật tổ chức tín dụng…). Quy định về của Bộ luật dân sự Việt Nam về pháp nhân còn một số điểm chưa hợp lý (điều kiện tổ chức là pháp nhân, thời điểm thành lập pháp nhân, đại diện của pháp nhân…). Đối với các tổ chức không đảm bảo là điều kiện là pháp nhân, pháp luật Nhật Bản cũng đã có giải pháp bằng quy định về hội hợp danh điều chỉnh theo nguyên tắc hợp đồng (Điều 667 – 688 Bộ luật dân sự Nhật Bản).
Theo chúng tôi, có hai vấn đề cần được nghiên cứu nhằm hoàn thiện chế định chủ thể trong Bộ luật dân sự sửa đổi: (1) có nên thay đổi điều kiện một tổ chức là pháp nhân tại Điều 84 Bộ luật dân sự năm 2005 hay không?mối liên hệ giữa Điều 84 và Điều 85 Bộ luật dân sự về thời điểm thành lập pháp nhân; (2) Đối với tổ chức được thành lập theo nguyên tắc nghĩa vụ của tổ chức được bảo đảm vô hạn bằng tài sản của các thành viên thì nên được quy định như thế nào trong Bộ luật dân sự?.
4. Về hộ gia đình
Đề xuất của nhóm biên tập nên có cách quy định khác về hộ gia đình và quan hệ giữa các thành viên trong hộ gia đình so với Bộ luật dân sự hiện hành theo hướng không tiếp tục ghi nhận hộ gia đình là chủ thể luật dân sự (chủ thể luật dân sự chỉ nên thừa nhận ở thể nhân và pháp nhân) mà thay bằng các chế định khác của Bộ luật dân sự (chế định sở hữu chung, hợp đồng?!). Trong khảo sát thực tiễn thi hành Bộ luật dân sự ở ba địa phương Hải Phòng, Khánh Hòa và Cần Thơ do Bộ Tư pháp tổ chức (tháng 11- 12 năm 2010) đã có rất nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này, tại Tọa đàm 02/03/2011 và ngày 27/04/2011 cũng vẫn còn hai ý kiến khác nhau:
+ Thứ nhất, tiếp tục ghi nhận hộ gia đình là chủ thể của luật dân sự như Bộ luật dân sự hiện hành, tuy nhiên cần đưa ra nguyên tắc cụ thể về xác định chủ hộ và thành viên hộ gia đình;
+ Thứ hai, căn cứ vào sự biến động mang tính chất tự nhiên – xã hội của các quan hệ gia đình, nhà làm luật không thể đưa ra một nguyên tắc cụ thể để xác định thành viên của hộ gia đình vì tính ổn định của các quan hệ gia đình không cao. Hơn nữa khi giải quyết các vụ việc tại tòa hầu như không có chủ thể là hộ gia đình tham gia tố tụng. Vì vậy không nên quy định hộ gia đình là chủ thể của luật dân sự.
Thực tế, việc ghi nhận kinh tế hộ gia đình và chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế hộ gia đình, đặc biệt ở khu vực sản xuất nông nghiệp đã và đang là chính sách của Nhà nước Việt Nam (pháp luật về đất đai, pháp luật về tín dụng cũng đã có nhiều quy định về chủ thể được giao đất, chủ thể được vay vốn là hộ gia đình).
Theo các chuyên gia Nhật Bản, việc không quy định hộ gia đình là chủ thể luật dân sự là hợp lý. Tuy nhiên, nếu hộ gia đình đã và đang là chủ thể của một số quan hệ trong giao lưu dân sự ở Việt Nam, thì việc không quy định lại hộ gia đình là chủ thể luật dân sự sẽ gặp nhiều khó khăn. Việt Nam cần nghiên cứu kỹ giải pháp thay thế cho chế định hộ gia đình hiện hành để tránh gây bất ổn trong xã hội. Pháp luật Nhật Bản không quy định hộ gia đình là chủ thể luật dân sự, nhưng Nhật Bản có một khái niệm gần với khái niệm về hộ gia đình đó là quy định về khế ước của một tập hợp nhóm người giống trong trường hợp một nghiệp đoàn hoặc một tổ chức. Tổ chức hay nghiệp đoàn này không phải là một pháp nhân, các thành viên tham gia đều đóng góp tài sản chung, gần giống hợp tác xã của Việt Nam mặc dù nó không có tư cách pháp nhân. Quan niệm này gần giống quan niệm về “partnership”, hợp tác xã. Nó dựa trên cơ sở hợp đồng, khế ước được ký giữa các bên, trong khế ước này sẽ quy định ai sẽ là người đại diện (Điều 667 – 688 Bộ luật dân sự Nhật Bản). Quan hệ giữa các bên được xác định trên cơ sở hợp đồng, nếu trong trường hợp được Nhà nước chỉ định thực hiện một công việc nào đó thì theo luật chuyên ngành có thể phải đăng ký.
Như vậy, việc quy định hay không quy định hộ gia đình là chủ thể của luật dân sự là một vấn đề lớn, trong đó có hai nội dung cần được tiếp cận: (1)nếu tiếp tục ghi nhận hộ gia đình là chủ thể luật dân sự thì quy định nguyên tắc pháp lý nào về xác định người đại diện của hộ gia đình, xác định thành viên của hộ gia đình; (2) nếu không tiếp tục ghi nhận hộ gia đình là chủ thể của luật dân sự thì cần có giải pháp pháp lý nào để thay thế chế định về hộ gia đình hiện hành.
5. Về quyền từ chối nhận di sản của người thừa kế
Tại Tọa đàm ngày 02/03/2011, đại diện của Tòa án nhân dân tối cao cũng đã đưa ra vướng mắc trong áp dụng quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về quyền từ chối nhận di sản của người thừa kế (Điều 642 Bộ luật dân sự năm 2005). Theo quan điểm của đại diện của Tòa án nhân dân tối cao, Bộ luật dân sự cần quy định theo hướng không hạn chế thời hạn từ chối nhận di sản và đảm bảo việc từ chối nhận di sản thể hiện đúng ý chí của người được nhận thừa kế.
Trong khảo sát thực tiễn thi hành Bộ luật dân sự tháng 11 – 12/2010 tại Hải Phòng, Khánh Hòa và Cần Thơ các địa phương đều đề cập vướng mắc trong quy định về quyền từ chối nhận di sản. Các đối tượng khảo sát cho rằng, việc quy định người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản nhằm mục đích tôn trọng quyền tự định đoạt của người thừa kế trong việc nhận di sản. Tuy nhiên, Điều 642 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định người thừa kế phải thực hiện quyền từ chối nhận di sản trong thời hạn 6 tháng kể từ thời điểm mở thừa kế là không phù hợp với thực tiễn xã hội và đặc thù tập quán, văn hóa Việt Nam. Thông thường, việc từ chối nhận di sản của người thừa kế thường được đặt ra di sản được chia và di sản được chia khi có yêu cầu của người thừa kế (trong trường hợp cha chết, mẹ còn thì người Việt Nam thường không có yêu cầu khởi kiện). Do vậy, thời hạn 6 tháng là quá ngắn để người thừa kế thực hiện quyền của mình. Có ba quan điểm về vấn đề này:
- Thứ nhất, pháp luật cần mở rộng thời hạn cho phép người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản từ 1 năm hoặc 3 năm. Mục đích để phù hợp với phong tục, tập quán người Việt Nam thường giải quyết việc phân chia di sản sau thời gian chịu tang (từ 1 đến 3 năm);
- Thứ hai, pháp luật nên quy định trước thời điểm di sản được chia, người thừa kế phải thể hiện ý chí về việc từ chối nhận di sản;
- Thứ ba, pháp luật không nên quy định về thời hạn từ chối nhận di sản, người thừa kế có thể thực hiện quyền từ chối nhận di sản tại bất cứ thời điểm nào.
Quan điểm của nhóm biên tập cho rằng, để đảm bảo quyền của người thừa kế, phù hợp tập quán về yêu cầu di sản và chia thừa kế trong xã hội Việt Nam, việc quy định thời hạn từ chối nhận di sản theo quan điểm thứ hai được nêu ở trên là hợp lý. Theo đó, cần mở rộng thời hạn từ chối so với pháp luật hiện hành (6 tháng kể từ thời điểm mở thừa kế) theo hướng phát sinh từ thời điểm mở thừa kế và chấm dứt tại thời điểm di sản được chia cho những người thừa kế.
Như vậy, quy định về từ chối nhận di sản tại Điều 642 Bộ luật dân sự năm 2005 đang là vướng mắc về lý luận và thực tiễn trong công nhận và thực thi quyền của người thừa kế, với ba nội dung sau: (1) có nên tiếp tục thừa nhận quyền từ chối nhận di sản của người thừa kế?; (2) nếu thừa nhận người thừa kế có quyền nhận di sản thì pháp luật có cần thiết quy định về thời hạn từ chối nhận di sản hay không quy định về thời hạn từ chối nhận di sản?; (3) hậu quả pháp lý của việc quy định thời hạn hay không quy định về thời hạn từ chối nhận di sản.
6. Về thời hiệu thừa kế
Điều 645 Bộ luật dân sự quy định thời hiệu khởi kiện thừa kế là 10 năm nhưng lại không quy định trong trường hợp hết thời hiệu khởi kiện thừa kế di sản sẽ thuộc quyền sở hữu của ai và căn cứ xác lập quyền đối với di sản thế nào? Theo quy định của pháp luật tố tụng, Tòa án sẽ từ chối giải quyết yêu cầu khởi kiện về thừa kế nếu hết thời hiệu khởi kiện, trong khi pháp luật lại không có quy định về tình trạng pháp luật đối với di sản sau khi Tòa án từ chối giải quyết vụ việc thừa kế. Nếu những người thừa kế có yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận sở hữu tài sản đối với di sản, thì các cơ quan này thường từ chối cấp giấy chứng nhận sở hữu nếu không có sự đồng ý của tất cả người thừa kế hoặc bản án, quyết định của Tòa án giao quyền sở hữu, sử dụng cho họ. Như vậy, người dân sẽ “kẹt” ở giữa hai quy định mà không đăng ký được quyền sở hữu, quyền sử dụng.
Tại Tọa đàm ngày 02/03/2011, đại diện Tòa án nhân dân tối cao cũng cho rằng, quy định thời hiệu khởi kiện về thừa kế trong Bộ luật dân sự gặp nhiều vướng mắc trong thực tiễn áp dụng luật và đề xuất cần sửa đổi, bổ sung quy định này để khắc phục tránh tình trạng thời hiệu khởi kiện về thừa kế đã hết mà các bên cùng muốn chia thừa kế nhưng không cấp nào giải quyết. Trong khảo sát thực tiễn thi hành Bộ luật dân sự do Bộ Tư pháp thực hiện tại Hải Phòng, Khánh Hòa, Cần Thơ cũng đã có nhiều ý kiến về vấn đề này.
Theo chúng tôi việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy định thời hiệu về thừa kế là cần thiết theo những hướng sau: (1) có nên quy định về thời hiệu khởi kiện về thừa kế hay không? Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề; (2) giải pháp lý nào về hậu quả pháp lý của việc hết thời hiệu thừa kế được quy định trong Bộ luật dân sự mà không có yêu cầu về thừa kế?; (3) giải pháp pháp lý cho việc không quy định về thời hiệu thừa kế.
7. Về di chúc chung của vợ chồng
Di chúc chung của vợ chồng được quy định tại các điều 663, 664, 668 Bộ luật dân sự năm 2005. Tại Tọa đàm ngày 2/3/2011, đại diện của Tòa án nhân dân tối cao cũng đã cho rằng quy định về di chúc chung của vợ chồng còn nhiều vướng mắc trong thực tiễn áp dụng và họ có đề nghị: cho phép một bên vợ, chồng có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc trong phạm vi phần tài sản của mình trong khối tài sản chung của vợ, chồng. Ngoài ra nếu một người chết trước thì phần di sản có thể được chia cho những người được thừa kế khi có yêu cầu và được sự chấp thuận của người vợ, chồng còn sống.
Trong khảo sát thực tiễn thi hành Bộ luật dân sự do Bộ Tư pháp thực hiện tại Hải Phòng, Khánh Hòa, Cần Thơ, cũng có rất nhiều ý kiến nêu lên sự bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật về thời điểm có hiệu lực của di chúc là thời điểm người sau cùng chết. Trên thực tế, khoảng cách giữa hai thời điểm chết của hai vợ chồng có thể là một thời gian dài, trong trường hợp đó việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung có được thực hiện hay không? người còn sống có những quyền nào đối với tài sản chung? Họ có nhu cầu hoặc pháp luật quy định họ phải thực hiện nghĩa vụ tài sản riêng, việc sử dụng tài sản chung đã được định đoạt trong di chúc để thực hiện nghĩa vụ riêng hoặc thực hiện việc chia tài sản chung trong trường hợp này có được công nhận không? Mặt khác, pháp luật quy định di chúc có hiệu lực kể từ thời điểm người sau cùng chết, nhưng pháp luật lại cho phép vợ, chồng còn sống có quyền sửa đổi, bổ sung di chúc trong phần di sản của mình, việc sửa đổi, bổ sung trong trường hợp này có dẫn tới di chúc chung còn hiệu lực hay không có hiệu lực một phần hay toàn bộ di chúc? pháp luật chưa quy định cụ thể vấn đề này. Ở các địa phương khảo sát, có ba quan điểm về di chúc chung của vợ chồng:
- Thứ nhất, việc quy định di chúc chung của vợ chồng theo Bộ luật dân sự hiện hành là phù hợp;
- Thứ hai, không nên thừa nhận di chúc chung của vợ chồng, di chúc là giao dịch đơn phương chỉ do một cá nhân lập không thể là kết quả thỏa thuận của nhiều chủ thể. Mặt khác, việc quy định di chúc chung gây ra rất nhiều vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng;
- Thứ ba, pháp luật nên quy định di chúc chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 671 Bộ luật dân sự năm 1995, theo đó, trong trường hợp vợ, chồng lập di chúc chung mà có một người chết trước, thì chỉ phần di chúc liên quan đến phần di sản của người chết trong tài sản chung có hiệu lực pháp luật; nếu vợ, chồng có thoả thuận trong di chúc về thời điểm có hiệu lực của di chúc là thời điểm người sau cùng chết, thì di sản của vợ, chồng theo di chúc chung chỉ được phân chia từ thời điểm đó;
- Thứ tư, để tránh mâu thuẫn trong quy định thời điểm có hiệu lực của di chúc chung tính từ thời điểm người sau cùng chết với quy định cho phép vợ, chồng có quyền sửa đổi, bổ sung di chúc trong phạm vi di sản của mình, đề nghị bỏ quy định nếu một người đã chết thì người kia chỉ có quyền sửa đổi, bổ sung liên quan đến phần tài sản của mình tại Điều 664 Bộ luật dân sự năm 2005.
Theo các chuyên gia Nhật Bản, Bộ luật dân sự Nhật Bản (Điều 975) không thừa nhận di chúc chung của vợ chồng. Vì xét về mặt pháp lý, di chúc chỉ có hiệu lực khi người để lại di chúc chết đi. Hơn nữa, nếu hai người làm di chúc thì việc thể hiện ý chí rất phức tạp. Nhật Bản coi trọng mặt hình thức, di chúc phải dễ hiểu và phải có công chứng. Thực tế, đa số di chúc bị hủy đều do không thỏa mãn quy định về mặt hình thức.
Xuất phát từ những vấn đề về lý luận và thực tiễn nêu trên, quy định về di chúc chung của vợ chồng cũng cần được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung theo những nội dung sau: (1) có nên tiếp tục thừa nhận hay không thừa nhận di chúc chung của vợ chồng trong Bộ luật dân sự?; (2) nếu tiếp tục thừa nhận di chúc chung của vợ chồng thì cần quy định giải pháp pháp lý nào trong Bộ luật dân sự để khắc phục những vướng mắc hiện nay?. (3) nếu không thừa nhận di chúc chung của vợ chồng thì cần quy định giải pháp pháp lý nào trong Bộ luật dân sự về hậu quả đối với các trường hợp vợ chồng cùng lập di chúc chung?.

[1] Một số nội dung trong bài viết này được trích dẫn từ Báo cáo kết quả Tọa đàm về một sô định hướng trong sửa đổi cơ bản Bộ luật dân sự năm 2005 do Bộ Tư pháp và Jica tổ chức vào các ngày 02/03/2011 và 27/04/2011 tại Hà Nội và Báo cáo kết quả khảo sát thực tiễn thi hành Bộ luật dân sự tại Hải Phòng, Khánh Hòa, Cần Thơ do Bộ Tư pháp thực hiện trong tháng 11 – 12 năm 2010.
[2] Nhóm biên tập chuyên trách thuộc Vụ Pháp luật dân sự – kinh tế (Bộ Tư pháp).
[3] Đọc thêm, Nguyễn Hồng Hải, “Một số vấn đề cần trao đổi về thời hiệu yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự”, chuyên đề Hội thảo về “Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự”, Ủy ban Tư pháp Quốc hội. TP.HCM, ngày 27 – 28/12/2010.
Nguồn: CHUYÊN ĐỀ TỌA ĐÀM “một số định hướng sửa đổi cơ bản Bộ luật dân sự năm 2005”, BỘ TƯ PHÁP VÀ JICA TỔ CHỨC, HÀ NỘI, NGÀY 27/4/2011 (Có bổ sung sau kết quả tọa đàm ngày 27/4/2011)

MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG TRONG SỬA ĐỔI PHẦN QUY ĐỊNH CHUNG CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

Trong cấu trúc và mục đích kết cấu của Bộ luật dân sự, phần Quy định chung được kết cấu như là phần quy định những nguyên lý cơ bản nhất về quan hệ tư, về luật tư và là điều khoản chung cho toàn bộ các phần trong Bộ luật dân sự và các văn bản luật trong hệ thống luật tư. Qua thực tiễn thi hành, phần Quy định chung của Bộ luật dân sự năm 2005 (từ Điều 1 đến Điều 162) bên cạnh những quy định tốt đã bộc lộ những khiếm khuyết cơ bản trong thể hiện vai trò nêu trên của mình, nhiều quy định không thể hiện đầy đủ những nguyên lý của quan hệ luật tư, chưa thực sự là điều khoản chung, không có tính ổn định và tính khái quát cao… Trước thực trạng như vậy, việc sửa đổi phần Quy định chung cần thiết phải đặt ra và là một nội dung quan trọng trong công tác sửa đổi cơ bản Bộ luật dân sự. Việc sửa đổi phần Quy định chung cần có những nghiên cứu rất cơ bản về lý luận, tổng kết công tác thực tiễn và trong tư duy xây dựng pháp luật. Bài dẫn đề này xin đề cập một số định hướng cơ bản sau:
1. Việc sửa đổi cần được dựa trên những nguyên tắc cơ bản, thống nhất trong tư duy xây dựng pháp luật dân sự nói chung và phần Quy định chung của Bộ luật dân sự nói riêng
- Thứ nhất, những nguyên lý cơ bản nhất của các quan hệ tư là đối tượng điều chỉnh của Bộ luật dân sự phải được ghi nhận, không tái quy định hoặc bổ sung vào trong Bộ luật dân sự những quy định đi ngược với những nguyên lý này;
- Thứ hai, việc xây dựng và hoàn thiện phần Quy định chung nói riêng và Bộ luật dân sự nói chung phải dựa vào luận cứ khoa học trên nền tảng học thuyết pháp lý đã được khẳng định cả về lý luận và thực tiễn, phù hợp với điều kiện kinh tế – văn hóa – xã hội của Việt Nam. Kế thừa những thành tựu và kinh nghiệm trong kết cấu, nội dung của các Bộ luật dân sự cổ, cận đại và hiện hành của Việt Nam (Bộ Dân luật Bắc kỳ năm 1931, Bộ Dân luật Trung kỳ năm 1936, Bộ Dân luật năm 1972 của chế độ Sài Gòn cũ, Bộ luật dân sự năm 1995, năm 2005 của Nhà nước ta). Đồng thời, học tập, tham khảo kinh nghiệm về kết cấu, nội dung Bộ luật dân sự của các nước trên thế giới có truyền thống về pháp luật dân sự thành văn (Đức, Pháp, Nhật…) và của các nước có điều kiện kinh tế – văn hóa – xã hội tương đồng với Việt Nam (Thái Lan, Cam – Phu – Chia, Philippine…).
- Thứ ba, phần Quy định chung của Bộ luật dân sự phải là phần điều khoản chung cho toàn bộ hệ thống quy phạm thuộc lĩnh vực luật tư. Trong đó, việc quy định các phần còn lại của Bộ luật dân sự và trong các văn bản luật chuyên ngành (Luật Doanh nghiệp, Luật Thương Mại, Luật nhà ở, Luật hôn nhân và gia đình…) không được trái với các quy định trong phần Quy định chung mà chỉ là sự cụ thể hóa các nguyên tắc, các định chế của nó vào trong các chế định, quan hệ cụ thể;
- Thứ tư, đảm bảo tính ổn định và tính khái quát cao trong các quy định của phần Quy định chung, tạo cơ sở pháp lý chung trong xây dựng pháp luật, giải thích pháp luật hoặc là căn cứ áp dụng pháp luật khi các phần còn lại của Bộ luật dân sự hoặc các văn bản luật chuyên ngành thuộc hệ thống luật tư không có quy định hoặc quy định không cụ thể.

Những vấn đề pháp lý thường phụ thuộc vào các quyết định chính trị thì không tái quy định lại hoặc bổ sung vào phần Quy định chung (kể các phần khác của Bộ luật dân sự) mà nên quy định ở các văn bản pháp luật khác để đảm bảo sự ổn định của các quy định trong Bộ luật dân sự, cũng như chính sách nhất quán của Nhà nước đối với các quan hệ tư và trong điều chỉnh quan hệ tư;
- Thứ năm, thừa nhận nguyên tắc công nhận tiền lệ, tập quán là nguồn của luật tư, đảm bảo đủ cơ sở pháp lý để Tòa án công nhận và bảo vệ quyền của chủ thể luật tư, để áp dụng giải quyết một vụ việc dân sự, cũng như trong pháp điển hóa pháp luật về dân sự;
- Thứ sáu, thừa nhận nguyên tắc Tòa án không được từ chối giải quyết đơn khởi kiện hoặc đơn yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự để đảm bảo lẽ công bằng trong giải quyết các vụ việc dân sự;
- Thứ bảy, không quy định trùng lắp giữa phần Quy định chung của Bộ luật dân sự với các phần còn lại của Bộ luật dân sự và các văn bản luật chuyên ngành thuộc hệ thống luật tư. Những quy định thuộc điều khoản chung trong lĩnh vực luật tư thì cần cơ cấu thống nhất trong phần Quy định chung của Bộ luật dân sự không quy định lại hoặc bổ sung trong các phần còn lại của Bộ luật dân sự và trong các văn bản luật chuyên ngành;
2. Kết cấu phần Quy định chung
Về cơ bản, kết cấu phần Quy định chung của Bộ luật dân sự năm 2005 tương đối hợp lý, những chế định trong phần này đều mang tính chất là điều khoản chung cho toàn bộ hệ thống quy phạm trong lĩnh vực luật tư (nhiệm vụ và hiệu lực của Bộ luật dân sự; những nguyên tắc cơ bản; cá nhân; pháp nhân; giao dịch dân sự; đại diện; thời hạn và thời hiệu). Do vậy, kết cấu của phần Quy định chung của Bộ luật dân sự sửa đổi sẽ dựa trên nền kết cấu của phần Quy định chung Bộ luật hiện hành có xem xét đến hai vấn đề sau:
(1) Về chủ thể, ngoài hai thành tố cơ bản là cá nhân và pháp nhân, nhà làm luật cũng đã đưa hộ gia đình và tổ hợp tác vào phần Quy định chung Bộ luật dân sự năm 2005 với tư cách là chủ thể của luật dân sự. Chưa bàn đến tư cách chủ thể và tính hợp lý khi thừa nhận tư cách chủ thể của hộ gia đình và tổ hợp tác, đứng trên phương diện cả về lý luận và thực tiễn đều cho thấy, chế định về hộ gia đình và tổ hợp tác không thể xác định là điều khoản chung cho toàn bộ hệ thống quy phạm thuộc lĩnh vực luật tư, vì bản thân hộ gia đình và tổ hợp tác tham gia giao lưu dân sự, thương mại chỉ trong một số lĩnh vực đặc thù, trên một phạm vi hạn chế. Do đó, không nên tái kết cấu chương Hộ gia đình và Tổ hợp tác vào trong phần Quy định chung Bộ luật dân sự;
(2) Bộ luật dân sự hiện hành không kết cấu chế định tài sản vào phần Quy định chung mà kết cấu vào phần Tài sản và Quyền sở hữu tài sản. Kết cấu như vậy chúng tôi cho rằng không hợp lý. Tài sản không chỉ là đối tượng và khách thể của quyền sở hữu mà còn là đối tượng phổ biến trong hầu hết các quan hệ tư và các giao dịch khác. Trên thực tế, các quy định về tài sản trong phần Tài sản và Quyền sở hữu không chỉ liên quan đến quyền sở hữu mà còn là điều khoản chung của hầu hết các phần còn lại của Bộ luật dân sự và văn bản luật chuyên ngành trong lĩnh vực luật tư. Với vị trí như vậy, việc kết cấu chế định tài sản vào phần Quy định chung thay cho việc kết cấu ở phần Tài sản và Sở hữu của Bộ luật dân sự là một giải pháp cần được lựa chọn trong kết cấu phần Quy định chung nói riêng và kết cấu Bộ luật dân sự sửa đổi nói chung.
Với cách tiếp cận như vậy, dự kiến kết cấu phần Quy định chung của Bộ luật dân sự sửa đổi bao gồm:
1. Hiệu lực của Bộ luật dân sự
2. Những nguyên tắc cơ bản
3. Cá nhân
4. Pháp nhân
5. Tài sản
6. Giao dịch
7. Đại diện
8. Thời hạn và thời hiệu.
3. Một số định hướng về nội dung của phần Quy định chung Bộ luật dân sự sửa đổi[1]
3.1. Về nhiệm vụ và hiệu lực của Bộ luật dân sự (Chương 1, Điều 1 – Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2005)
Việc sử dụng thuật ngữ nhiệm vụ, phạm vi điều chỉnh và hiệu lực trong cùng một nội dung là không cần thiết, có sự trùng lắp về nội hàm khoa học của thuật ngữ. Bản thân từ hiệu lực đã bao hàm đối tượng, phạm vi điều chỉnh cả về không gian, thời gian và lãnh thổ. Do vậy, Chương 1 Bộ luật dân sự năm 2005 nên được kết cấu lại thành chương Hiệu lực của Bộ luật dân sự.
Điều 1 Bộ luật dân sự năm 2005 cho thấy sự “lúng túng” của kỹ thuật lập pháp dựa trên phương pháp liệt kê khi quy định “Bộ luật dân sự quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quyền, nghĩa vụ của chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là quan hệ dân sự)”. Quy định như vậy chưa thực sự khái quát hóa, trừu tượng hóa được về nguyên lý, đặc trưng của các quan hệ xã hội thuộc đối tượng, phạm vi điều chỉnh của luật dân sự là các quan hệ tư trong đó chủ thể bình đẳng, tự do ý chí khi xác lập, thực hiện và chấm dứt quan hệ trên cơ sở tôn trọng trật tự công và lợi ích công cộng[2]. Mặt khác, sự phân loại các quan hệ thuộc đối tượng, phạm vi điều chỉnh của luật dân sự thành quan hệ dân sự, thương mại, hôn nhân và gia đình… chỉ mang tính chất tương đối, trong nhiều trường hợp khó có thể phân biệt được cụ thể một quan hệ tư thuộc nhóm quan hệ nào[3]. Khắc phục vướng mắc này, Điều 1 nên được thiết kế lại với nội dung “Bộ luật này được ban hành nhằm tôn trọng các quyền về tài sản được ghi nhận trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; điều chỉnh các quan hệ được xác lập, thực hiện và chấm dứt dựa trên sự bình đẳng, tự do ý chí giữa các tư nhân[4]; công nhận và bảo vệ quyền của các tư nhân trên cơ sở tôn trọng trật tự công và lợi ích công cộng”.
Cũng về hiệu lực, Bộ luật dân sự năm 2005 chưa có một quy định cụ thể làm rõ mối quan hệ về hiệu lực giữa Bộ luật dân sự với các văn bản luật chuyên ngành (Luật thương mại, Luật sở hữu trí tuệ, Luật đất đai, Luật hôn nhân và gia đình, Luật nhà ở, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật kinh doanh bất động sản…). Các quan hệ tư thuộc đối tượng, phạm vi điều chỉnh của Bộ luật dân sự rất rộng và đa dạng, do đó, bên cạnh các quy định của Bộ luật dân sự, việc ban các văn bản pháp luật chuyên ngành là tất yếu. Tuy nhiên, các văn bản luật chuyên ngành có nội dung không được trái với những nguyên tắc cơ bản và những nguyên lý cơ bản của quan hệ tư được quy định trong Bộ luật dân sự. Trong trường hợp, Bộ luật dân sự và văn bản luật chuyên ngành cùng điều chỉnh một quan hệ tư, nguyên tắc ưu tiên luật chuyên ngành được công nhận nếu quy định của luật chuyên ngành không trái với những nguyên tắc cơ bản và những nguyên lý cơ bản của quan hệ tư được quy định trong Bộ luật dân sự. Trong trường hợp một quan hệ chuyên ngành không được văn bản luật chuyên ngành quy định hoặc quy định không cụ thể thì quy định của Bộ luật dân sự là căn cứ để giải thích luật chuyên ngành hoặc được áp dụng để công nhận, bảo vệ quyền của chủ thể luật tư. Thực tế pháp lý của Việt Nam cho thấy, việc xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật chuyên ngành trong lĩnh vực tư chưa đáp ứng được yêu cầu trên, khi chúng được ban hành không dựa trên nguyên tắc nhất quán, có tính hệ thống trong lĩnh vực luật tư đã gây rất nhiều khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thi hành, áp dụng pháp luật. Theo chúng tôi, Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm của nhà làm luật Cam Pu Chia trong việc đưa ra giải pháp cho vấn đề này, Điều 1 Bộ luật dân sự năm 2007 của họ quy định “Luật này đưa ra những quy định cơ bản liên quan đến mối quan hệ pháp luật dân sự. Trong trường hợp không có quy định khác trong các bộ luật chuyên ngành về quan hệ tài sản và quan hệ gia đình thì những quy định của bộ luật này hoàn toàn có thể áp dụng được”.
Về nguồn của luật dân sự, nhà làm luật Việt Nam đã thừa nhận tập quán là nguồn của luật dân sự trong trường hợp pháp luật không có quy định và các bên không có thỏa thuận (Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2005). Tuy nhiên, theo chúng tôi cần bổ sung vào Điều 3 của Bộ luật dân sự năm 2005 về áp dụng tập quán của một hiệp hội và tập quán quốc tế trong điều chỉnh các quan hệ tư. Đây cũng là yêu cầu khách quan đặt ra trong thực tiễn giao lưu dân sự và trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam.
Ngoài ra, Việt Nam cũng cần thiết phải có nghiên cứu cơ bản về việc thừa nhận án lệ là nguồn của luật tư. Trên thế giới, không có Bộ luật dân sự nào có thể quy định hết được các quan hệ, nhóm quan hệ trong lĩnh vực luật tư. Thực tế đó sẽ dẫn tới có quan hệ, nhóm quan hệ, luật không quy định hoặc có quy định nhưng không rõ ràng và khi có yêu cầu của chủ thể luật tư, Tòa án sẽ không có đủ căn cứ pháp lý để xác định và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể. Giải pháp được nhiều nước lựa chọn để giải quyết vấn đề này là trao thẩm quyền cho Tòa án được sử dụng án lệ để giải thích luật và áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ việc dân sự[5].
3.2. Về nguyên tắc cơ bản của Bộ luật dân sự (Chương 2, Điều 4 – Điều 13 Bộ luật dân sự năm 2005)
Một yêu cầu trong xây dựng các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật dân sự (thực chất là các nguyên tắc cơ bản của hệ thống luật tư) được áp dụng trong hầu hết các Bộ luật dân sự trên thế giới là chỉ quy định các nguyên tắc có nội dung khái quát hóa, trừu tượng cao, phản ánh đặc trưng, nguyên lý của quan hệ tư và luật tư. Nhiều nguyên tắc được quy định trong Bộ luật dân sự năm 2005 từ Điều 4 đến Điều 13 không đảm bảo được yêu cầu nêu trên: Một số nguyên tắc được thiết kế “ôm đồm” vượt quá yêu cầu của một nguyên tắc khi nội dung chứa đựng quy định của một chế định cụ thể (nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận được quy định tại Điều 4 là một ví dụ); Một số nguyên tắc được quy định có nội dung trùng lắp nhau, không phản ánh được tính độc lập của một nguyên tắc cơ bản (ví dụ, tôn trọng đạo đức, truyền thống tốt đẹp được ghi nhận là một nguyên tắc cơ bản tại Điều 8, nhưng nội dung của nó cũng đã được quy định tại Điều 1 nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận được công nhận khi không trái đạo đức xã hội); Một số nguyên tắc được quy định nhưng không mang tính chất đặc trưng của quan hệ tư, luật tư mà là những nguyên tắc đương nhiên của Nhà nước pháp quyền đã được ghi nhận trong Hiến pháp hoặc nó được áp dụng cho tất cả các quan hệ không chỉ có quan hệ tư, như các nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự (Điều 9), nguyên tắc tôn trọng lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác (Điều 10), nguyên tắc tuân thủ pháp luật (Điều 11); có những nội dung không mang tính nguyên tắc, nhưng lại được quy định trong phần này, đó là quy định về căn cứ xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự tại Điều 13.
3.3. Về thời hiệu (Điều 154 – Điều 162 Bộ luật dân sự năm 2005, Điều 159, Điều 168 và Điểm c Khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2004)[6]
Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005, thời hiệu có 3 loại thời hiệu hưởng quyền, thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự và thời hiệu yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự (bao gồm thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự) – gọi chung là thời hiệu khởi kiện. Trong đó, thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện (Khoản 3 Điều 155 Bộ luật dân sự năm 2005, Điều 159 BLTTDS năm 2004). Cụ thể hóa quy định này, điểm h khoản 1 Điều 192 BLTTDS tại mục 31 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ luật tố tụng dân sự quy định Tòa án có quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự nếu thấy đã hết thời hiệu khởi kiện.
Việc quan niệm thời hiệu khởi kiện như vậy đã bộc lộ những vướng mắc về lý luận và thực tiễn đòi hỏi phải có sự nghiên cứu cơ bản để sửa đổi, hoàn thiện:
- Thứ nhất, việc quy định thời hiệu yêu cầu còn mang nặng mục đích tạo căn cứ pháp lý cho Tòa án từ chối giải quyết vụ việc dân sự khi có yêu cầu của chủ thể dân sự, biến thời hiệu yêu cầu thành thành thời hiệu thụ lý trong thực tiễn tố tụng ở Việt Nam. Đây là một mâu thuẫn lớn đối với thể chế pháp lý cho nền kinh tế thị trường, xã hội dân sự và thông lệ quốc tế – Pháp luật có trách nhiệm đảm bảo được lẽ công bằng trong ứng xử và trong bảo vệ quyền của chủ thể luật tư khi quyền của họ cần được bảo vệ. Tòa án không lấy lý do thời hiệu đã hết để từ chối thụ lý đơn khi có yêu cầu. Tòa án chỉ có quyền căn cứ vào quy định về thời hiệu hưởng quyền, thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ để công nhận hay bác yêu cầu của chủ thể.
- Thứ hai, pháp luật mới chỉ dừng lại ở việc thừa nhận quyền yêu cầu của chủ thể dân sự trong thời hạn luật định mà chưa có quan điểm rõ ràng hậu quả về nội dung quan hệ dân sự khi thời hiệu khởi kiện đã hết. Ở Việt Nam, hết thời hiệu yêu cầu không đồng nghĩa chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ, bên có nghĩa vụ không được miễn trừ nghĩa vụ, trong khi bên có quyền không còn quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận, bảo vệ quyền dân sự. Đây có thể là một trong những nguyên nhân gia tăng sự phức tạp trong thực tiễn giao lưu dân sự (đặc biệt trong các tranh chấp liên quan đến sở hữu, hợp đồng và thừa kế);
- Thứ ba, pháp luật đã công nhận quyền của chủ thể dân sự trong việc yêu cầu Tòa án công nhận, bảo vệ quyền dân sự, nhưng chưa có quy định hợp lý về xác định thời hiệu, thường ấn định một thời điểm xác định mà không linh hoạt hóa cho phù hợp với các quan hệ dân sự và chủ thể có tính đặc thù thống nhất. Quy định như vậy, có thể tạo ra tình trạng không công bằng trong công nhận, bảo vệ quyền dân sự của chủ thể hoặc áp dụng pháp luật không thống nhất. Ví dụ, khoản 1 Điều 136 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định thời hiệu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu được tính từ thời điểm giao dịch được xác lập mà không phụ thuộc chủ thể dân sự biết hay buộc phải biết quyền, lợi ích của mình bị xâm phạm hoặc hành vi vi phạm đã và đang còn tiếp diễn hay không.
3.4. Về chủ thể
Chủ thể được quy định trong phần quy định chung của Bộ luật dân sự năm 2005, chương 3 Cá nhân (Điều 14 – Điều 83), chương IV Pháp nhân (Điều 84 – Điều 105), chương V Hộ gia đình, tổ hợp tác (Điều 106 – Điều 120). Xét về tổng thể, nhiều quy định trong Bộ luật đã đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn về xác định tư cách chủ thể. Tuy nhiên, chủ thể luật tư rất rộng, nó bao trùm lên hầu hết các chủ thể trong xã hội. Các chủ thể trong xã hội cũng rất đa dạng về loại và tư cách chủ thể, nhưng xét cho cùng chỉ ở hai tư cách: cá nhân và pháp nhân. Quy định về chủ thể trong Bộ luật dân sự phải mang tính khái quát cao để có thể điều chỉnh được tất cả các chủ thể luật tư và Bộ luật dân sự hiện hành của Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu này ở hai khía cạnh: không bao quát hết các chủ thể luật tư và gặp rất nhiều vướng mắc về xác định tư cách chủ thể trong thực tiễn áp dụng. Vì vậy, việc sửa đổi Bộ luật dân sự về chủ thể quan hệ pháp luật dân sự nên quy định theo hai thành tố cơ bản: cá nhân (thể nhân) và pháp nhân. Đây cũng là giải pháp phổ biến theo truyền thống pháp luật dân sự trên thế giới và yêu cầu khách quan của thực tiễn giao lưu dân sự.
* Đối với cá nhân:
Các quy định về cá nhân trong Bộ luật dân sự năm 2005 là rất tốt, đã tạo nên những điều khoản chung hiệu quả cho việc quy định các phần còn lại của Bộ luật dân sự và các văn bản luật chuyên ngành trong lĩnh vực luật tư. Tuy nhiên, Bộ luật dân sự năm 2005 có một mục riêng về quyền nhân thân của cá nhân (từ Điều 24 đến Điều 51) theo hướng quy định cụ thể, liệt kê các quyền nhân thân của cá nhân. Việc quy định như vậy tạo thuận lợi cho Tòa án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác áp dụng pháp luật, nhưng có thể là sự hạn chế quyền nhân thân của cá nhân. Do vậy, cần bổ sung một nguyên tắc chung, ngoài những quyền nhân thân đã được ghi nhận trong Bộ luật dân sự, những gì thuộc về phẩm giá của con người thì cũng được pháp luật dân sự công nhận và bảo vệ.
Đối với những quyền nhân thân mà đã được ghi nhận trong Hiến pháp với tư cách quyền công dân, việc quy định lại các quyền này trong Bộ luật dân sự mà không làm rõ tính chất “tư” của nó là không cần thiết, như các quyền đối với quốc tịch (Điều 45), quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo (Điều 47), quyền lao động (Điều 49), quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo (Điều 51)…
Ngoài ra, về vấn đề bảo vệ quyền nhân thân, Điều 25 quy định quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm thì người đó có quyền yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, đồng thời có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu có thiệt hại xảy ra. Quy định như vậy là không hợp lý, không thể đồng nhất người có hành vi xâm phạm quyền nhân thân của người khác và gây thiệt hại thì đương nhiên phải chấm dứt hành vi xâm phạm. Pháp luật cần phải phân định rõ trường hợp nào người có hành vi xâm phạm quyền nhân thân phải bồi thường thiệt hại đồng thời phải chấm dứt hành vi, trường hợp nào họ phải bồi thường thiệt hại nhưng không phải chấm dứt hành vi của mình (theo kinh nghiệm pháp luật Nhật Bản một hành vi xâm phạm quyền nhân thân của một chủ thể nhưng lại đem lợi ích cho cộng đồng thì chủ thể thực hiện hành vi chỉ thực hiện việc bồi thường mà không phải chấm dứt hành vi của mình, mặc dù người có quyền nhân thân bị xâm phạm có yêu cầu).
* Đối với pháp nhân:
Bộ luật dân sự năm 2005 quy định pháp nhân là chủ thể luật tư (Điều 84 – Điều 105), nhưng một tổ chức chỉ là pháp nhân khi đảm bảo các điều kiện công nhận pháp nhân được quy định trong Bộ luật dân sự (Điều 84). Với quy định như vậy sẽ có tổ chức không là pháp nhân vì không đảm bảo điều kiện công nhận pháp nhân và những tổ chức này chưa được quy định cụ thể trong Bộ luật. Việc quy định điều kiện công nhận pháp nhân cũng không hợp lý khi quy định tổ chức là pháp nhân phải được thành lập hợp pháp, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, nhân danh mình tham gia các quan hệ một cách độc lập, ba điều kiện này không có ý nghĩa về pháp lý vì nó đương nhiên đối với mọi tổ chức không phụ thuộc là pháp nhân hay không là pháp nhân.
Có 3 điểm khác biệt cơ bản giữa tổ chức là pháp nhân và tổ chức không là pháp nhân: (1) Tổ chức đó đăng ký tư cách pháp nhân hay không?; (2) tài sản của tổ chức có độc lập với tài sản của thành viên của tổ chức hay không? (3) tổ chức chịu trách nhiệm dân sự trong phạm vi tài sản của tổ chức (trách nhiệm hữu hạn) hay bằng cả tài sản của tổ chức và tài sản của thành viên (trách nhiệm vô hạn). Một tổ chức là pháp nhân khi nó có đăng ký tư cách pháp nhân, có tài sản độc lập với tài sản của thành viên tổ chức và chịu trách nhiệm hữu hạn trong thực hiện nghĩa vụ.
Để giải quyết những mâu thuẫn trên, theo quan điểm của chúng tôi, chương IV Pháp nhân của Bộ luật dân sự năm 2005 cần quy định nguyên tắc “mọi tổ chức tự do về tư cách pháp nhân nếu có đăng ký”, đối với các tổ chức không có đăng ký là pháp nhân, nhà làm luật cũng phải dự liệu giải pháp pháp lý cho các tổ chức này. Ngoài ra, thời điểm thành lập pháp nhân cũng cần được quy định cụ thể trong Bộ luật dân sự. Quy định các loại pháp nhân (từ Điều 100 đến Điều 105) là không cần thiết vì theo cách phân loại này không cho thấy sự khác biệt cơ bản về quyền đối với tài sản và chịu trách nhiệm dân sự (trừ pháp nhân là cơ quan Nhà nước do những đặc thù riêng về tài sản, nhân danh và chế độ chịu trách nhiệm có thể có quy định riêng).
Ngoài hai chủ thể là cá nhân và pháp nhân nêu trên, Bộ luật dân sự năm 2005 còn quy định hộ gia đình và tổ hợp tác như là chủ thể của luật dân sự. Quy định như vậy của Bộ luật dân sự năm 2005 đã và đang làm phát sinh nhiều vướng mắc cả trong thực tiễn và lý luận mà chưa có giải pháp giải quyết triệt để (tác giả sẽ đề cập đến vấn đề này trong một bài khác).

[1] Trong bài này chúng tôi không đưa ra những định hướng sửa đổi, bổ sung phần giao dịch, đại diện và một số nội dung khác trong phần quy định chung
[2] Đọc thêm, Morishima Aikyo, “Các nội dung cần nghiên cứu, chuẩn bị cho việc sửa đổi Bộ luật dân sự năm 2005 của Việt Nam”, Hội thảo “Những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung trong Bộ luật dân sự năm 2005”, Bộ Tư pháp và Jica phối hợp tổ chức, 25-27/2010, Đồ Sơn, Hải Phòng.
[3] Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam phân loại thẩm quyền cũng theo cách phân loại được quy định tại Điều 1 Bộ luật dân sự năm 2005 phân chia hệ thống tòa dân sự thành Tòa dân sự, Tòa kinh tế, Tòa Lao động. Thực tiễn cho thấy thực tế nhiều trường hợp khó có thể phân định một vụ án là vụ án dân sự hay vụ án kinh tế để xác định thẩm quyền giải quyết vụ việc thuộc về Tòa án dân sự hay Tòa kinh tế.
[4] Thuật ngữ “tư nhân” có thể được thay thế bằng thuật ngữ “cá nhân” dùng để ám chỉ cá nhân, pháp nhân tham gia các quan hệ dân sự không dựa trên quyền lực nhà nước, pháp nhân công khi tham gia giao dịch cũng được xác định là “tư nhân” hoặc “cá nhân” không mang tư cách là chủ thể của quan hệ công.
[5] Đọc thêm, Nguyễn Hồng Hải, “Một số vấn đề cần trao đổi thêm về sửa đổi cơ bản Bộ luật dân sự năm 2005”, Tọa đàm ngày 27/04/2011, Bộ Tư pháp và Jica phối hợp tổ chức tại Hà Nội.
[6] Đọc thêm, Nguyễn Hồng Hải, “Một số vấn đề cần trao đổi về thời hiệu yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự”, chuyên đề Hội thảo về “Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự”, Ủy ban Tư pháp Quốc hội. TP.HCM, ngày 27 – 28/12/2010.
NGUYỄN HỒNG HẢI – Vụ Pháp luật Dân sự – Kinh tế, Bộ Tư pháp
Nguồn: CHUYÊN ĐỀ TỌA ĐÀM “một số định hướng sửa đổi cơ bản Bộ luật dân sự năm 2005”, BỘ TƯ PHÁP VÀ JICA TỔ CHỨC, HÀ NỘI, NGÀY 02/03/2011 (Có bổ sung sau kết quả tọa đàm ngày 27/4/2011 cùng một nội dung và đơn vị tổ chức Tọa đàm ngày 02/03/2011)