Thứ Năm, 28 tháng 10, 2010

Bài học về sự hợp tác

Ngày xưa, có hai người nọ gặp cảnh túng quẫn, đương bụng đói cồn cào đã được một ông lão râu tóc bạc phơ ban cho ân huệ: chiếc cần câu và giỏ cá đầy ắp. Một người vội vã chọn ngay giỏ cá to, người kia nhận lấy chiếc cần câu. Cảm ơn cụ già, họ chia tay nhau, mỗi người đi một ngả.

Người được giỏ cá lập tức quơ vội quơ vàng đám củi khô gần đấy, nhóm lửa lên và bắt đầu nướng cá. Cá vừa chin tới, anh ta đã cho vào miệng nhai ngấu nghiến, đến nỗi chẳng kịp cảm nhận mùi vị thơm ngon. Chỉ trong chốc lát, cả cái giỏ đầy tú ụ những con cá to béo đã nằm gọn trong dạ dày háu ăn của anh ta. Nhưng chẳng được bao lâu, anh lại phải ôm cái bụng đói meo nằm kề đống xương cá còn lại.

Người chọn chiếc cần câu thì sao? Vác cần câu lên vai, anh kiên trì lê từng bước khó nhọc về hướng biển, mặc cho cái bụng đang réo sôi vì đói. Ánh mắt anh bỗng ngời sáng khi trông thấy màu xanh nước biển thấp thoáng phía trước. Tiếc thay, anh đã kiệt sức, không thể tiếp tục cuộc hành trình, dù chỉ còn cách biển trong gang tấc. Đầu óc choáng váng, anh ngã nhào xuống đất, mắt vẫn đau đáu nhìn về phía biển trong nỗi tiếc nuối khôn nguôi.

Lại có hai người cũng rơi vào cảnh ngộ đói khát như thế, và cũng nhận được ân đức từ ông lão tóc bạc: chiếc cần câu và giỏ cá to. Khác với hai người trên, họ quyết định sẽ cùng nhau đi tìm biển lớn. Trên đường đi, mỗi lần dừng lại, họ chỉ nướng một con cá dằn bụng mà thôi. Trải qua cuộc hành trình gian khổ, cuối cùng hai người cũng đến được bờ biển, bắt đầu cuộc sống mới, lập nghiệp bằng nghề đánh cá. Vài năm sau, họ xây nhà, tạo dựng tổ ấm với vợ hiền và những đứa con xinh đẹp. Góp nhặt từ mồ hôi công sức bấy lâu, họ đóng chiếc tàu đánh cá lớn làm phương tiện mưu sinh lâu dài, sống cuộc đời hạnh phúc ấm no.

Một người chỉ biết lợi ích trước mắt, cuối cùng chỉ hưởng được niềm vui tạm thời. Một người có mục tiêu cao xa, nhưng lại không đủ sức vượt qua khó khăn của thực tại. Nên tìm cơ hội kết hợp lý tưởng và hiện thực lại với nhau, khi ấy mới có thể bước qua cánh cửa thành công.

Đôi khi, chỉ một đạo lý đơn giản, nhưng có thể là khởi điểm cho cuộc sống tốt đẹp, lâu dài về sau.

Lý tưởng luôn là “đại dương” xa vời, thực tế lại là khó khăn trước mắt. Muốn khắc phục khó khăn để thực hiện lý tưởng, chỉ có nghị lực thôi chưa đủ, còn phải biết cách hợp tác cùng người khác, lấy ngắn nuôi dài, mọi người cùng thắng.

CÂU CHUYỆN ĐỊNH GIÁ THƯƠNG HIỆU

Những câu chuyện mua bán, khiếu kiện liên quan đến thương hiệu của các doanh nghiệp trong nước thường chỉ được nhắc đến trong những lúc trà dư tửu hậu, chưa trở thành những bài học kinh nghiệm. Việc định giá thương hiệu, để thương hiệu trở thành tài sản của doanh nghiệp, vẫn đang chờ một cơ sở pháp lý.
Những câu chuyện cũ
Cách đây nhiều năm, việc hãng Unilever mua lại thương hiệu kem đánh răng P/S với giá 5 triệu đô la Mỹ và Colgate mua Dạ Lan với giá 3 triệu đô la đã gây xôn xao dư luận. Năm 1999, chủ nhãn hiệu kẹo dừa Bến Tre, bà Hai Tỏ, đã phải lặn lội sang Trung Quốc khiếu kiện một doanh nghiệp xứ này lấy thương hiệu của mình để đăng ký bảo hộ cho sản phẩm kẹo dừa xuất khẩu. Năm 2001, Công ty Cà phê Trung Nguyên đã phải chi một khoản tiền không nhỏ để lấy lại thương hiệu do một Việt kiều ở Mỹ đã đăng ký nhãn hiệu này trước đó.
Những câu chuyện trên vẫn chưa thể gợi ra những mối quan tâm về thương hiệu từ phía cơ quan quản lý trong thời gian gần đây. Một số doanh nghiệp xin góp vốn bằng thương hiệu, nhưng đã bị Bộ Tài chính từ chối, bởi chuẩn mực kế toán 04 của bộ ban hành không cho phép việc này. Ngay cả khi làn sóng cổ phần hóa doanh nghiệp làm xuất hiện sự lúng túng về việc xác định giá trị thương hiệu cấu thành tài sản doanh nghiệp, thì vẫn chưa có một cơ quan nào đứng ra lo liệu.
Câu chuyện về giá trị thương hiệu chỉ thực sự gây sự chú ý khi tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam Vinashin làm bùng lên làn sóng góp vốn bằng thương hiệu. Và cũng chính từ đề xuất của Vinashin, Bộ Tài chính mới đưa ra dự thảo thông tư hướng dẫn việc góp vốn và nhận góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu để lấy ý kiến.

Trong lần trao đổi với TBKTSG trước đây, một thành viên trong Hội đồng Thương hiệu quốc gia cho rằng nhờ ký được những hợp đồng đóng tàu có giá trị lớn, làm tăng giá trị thương hiệu, nên Vinashin đã được phép góp vốn bằng thương hiệu với các liên doanh nước ngoài, sau khi đã áp dụng thử nghiệm tại nhiều doanh nghiệp trong nước.
Thế nhưng việc thử nghiệm góp 30% vốn bằng thương hiệu với 103 doanh nghiệp trong nước, trong đó có nhiều doanh nghiệp nằm ngoài Vinashin, đã nhanh chóng phá sản khi con tàu Vinashin bị “mắc cạn”, kéo theo những hệ lụy không đáng có.
Việc góp vốn trên, theo các chuyên gia, không hề dựa trên một cơ sở khoa học, hay một sự định giá khả dĩ nào, mà chỉ là cảm tính, kỳ vọng. Những sự kỳ vọng trước đây về thương hiệu Vinashin nay lại trở thành gánh nặng cho các doanh nghiệp liên doanh, khiến nhiều doanh nghiệp muốn thoát khỏi thương hiệu này. Lý do là ở chỗ, cái tên đó hiện đang là trở ngại đối với doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng.
Và dự thảo thông tư hướng dẫn việc góp vốn và nhận góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu, tiếng là “đã hoàn tất” việc lấy ý kiến, nhưng thực chất đã bị gác lại, một chuyên gia cho biết.
Cần một khung pháp lý
Theo các chuyên gia, việc xác định giá trị thương hiệu hiện nay có ba cách tiếp cận cơ bản: theo chi phí, theo thu nhập, và theo thị trường.
Tiếp cận theo chi phí là dựa trên sự tích lũy những chi phí trong việc xây dựng thương hiệu kể từ khi bắt đầu, như chi phí quảng cáo, xúc tiến, các chiến dịch sáng tạo, những khoản lệ phí, chi phí đăng ký nhãn hiệu. Thế nhưng việc xác định thương hiệu bằng cách này không phản ánh được khả năng sinh lời của thương hiệu trong tương lai, vì thế bất đắc dĩ mới sử dụng phương pháp này trong việc định giá thương hiệu.
Cách tiếp cận theo thị trường là ước lượng giá trị thương hiệu qua việc xem xét những hoạt động mua bán trên thị trường liên quan đến những thương hiệu tương tự. Nhưng việc áp dụng phương pháp này ở Việt Nam, theo các chuyên gia, hiện chưa thể được, vì thị trường chưa xuất hiện các thương hiệu tương tự để so sánh, phân tích.
Phương pháp tiếp cận theo thu nhập nhắm đến việc đo lường lợi ích kinh tế của thương hiệu trong việc tạo ra một khoản lợi nhuận hay dòng tiền phát sinh trong tương lai. Theo đó, những mặt hàng mang thương hiệu có thể tạo ra một mức giá bán có lợi hơn trong sự so sánh với mặt hàng tương tự – những sản phẩm được hiểu là không tốt bằng. Dù có nhiều ưu điểm, nhưng đây lại là một phương pháp khó, phức tạp, vì cần phải có nhiều thông số.
Thời gian qua, tại Việt Nam, nhu cầu định giá thương hiệu đã và đang hình thành, và đã xuất hiện một số đơn vị làm dịch vụ đánh giá, định giá thương hiệu cho doanh nghiệp. Nhưng các chuyên gia cũng nhấn mạnh rằng để vận dụng việc định giá thương hiệu vào Việt Nam, cần phải có các cuộc nghiên cứu nghiêm túc.
Để thương hiệu trở thành giá trị của doanh nghiệp, cần phải có cơ sở pháp lý. Bộ Tài chính đã cấp chứng chỉ cho một số cơ quan xác định giá trị tài sản vô hình của doanh nghiệp, nhưng vẫn còn khúc mắc pháp lý chưa thể vượt qua được. Dẫu Luật Sở hữu trí tuệ có quy định việc góp vốn bằng sáng chế, thì phần giá trị thương hiệu vẫn chưa được quy định.
Theo các chuyên gia, thương hiệu là một phần tài sản quan trọng của doanh nghiệp. Điều này đã được minh chứng ở các quốc gia khác, khi tài sản thương hiệu vượt qua tài sản vật chất của nhiều doanh nghiệp. Vì thế, các chuyên gia đề nghị Nhà nước cần sớm đưa ra các cơ sở pháp lý cho việc xác định phần tài sản vô hình quan trọng này. Đối với doanh nghiệp, cần phải nhanh chóng tìm hiểu về giá trị thương hiệu của mình và quản trị thương hiệu một cách hiệu quả.
(TheoTHỜI BÁO KINH TẾ SÀI GÒN)

CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN “BÌNH MỚI, RƯỢU CŨ”

Theo qui định tại Điều 166 Luật Doanh nghiệp 2005 thì chậm nhất trong thời hạn bốn năm kể từ ngày Luật DN 2005 có hiệu lực (01/7/2006), các công ty nhà nước thành lập theo quy định của Luật DNNN năm 2003 phải chuyển đổi thành công ty TNHH hoặc CTCP theo quy định của Luật DN 2005. Theo ước tính của Ban chỉ đạo đổi mới DN Trung ương, có khoảng 1.500 công ty nhà nước thuộc diện chuyển đổi sang mô hình công ty TNHH một thành viên vì chưa hoàn thành cổ phần hóa trước ngày 1/7/2010. Song, đến ngày 1-7 vẫn còn khoảng 50 doanh nghiệp chưa hoàn thành việc chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên hoạt động theo Luật DN 2005.
Chuyển đổi để cạnh tranh bình đẳng
Sự chuyển đổi này là đòi hỏi mang tính tất yếu của việc xây dựng một nền kinh tế đa thành phần theo cơ chế thị trường, tạo điều kiện cho sự cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và đáp ứng yêu cầu của việc hội nhập kinh tế quốc tế. Không thể có những ‘sân chơi pháp lý’ khác nhau cho những loại hình doanh nghiệp khác nhau chỉ về sở hữu; không nên có những qui định quá khác nhau về địa vị pháp lý thể hiện sự phân biệt đối xử giữa một công ty thuộc sở hữu tư nhân với một công ty do nhà nước làm chủ sở hữu.
Khác với tất cả các nhà đầu tư khác, nhà nước có quyền ban hành luật, điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng pháp luật theo ý chí của mình và tổ chức thực thi pháp luật. Vì vậy, việc tách rời hẳn chức năng quản lý nhà nước và chức năng kinh doanh thực sự là việc cần phải làm, không thể né tránh. Nhìn ở góc độ cụ thể, nhiều quan chức cao cấp trong bộ máy nhà nước, thậm chí đang là thứ trưởng, lại đang đồng thời giữ vị trí thành viên hay Chủ tịch HĐTV của một tập đoàn kinh tế nhà nước, vậy thì, thật khó khăn cho các vị quan chức này hoàn thành tốt vị trí, vai trò, nhiệm vụ của một quan chức – một chính khách và một nhà quản trị doanh nghiệp cao cấp – người quản lý công ty theo qui định của Luật DN 2005; sẽ không dễ dàng để hành xử một cách khách quan giữa hai vị trí rất khác nhau và đôi khi có sự xung đột về lợi ích.

Ào ào thay áo khoác bên ngoài
Khi chỉ còn khoảng 3 tháng nữa là thời hạn chuyển đổi sẽ hết, ngày 19/3/2010 Chính phủ đã ban hành Nghị định 25/2010/NĐ-CP quy định việc chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty TNHH 1 thành viên. Trên cơ sở đó, các công ty nhà nước được chuyển đổi ‘ào ào’ bằng thủ tục khá đơn giản, chỉ là sự thay tên hay nói một cách khác là thay tấm áo khoác bên ngoài.
Để đơn giản và kịp mốc thời gian hoàn thành chuyển đổi trước ngày 1/7/2010 như Luật DN 2005 qui định, khi chuyển đổi, các công ty nhà nước đã không phải xác định lại giá trị doanh nghiệp theo giá thị trường như việc cổ phần hóa, doanh nghiệp cũng không cần lập phương án và thực hiện xử lý tài sản, tài chính, sắp xếp lao động, sử dụng đất… khi chuyển đổi thành công ty TNHH 1 thành viên. Bản điều lệ công ty TNHH 1 thành viên theo Luật DN 2005 cũng chỉ được soạn thảo rất sơ sài – dường như chỉ là để cho đủ loại giấy tờ khi chuyển đổi chứ hầu như không được những người có thẩm quyền và trách nhiệm quan tâm.
Thực tiễn ở các công ty nhà nước sau khi chuyển đổi, hầu hết các cán bộ quản lý doanh nghiệp vẫn giữ nguyên, mọi việc hầu như vẫn như trước khi chuyển đổi trừ cái tên đã trở thành ‘công ty TNHH 1 thành viên’. Ở một vài doanh nghiệp, có sự thay đổi nhất định về cơ cấu tổ chức quản lý, HĐQT được thay bằng HĐTV, chức danh chủ tịch HĐQT được thay bằng chủ tịch HĐTV theo đúng mô hình quản trị công ty TNHH 1 thành viên là tô chức do Luật DN 2005 qui định. Ở một số công ty, giờ đây đã có thêm chức danh mới: Chủ tịch công ty theo qui định của Luật DN 2005, song ở hầu hết các doanh nghiệp chức danh này được giao luôn cho Giám đốc kiêm nhiệm bởi vì người ta vẫn e ngại sự xung đột, mâu thuẫn giữa 2 con người giữ 2 chức vụ sẽ ảnh hưởng xấu đến doanh nghiệp; và như vậy, thật là khó thấy sự đổi mới và sự ‘thay máu’ trong công ty nhà nước sau chuyển đổi. Hầu hết các công ty nhà nước sau khi chuyển đổi chỉ là ‘bình mới ruợu cũ’ mà thôi. Vậy thì làm sao đạt được mục tiêu của quá trình chuyển đổi?
Theo pháp luật hiện hành thì Nhà nước là chủ sở hữu đối với công ty TNHH 1 thành viên do mình nắm giữ toàn bộ vốn điều lệ. Song, nhà nước phải giao cho Chính phủ thống nhất tổ chức thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước. Nghị định 25/2010 qui định rằng mỗi công ty TNHH 1 thành viên được chuyển đổi từ công ty nhà nước chỉ do 1 tổ chức được phân công, phân cấp thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu. Chủ sở hữu công ty TNHH 1 thành viên sẽ có các quyền, nghĩa vụ quy định tại các Điều 64, 65 và 66 Luật DN 2005, các qui định khác liên quan và điều lệ công ty. Song, việc phân định rõ việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu công ty TNHH 1 thành viên chuyển đổi từ công ty nhà nước với việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước không phải là việc dễ dàng.
Cần phải quyết liệt trong việc phân tách rõ chức năng quản lý nhà nước với chức năng của đại diện chủ sở hữu nhà nước; không thể nhầm lẫn giữa ‘trọng tài’ và ‘cầu thủ’, giữa ‘cơ quan nhà nước’ và ‘nhà đầu tư’…
Sự chậm trễ tai hại
Những khó khăn sau chuyển đổi cũng còn đó, các lãnh đạo doanh nghiệp sau chuyển đổi thấy rất lúng túng trước việc quản lý điều hành công ty theo những điều luật có vẻ còn khá sơ sài, chung chung của Luật DN 2005, rất nhiều văn bản pháp luật cần phải được ban hành để hướng dẫn cụ thể cho hoạt động của những công ty thuộc sở hữu nhà nước, những văn bản pháp luật liên quan được ban hành căn cứ Luật DNNN 2003 về nguyên tắc không còn hiệu lực sau ngày 01/7/2010. Dường như, Chính phủ và các bộ ngành hữu quan vẫn chưa thực sự hành động kịp thời và đầy đủ trong việc xây dựng cơ chế, chính sách cho những công ty sau chuyển đổi, chẳng hạn như về quản lý tài sản, tài chính, lao động, hay mối quan hệ giữa công ty với đại diện chủ sở hữu.
Với tư cách là một ‘ông chủ đặc biệt’ – nhà nước hoàn toàn có quyền ban hành những qui định hướng dẫn cụ thể những qui định của Luật DN 2005 về quản trị, quản lý tài sản, tài chính, tiền lương, lao động … dành cho các công ty thuộc sở hữu của mình – trên nguyên tắc phù hợp với Luật DN 2005 và không được tạo sự bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp. Sự chậm trễ sẽ có thể dẫn đến những hậu quả tai hại, những thiệt hại lớn về kinh tế cho mấy ngàn công ty sau chuyển đổi, trong đó bao gồm cả những tập đoàn kinh tế nhà nước. Thực tiễn cũng đòi hỏi các cơ quan, tổ chức đại diện chủ sở hữu nhà nước, các lãnh đạo của công ty nhà nước sau khi chuyển đổi cần hiểu rõ ý nghĩa của việc chuyển đối, các qui định về địa vị pháp lý của công ty sau khi được chuyển đổi để có thể thay đổi cách thức và ‘lề lối’ quản trị, kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
(Theo BÁO PHÁP LUẬT)

Thứ Ba, 26 tháng 10, 2010

LAO ĐỘNG CHO THUÊ LẠI Ở VIỆT NAM

1. Lao động cho thuê lại (còn gọi là lao động phái cử) có thể hiểu là những người lao động đã được tuyển dụng bởi một doanh nghiệp (bằng hợp đồng lao động giữa người lao động và doanh nghiệp đó), được doanh nghiệp khác thuê lại trong một thời gian nhất định thông qua hợp đồng cho thuê lại lao động giữa doanh nghiệp cho thuê (người sử dụng lao động của những lao động phái cử) và doanh nghiệp thuê lại lao động.
Trong thời gian làm việc tại doanh nghiệp thuê lại lao động, người lao động chịu sự quản lý, điều hành của doanh nghiệp thuê lại lao động, nhưng quan hệ lao động (hợp đồng lao động) vẫn được duy trì với doanh nghiệp cho thuê lao động. Điều này có nghĩa những quyền lợi cơ bản của người lao động (tiền lương, bảo hiểm…) được doanh nghiệp cho thuê lao động bảo đảm theo hợp đồng lao động đã giao kết giữa hai bên và theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, người lao động vẫn có thể được hưởng các phúc lợi như những người lao động chính thức của doanh nghiệp thuê lại lao động do doanh nghiệp này thực hiện.
2. Bài viết này sẽ giới thiệu các quy định hiện hành của Việt Nam về nội dung hoạt động dịch vụ việc làm, quan điểm cũng như thực tế về lao động cho thuê lại tại Việt Nam, thái độ của các nhà lập pháp Việt Nam về vấn đề này trong thời gian tới. Cũng trong bài viết này, tác giả sẽ bày tỏ quan điểm cá nhân và trình bày những đề xuất ban đầu về lao động cho thuê lại ở Việt Nam.
Thực trạng về lao động cho thuê lại ở Việt Nam
3. Nội dung các hoạt động dịch vụ việc làm được quy định tại Điều 18 Bộ luật Lao động Việt Nam (đã sửa đổi, bổ sung năm 2002) bao gồm: tư vấn, giới thiệu việc làm cho người lao động; cung ứng và tuyển lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động; thu thập, cung ứng thông tin về thị trường lao động [1].
Vấn đề đặt ra là những nội dung về hoạt động dịch vụ việc làm theo quy định trên có bao gồm hoạt động cho thuê lại lao động hay không?

4. Câu trả lời trên thực tế nhận được ở Việt Nam trong thời gian qua không đồng nhất. Điều này thể hiện ở hai quan điểm dường như trái ngược nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng quy định về hoạt động dịch vụ việc làm tại Điều 18 Bộ luật Lao động không bao gồm hoạt động cho thuê lại lao động. Những người theo quan điểm này còn dựa vào quy định về giao kết hợp đồng lao động tại Điều 30 Bộ luật Lao động Việt Nam để khẳng định chắc chắn rằng Việt Nam không chấp nhận hoạt động cho thuê lại lao động. Quan điểm thứ hai cho rằng quy định về hoạt động dịch việc làm tại Điều 18 Bộ luật Lao động Việt Nam bao gồm cả hoạt động cho thuê lại lao động (bao gồm trong hoạt động cung ứng lao động). Những người theo quan điểm này còn cho rằng trong Bộ luật Lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động không thấy có quy định cấm hoạt động cho thuê lại lao động và rằng trên thực tế đăng ký kinh doanh ở một số địa phương hoạt động này đã được chấp nhận trong “ngành nghề kinh doanh” khi đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền về đăng ký kinh doanh (ví dụ: Hà Nội). Dư luận xã hội cũng chia làm hai luồng: ủng hộ và không ủng hộ hoạt động cho thuê lại lao động ở Việt Nam với những lý lẽ khác nhau [4], [6], [8], [10], [11], [12].
5. Theo các phương tiện thông tin đại chúng, dịch vụ cho thuê lao động đã xuất hiện ở Việt Nam từ năm 2001, điển hình phải kể đến các địa phương: thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương. Theo đó, một số doanh nghiệp (có giấy phép hoạt động giới thiệu việc làm) ký hợp đồng lao động với người lao động, sau đó cho các doanh nghiệp sản xuất sử dụng nhiều lao động thuê lại người lao động đó trên cơ sở “hợp đồng cung ứng lao động” hay “hợp đồng dịch vụ lao động” [3]. Hai xu hướng hoạt động nổi lên là: cho thuê lao động có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao và cho thuê lao động phổ thông. Trong đó, dịch vụ cho thuê lao động phổ thông theo thời vụ hoặc hình thức tương tự là phổ biến hơn. Cũng theo phản ánh của các phương tiện thông tin đại chúng, hoạt động cho thuê lao động đã tồn tại từ lâu nhưng dường như đặt ngoài sự quản lý, kiểm soát của cơ quan quản lý nhà nước về lao động cho đến khi phát sinh một số vụ tranh chấp có liên quan hoặc các cơ quan, tổ chức hữu quan lên tiếng [9]. Dưới góc nhìn của những doanh nghiệp cung ứng lao động (bên cho thuê lao động) và doanh nghiệp thuê lao động thì đây là một hoạt động phù hợp với tính linh hoạt của thị trường lao động, đáp ứng nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp và người lao động và nhìn chung là mang lại hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, dưới cách nhìn của tổ chức đại diện người lao động (Công đoàn) cũng như của cơ quan quản lý nhà nước thì hoạt động này trong thời gian qua đã gây nhiều thiệt thòi cho người lao động cho thuê lại, như: người lao động cho thuê lại bị bớt xén tiền lương, không được tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cũng như không được hưởng các phúc lợi xã hội như những người lao động khác. Không ít các vụ tranh chấp lao động thời gian qua liên quan đến hoạt động cho thuê lao động đã minh chứng cho những lo ngại này.
6. Thái độ của các cơ quan quản lý nhà nước về lao động đã rõ ràng về vấn đề này thông qua các công văn trả lời chính thức của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và một số Sở Lao động – Thương binh và Xã hội cho một số khu công nghiệp và doanh nghiệp. Tại Công văn số 3880/LĐTBXH ngày 01/10/2004 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trả lời Công ty TNHH Sài Gòn Nguyễn Gia, Công văn số 2891/LĐTBXH -LĐVL ngày 15/8/2007 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trả lời Công ty TNHH Shell Việt Nam (Đồng Nai) về hợp đồng cung ứng dịch vụ lao động và một số công văn của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai nhìn chung đều viện dẫn khoản 1 Điều 30 Bộ luật Lao động để đi đến kết luận là dịch vụ lao động theo quy định của Bộ luật Lao động Việt Nam không bao gồm hoạt động cho thuê lao động và hoạt động này trên thực tế đã vi phạm cách thức giao kết hợp đồng lao động và vi phạm pháp luật lao động Việt Nam [5], [7]. Từ thái độ này của các cơ quan quản lý nhà nước về lao động khớp nối với thực tế đã có địa phương chấp nhận hoạt động cho thuê lao động trong nội dung đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp như đã đề cập (đoạn 4 bài viết này) đã gây ra phản ứng tiêu cực từ phía các doanh nghiệp là tại sao cùng một hoạt động mà địa phương này cho phép còn địa phương khác lại không cho phép? và không thể ngăn cản sự nghi ngờ về tính minh bạch của pháp luật cũng như tính minh bạch và công bằng trong công tác quản lý của nhà nước. Đúng là thực tế đó đã không thể phủ nhận sự thiếu tính liên thông cần thiết và sự không thống nhất trong hoạt động quản lý của các cơ quan chức năng trong thời gian qua.
Một vấn đề tiếp theo được đặt ra là: Trong tương lai, Việt Nam có nên chấp nhận hoạt động cho thuê lại lao động hay không? Và nếu có thì chấp nhận trong giới hạn nào?
6. Câu trả lời tạm thời được thể hiện trong Dự án Bộ luật Lao động sửa đổi, bổ sung của Việt Nam. Theo dự thảo 3 Bộ luật Lao động sửa đổi, bổ sung (ngày 08/2/2010) thì hoạt động cho thuê lại lao động sẽ được thừa nhận ở Việt Nam (khoản 4, 5 Điều 4; Mục V chương III, từ Điều 65 đến Điều 69). Những quy định trong dự thảo cho thấy các nhà lập pháp Việt Nam đang giữ quan điểm sẽ cho phép hoạt động cho thuê lại lao động nhưng coi đây là hoạt động có điều kiện. Theo đó, chỉ những doanh nghiệp đáp ứng các điều kiện do Chính phủ quy định và được Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cấp phép hoạt động cho thuê lại lao động thì mới được tiến hành hoạt động này. Điều quan trọng là sẽ có danh mục các loại công việc được phép cho thuê lại lao động và việc cho thuê lại lao động chỉ được thực hiện với sự đồng ý của chính người lao động. Tuy nhiên, trong dự thảo Bộ luật Lao động sửa đổi, bổ sung chưa quy định cụ thể những điều kiện đối với doanh nghiệp hoạt động cho thuê lại lao động và danh mục các công việc được phép cho thuê lại lao động. Cụ thể hóa những nội dung này thuộc trách nhiệm của Chính phủ trong quá trình tổ chức thực hiện Bộ luật thể hiện trong Nghị định hướng dẫn thi hành. Qua việc trưng cầu ý kiến toàn dân cho thấy vẫn đang tiếp tục tồn tại hai luồng ý kiến khác nhau, trong đó ủng hộ cho hướng điều chỉnh pháp luật như dự thảo cũng nhiều, phản đối hướng điều chỉnh pháp luật như dự thảo quy định cũng không ít [2], [13], [14], [15].
Đề xuất ban đầu cho việc điều chỉnh pháp luật Việt Nam đối với lao động cho thuê lại
7. Tác giả tán đồng với quan điểm cho rằng nội dung hoạt động dịch vụ việc làm được quy định tại Điều 18 Bộ luật Lao động (đã sửa đổi, bổ sung năm 2002) không bao gồm hoạt động cho thuê lại lao động. Từ góc độ nghiên cứu lý luận và thực tiễn, tác giả thấy rằng nên ủng hộ và chấp nhận điều chỉnh pháp luật theo hướng cho phép hoạt động cho thuê lại lao động ở Việt Nam trong thời gian tới vì những lý do cơ bản sau đây:
- Về phương diện kinh tế – xã hội: chấp nhận và quản lý tốt hoạt động cho thuê lại lao động (chấp nhận lao động phái cử) sẽ đáp ứng được nguyện vọng và mang lại lợi ích kinh tế cho cả ba bên: doanh nghiệp cho thuê, doanh nghiệp thuê lại lao động và người lao động cho thuê lại. Doanh nghiệp cho thuê lao động là các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm, bản thân các doanh nghiệp này cũng muốn mở rộng phạm vi của hoạt động dịch vụ việc làm, nhất là hoạt động cho thuê lại lao động – một lĩnh vực hoạt động mà theo họ là thức thời, phù hợp với sự vận động tất yếu của thị trường lao động, mang lại nguồn thu không nhỏ cho các doanh nghiệp dịch vụ việc làm. Doanh nghiệp thuê lại lao động có thể tiết kiệm được khá nhiều chi phí về nhân lực, thời gian và tài chính cho việc tuyển chọn, quản lý lao động, giải quyết lao động dôi dư…Đồng thời, doanh nghiệp thuê lại lao động cũng không phải trực tiếp “đối diện” với những rủi ro xảy ra đối với người lao động, vừa tránh được phiền hà, vừa đỡ tốn kém. Với những công việc có tính chất thời vụ hoặc có tính chất tương tự thì các doanh nghiệp sẽ không bị rơi vào tình trạng “thừa người, thiếu việc” mà vẫn phải thanh toán lương cho người lao động như sử dụng lao động trong biên chế chính thức của doanh nghiệp. Bản thân những người lao động (được sử dụng để cho thuê lại) cũng có thể yên tâm về việc làm và thu nhập trong suốt thời gian có hợp đồng lao động với doanh nghiệp cho thuê lao động, kể cả trong trường hợp tạm thời không có việc làm do gián đoạn việc cho thuê lại.
Cùng với lợi ích kinh tế – xã hội mà ba chủ thể nêu trên có thể đạt được, nhà nước cũng có thêm một nguồn thu từ hoạt động cho thuê lại lao động của các doanh nghiệp. Điều quan trọng hơn là từ việc chấp nhận hoạt động này nhà nước thể hiện thái độ tích cực của mình đối với nhu cầu có thật của thị trường lao động Việt Nam trong thời gian gần đây, tôn trọng sự thật khách quan của thị trường lao động, hòa nhập sâu rộng hơn vào thị trường lao động khu vực và quốc tế. Từ đó cũng có thể hạn chế được những luồng dư luận xã hội trái chiều, thậm chí còn có thể định hướng được dư luận xã hội theo chiều hướng tích cực khi đánh giá vấn đề lao động cho thuê lại ở Việt Nam.
- Về phương diện pháp lý: hoàn thiện pháp luật lao động nói chung, pháp luật về hợp đồng lao động nói riêng cho phù hợp hơn với yêu cầu của cơ chế kinh tế thị trường, để điều chỉnh hiệu quả hơn quan hệ lao động là sự mong đợi lớn trong việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động lần này ở Việt Nam. Trong đó, như đã khẳng định, vấn đề chấp nhận điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động cho thuê lại lao động là mong đợi của nhiều doanh nghiệp (kể cả doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm và các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh) và cũng là mong đợi của không ít người trong lực lượng lao động xã hội. Vì vậy, việc bổ sung những quy định về cho thuê lại lao động cho dù có thể có những quan điểm trái chiều, nhưng thiết nghĩ cần phải nhìn nhận đây là một bước tiến đáng ghi nhận trong công tác lập pháp và điều chỉnh pháp luật lao động của Việt Nam. Thực tế đã chứng minh, nhu cầu cho thuê lại lao động là có thật, nếu trong Bộ luật Lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành có quy định cụ thể vấn đề này sẽ làm đầy đủ hơn nội dung của hoạt động dịch vụ việc làm, làm hợp lý hơn công cụ pháp lý để nhà nước quản lý thị trường lao động một cách hiệu quả hơn trong tương lai. Tình trạng nhà nước phải “thụ động đối phó” với hoạt động cho thuê lại lao động sẽ dần được xóa bỏ.
- Về phương diện chính trị: chấp nhận hoạt động cho thuê lại lao động không làm ảnh hưởng đến thể chế chính trị của Việt Nam vì đơn thuần đó chỉ là sự thừa nhận thực tại khách quan đã, đang và sẽ còn tồn tại ở Việt Nam.
8. Một câu hỏi lớn mà tìm lời giải cho nó không hề đơn giản là Việt Nam cần quy định vấn đề lao động cho thuê lại (cho thuê lại lao động) theo hướng nào? Để góp phần trả lời câu hỏi này, tác giả có một số đề xuất ban đầu như sau:
- Cần đặc biệt chú trọng đến nguyên tắc bảo vệ người lao động. Bởi vì, trong trường hợp này người lao động dễ bị lạm dụng, ảnh hưởng không tốt đến quyền lợi của họ, ví dụ: có thể doanh nghiệp cho thuê lại lao động buộc người lao động phải trả một khoản phí tương tự phí giới thiệu việc làm bằng cách khấu trừ vào lương của người lao động trước khi trả lương cho họ; có thể người lao động không được bảo đảm các quyền lợi về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, phúc lợi của doanh nghiệp; có thể người lao động không được trả lương trong thời gian bị gián đoạn hoạt động cho thuê lao động…Đây chính là tình trạng diễn ra ở nhiều nơi trong hoạt động cho thuê lao động diễn ra trên thực tế ở Việt Nam từ năm 2001 đến nay. Vì vậy, nhà nước cần quy định theo hướng: tất cả các trường hợp cho thuê lại lao động chỉ được tiến hành trên cơ sở tự nguyện của người lao động (được người lao động đồng ý), doanh nghiệp cho thuê lao động phải bảo đảm tiền lương cho người lao động trong suốt thời gian tồn tại hợp đồng lao động giữa hai bên, kể cả trong thời gian gián đoạn việc cho thuê lao động, trừ trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định (mức tiền lương trả cho người lao động trong thời gian gián đoạn này sẽ do hai bên thỏa thuận ghi vào hợp đồng lao động với sự kiểm soát của nhà nước bằng các giới hạn pháp lý phù hợp). Bên cạnh đó cần có những quy định cụ thể nhằm bảo đảm công bằng giữa người lao động mà doanh nghiệp thuê lại và người lao động thuộc biên chế chính thức của doanh nghiệp thuê lại lao động. Khoản phí mà doanh nghiệp cho thuê nhận được từ doanh nghiệp thuê lại lao động phải bảo đảm có nguồn gốc từ khoản tiết kiệm của doanh nghiệp thuê lại lao động (tiết kiệm từ hoạt động tuyển dụng, quản lý lao động, giải quyết lao động dôi dư…) chứ không thể bằng cách “bớt xén” quyền lợi của người lao động cho thuê lại.
- Cần quy định cụ thể điều kiện đối với doanh nghiệp hoạt động cho thuê lại lao động, trong đó cần chú trọng đến điều kiện về khả năng chịu trách nhiệm của doanh nghiệp cho thuê lại lao động đối với người lao động, nhất là trong thời gian gián đoạn việc cho thuê lại. Vì vậy, vốn pháp định nên được quy định là một trong những điều kiện bắt buộc đối với doanh nghiệp cho thuê lại lao động.
- Cần quy định cụ thể danh mục công việc được phép sử dụng lao động cho thuê lại. Những công việc này nên là những công việc có tính thời vụ, công việc đột xuất, tạm thời và những công việc yêu cầu cao về chuyên môn nghiệp vụ.
- Cần giải quyết hài hòa 3 mối quan hệ: quan hệ giữa người lao động và doanh nghiệp cho thuê lao động, quan hệ giữa doanh nghiệp cho thuê với doanh nghiệp thuê lại lao động và quan hệ giữa người lao động với doanh nghiệp thuê lại lao động. Trong đó cần quy định trách nhiệm chính và trách đến cùng với người lao động thuộc về doanh nghiệp cho thuê lao động (chủ thể đã ký hợp đồng lao động để tuyển người lao động). Bên cạnh đó cũng cần quy định trách nhiệm của doanh nghiệp thuê lại lao động đối với người lao động mà doanh nghiệp thuê lại, cho dù giữa hai bên không có hợp đồng trực tiếp với nhau. Riêng hợp đồng cho thuê lao động giữa doanh nghiệp cho thuê và doanh nghiệp thuê lại lao động bên cạnh việc chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Lao động thì nó còn phải chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại của Việt Nam, vì thực chất hợp đồng này là hợp đồng trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại.
- Cần phân biệt hai trường hợp để có cách thức tổ chức thực hiện phù hợp. Đó là: (1) Hoạt động cho thuê lại lao động của các doanh nghiệp chuyên hoạt động trong lĩnh vực này và (2) Hoạt động cho thuê lại lao động của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh khác.
Đối với trường hợp (1), cần có quy định riêng về hợp đồng lao động giữa người lao động được sử dụng để cho thuê lại với doanh nghiệp cho thuê lao động (so với hợp đồng lao động thông thường khác). Tất cả các nội dung có liên quan như: công việc theo hợp đồng, địa điểm làm việc, tiền lương, điều kiện an toàn, vệ sinh lao động…cần phải linh hoạt ở mức độ tối đa bởi chúng còn phụ thuộc nhiều vào từng hợp đồng thuê lại lao động giữa doanh nghiệp cho thuê và doanh nghiệp thuê lại lao động (trong thời gian tồn tại hợp đồng lao động với doanh nghiệp cho thuê lao động, một người lao động có thể được nhiều doanh nghiệp khác nhau thuê lại với nhiều công việc, điều kiện làm việc khác nhau).
Đối với trường hợp (2), hoạt động cho thuê lại lao động có thể xuất hiện (chen ngang) trong quá trình người lao động đang làm việc chính thức tại doanh nghiệp cho thuê. Vì vậy, ngoài hợp đồng lao động đang có, hai bên phải có hợp đồng (hoặc cam kết) riêng liên quan đến việc cho thuê lại lao động.
- Các cơ qan chức năng của nhà nước cần quản lý tốt hoạt động cho thuê lại lao động trên thực tế thông qua công tác cấp phép hoạt động cho thuê lại lao động, chế độ báo cáo, kiểm tra giám sát, xử lý vi phạm…
Kết luận
9. Mặc dù chưa được thừa nhận về mặt pháp luật, nhưng hoạt động cho thuê lao động đã xuất hiện tại Việt Nam gần 10 năm trở lại đây. Lợi ích kinh tế mà các bên liên quan đã đạt được là khó có thể phủ nhận. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng còn nhiều biểu hiện đáng lo ngại. Thực trạng này đã hình thành hai luồng dư luận xã hội trái chiều (ủng hộ và không ủng hộ). Tác giả đồng tình với quan điểm của các nhà lập pháp rằng nên điều chỉnh pháp luật theo hướng cho phép hoạt động cho thuê lại lao động với những điều kiện cụ thể kèm theo. Song để có thể điều chỉnh hoạt động này một cách hiệu quả thì cần nghiên cứu một cách kỹ lưỡng để có những quy định hợp lý và cần làm tốt công tác tổ chức thực hiện trên thực tế. Những đề xuất của tác giả trong bài viết này chỉ là đôi điều suy nghĩ ban đầu, thể hiện quan điểm các nhân về những vấn đề mang tính nguyên tắc trong việc điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động cho thuê lại lao động ở Việt Nam trong thời gian tới.
Tài liệu tham khảo
[1] Bộ luật Lao động Việt Nam năm 1994 (được sửa đổi, bổ sung năm 2002).
[2] Dự thảo 3 Bộ luật Lao động sửa đổi, bổ sung (ngày 08/02/2010).
[3] Xem: Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 109 tháng 11 năm 2007 (Hoạt động cho thuê lao động: một điều chỉnh pháp luật theo hướng cho phép – Phan Huy Hồng và Ngô Thị Thu).
[4] Xem: http://www.nhantrachoc.net.vn/nthportal/forum/showthread.php?t=2575(Dịch vụ cho thuê lao động – một giải pháp nhân sự hiệu quả, 20/4/2004 – Linh Anh, Viet Nam net).
[5] Xem: http://www.nhantrachoc.net.vn/nthportal/forum/showthread.php?t=2575(Liên đoàn Lao động thành phố Hồ Chí Minh đề nghị kiểm tra Công ty Sài Gòn Nguyễn Gia và Công ty Lever Việt Nam, 19/5/2006 – V.Tùng, Người lao động).
[6] Xem: http://vietbao.vn/Xa-hoi/Cho-thue-lao-dong-Ai-co-loi/45196660/157/. (Cho thuê lao động – Ai có lợi?, 05/6/2006 – theo Khánh Bình, báo Sài Gòn giải phóng).
[7] Xem: http://www.nhantrachoc.net.vn/nthportal/forum/showthread.php?t=2575(TP. Hồ Chí Minh: Đề nghị kiểm tra tất cả các công ty hoạt động dịch vụ việc làm, 07/6/2006 – theo báo Tuổi trẻ).
[8] Xem: http://www.nhantrachoc.net.vn/nthportal/forum/showthread.php?t=2575(Hình thức cho thuê nhân viên, 24/10/2006 – Minh Chánh).
[9] Xem: http://www.nhantrachoc.net.vn/nthportal/forum/showthread.php?t=2575(Sẽ kiên quyết chấm dứt dịch vụ cho thuê lao động, 18/4/2007 – Minh Chánh).
[10] Xem: http://www.nhantrachoc.net.vn/nthportal/forum/showthread.php?t=2575(Nhộn nhịp “chợ” cho thuê lao động, 01/5/2007 – theo báo Đồng Nai).
[11] Xem: http://tintuc.timnhanh.com/xa_hoi/lao_dong/20070718/35A62A0C/(Thuê lao động – nhìn từ Đồng Nai, 17/7/2007 – theo ND).
[12] Xem: http://www.phunuonline.com.vn/vieclam/2009/Pages/Cho-thue-lao-dong-Ngan-cam-hay-khuyen-khich.aspx (Cho thuê lao động: Ngăn cấm hay khuyến khích?, 16/6/2009 – theo Nguyễn Bay).
[13] Xem: http://news.vibonline.com.vn/Home/xdpl/2009/07/4804.aspx (Dự thảo Bộ luật Lao động sửa đổi: nhiều quy định xa rời thực tế, 22/7/2009 – theo ND).
[14] Xem:http://www.nguoidaibieu.com.vn/Trangchu/VN/tabid/66/CatID/7/ContentID/79538/Default.aspx(Dự thảo Bộ luật Lao động sửa đổi: doanh nghiệp mừng, người lao động…lo, 25/7/2009 – theo Hải Dương).
[15] Xem:http://www.dalat.gov.vn/web/baolamdong/tabid/572/Add/yes/ItemID/10230/categories/37/Default.aspx(Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tổ chức lấy ý kiến đóng góp về định chế hợp đồng lao động của dự thảo Bộ luật Lao động sửa đổi, 19/01/10 – theo Khắc Dũng).
(Theo CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BỘ TƯ PHÁP)

CÂU CHUYỆN ĐỊNH GIÁ THƯƠNG HIỆU

Những câu chuyện mua bán, khiếu kiện liên quan đến thương hiệu của các doanh nghiệp trong nước thường chỉ được nhắc đến trong những lúc trà dư tửu hậu, chưa trở thành những bài học kinh nghiệm. Việc định giá thương hiệu, để thương hiệu trở thành tài sản của doanh nghiệp, vẫn đang chờ một cơ sở pháp lý.
Những câu chuyện cũ
Cách đây nhiều năm, việc hãng Unilever mua lại thương hiệu kem đánh răng P/S với giá 5 triệu đô la Mỹ và Colgate mua Dạ Lan với giá 3 triệu đô la đã gây xôn xao dư luận. Năm 1999, chủ nhãn hiệu kẹo dừa Bến Tre, bà Hai Tỏ, đã phải lặn lội sang Trung Quốc khiếu kiện một doanh nghiệp xứ này lấy thương hiệu của mình để đăng ký bảo hộ cho sản phẩm kẹo dừa xuất khẩu. Năm 2001, Công ty Cà phê Trung Nguyên đã phải chi một khoản tiền không nhỏ để lấy lại thương hiệu do một Việt kiều ở Mỹ đã đăng ký nhãn hiệu này trước đó.
Những câu chuyện trên vẫn chưa thể gợi ra những mối quan tâm về thương hiệu từ phía cơ quan quản lý trong thời gian gần đây. Một số doanh nghiệp xin góp vốn bằng thương hiệu, nhưng đã bị Bộ Tài chính từ chối, bởi chuẩn mực kế toán 04 của bộ ban hành không cho phép việc này. Ngay cả khi làn sóng cổ phần hóa doanh nghiệp làm xuất hiện sự lúng túng về việc xác định giá trị thương hiệu cấu thành tài sản doanh nghiệp, thì vẫn chưa có một cơ quan nào đứng ra lo liệu.
Câu chuyện về giá trị thương hiệu chỉ thực sự gây sự chú ý khi tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam Vinashin làm bùng lên làn sóng góp vốn bằng thương hiệu. Và cũng chính từ đề xuất của Vinashin, Bộ Tài chính mới đưa ra dự thảo thông tư hướng dẫn việc góp vốn và nhận góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu để lấy ý kiến.

Trong lần trao đổi với TBKTSG trước đây, một thành viên trong Hội đồng Thương hiệu quốc gia cho rằng nhờ ký được những hợp đồng đóng tàu có giá trị lớn, làm tăng giá trị thương hiệu, nên Vinashin đã được phép góp vốn bằng thương hiệu với các liên doanh nước ngoài, sau khi đã áp dụng thử nghiệm tại nhiều doanh nghiệp trong nước.
Thế nhưng việc thử nghiệm góp 30% vốn bằng thương hiệu với 103 doanh nghiệp trong nước, trong đó có nhiều doanh nghiệp nằm ngoài Vinashin, đã nhanh chóng phá sản khi con tàu Vinashin bị “mắc cạn”, kéo theo những hệ lụy không đáng có.
Việc góp vốn trên, theo các chuyên gia, không hề dựa trên một cơ sở khoa học, hay một sự định giá khả dĩ nào, mà chỉ là cảm tính, kỳ vọng. Những sự kỳ vọng trước đây về thương hiệu Vinashin nay lại trở thành gánh nặng cho các doanh nghiệp liên doanh, khiến nhiều doanh nghiệp muốn thoát khỏi thương hiệu này. Lý do là ở chỗ, cái tên đó hiện đang là trở ngại đối với doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng.
Và dự thảo thông tư hướng dẫn việc góp vốn và nhận góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu, tiếng là “đã hoàn tất” việc lấy ý kiến, nhưng thực chất đã bị gác lại, một chuyên gia cho biết.
Cần một khung pháp lý
Theo các chuyên gia, việc xác định giá trị thương hiệu hiện nay có ba cách tiếp cận cơ bản: theo chi phí, theo thu nhập, và theo thị trường.
Tiếp cận theo chi phí là dựa trên sự tích lũy những chi phí trong việc xây dựng thương hiệu kể từ khi bắt đầu, như chi phí quảng cáo, xúc tiến, các chiến dịch sáng tạo, những khoản lệ phí, chi phí đăng ký nhãn hiệu. Thế nhưng việc xác định thương hiệu bằng cách này không phản ánh được khả năng sinh lời của thương hiệu trong tương lai, vì thế bất đắc dĩ mới sử dụng phương pháp này trong việc định giá thương hiệu.
Cách tiếp cận theo thị trường là ước lượng giá trị thương hiệu qua việc xem xét những hoạt động mua bán trên thị trường liên quan đến những thương hiệu tương tự. Nhưng việc áp dụng phương pháp này ở Việt Nam, theo các chuyên gia, hiện chưa thể được, vì thị trường chưa xuất hiện các thương hiệu tương tự để so sánh, phân tích.
Phương pháp tiếp cận theo thu nhập nhắm đến việc đo lường lợi ích kinh tế của thương hiệu trong việc tạo ra một khoản lợi nhuận hay dòng tiền phát sinh trong tương lai. Theo đó, những mặt hàng mang thương hiệu có thể tạo ra một mức giá bán có lợi hơn trong sự so sánh với mặt hàng tương tự – những sản phẩm được hiểu là không tốt bằng. Dù có nhiều ưu điểm, nhưng đây lại là một phương pháp khó, phức tạp, vì cần phải có nhiều thông số.
Thời gian qua, tại Việt Nam, nhu cầu định giá thương hiệu đã và đang hình thành, và đã xuất hiện một số đơn vị làm dịch vụ đánh giá, định giá thương hiệu cho doanh nghiệp. Nhưng các chuyên gia cũng nhấn mạnh rằng để vận dụng việc định giá thương hiệu vào Việt Nam, cần phải có các cuộc nghiên cứu nghiêm túc.
Để thương hiệu trở thành giá trị của doanh nghiệp, cần phải có cơ sở pháp lý. Bộ Tài chính đã cấp chứng chỉ cho một số cơ quan xác định giá trị tài sản vô hình của doanh nghiệp, nhưng vẫn còn khúc mắc pháp lý chưa thể vượt qua được. Dẫu Luật Sở hữu trí tuệ có quy định việc góp vốn bằng sáng chế, thì phần giá trị thương hiệu vẫn chưa được quy định.
Theo các chuyên gia, thương hiệu là một phần tài sản quan trọng của doanh nghiệp. Điều này đã được minh chứng ở các quốc gia khác, khi tài sản thương hiệu vượt qua tài sản vật chất của nhiều doanh nghiệp. Vì thế, các chuyên gia đề nghị Nhà nước cần sớm đưa ra các cơ sở pháp lý cho việc xác định phần tài sản vô hình quan trọng này. Đối với doanh nghiệp, cần phải nhanh chóng tìm hiểu về giá trị thương hiệu của mình và quản trị thương hiệu một cách hiệu quả.
(Theo THỜI BÁO KINH TẾ SÀI GÒN)

Thứ Hai, 25 tháng 10, 2010

TRANH CHẤP TÀI SẢN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG: CẦN XEM XÉT LẠI BẢN ÁN PHÚC THẨM DÂN SỰ SỐ 197 NGÀY 11/9/2010 CỦA TÒA PHÚC THẨM TANDTC TẠI TPHCM VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP NHÀ SỐ 526 AN DƯƠNG VƯƠNG, PHƯỜNG 9, QUẬN 5 TPHCM

Từ những căn cứ xác thực, có tình, có lý, Toà án nhân dân TP Hồ Chí Minh đã xét xử sơ thẩm xác định căn nhà số 526 An Dương Vương, Phường 9, Quận 5, TP Hồ Chí Minh thuộc sở hữu chung của vợ chồng ông Nguyễn Đức Anh – bà Lã Thị Bích Liên. Toà án xử phân chia cho mỗi người 1/2 căn nhà.
Thế nhưng Toà Phúc thẩm TANDTC lại lập luận vòng vo, thiếu tính thuyết phục để xét xử ngược lại hoàn toàn 180º theo đề nghị phi lý của bà Liên, cụ thể là: Xác định căn nhà nêu trên là tài sản riêng của bà Liên và “ghi nhận sự tự nguyện của bà Liên” trả lại tiền xây dựng nhà cho ông Trần Ngọc Trường- người được ông Nguyễn Đức Anh (chứ không phải bà Liên) nhờ đứng ra giám sát xây dựng và ứng tiền xây dựng nhà vào năm 1994 (?).
Ông Nguyễn Đức Anh và bà Lã Thị Bích Liên kết hôn với nhau từ năm 1976. Vợ chồng mua căn nhà 526 An Dương Vương, Phường 9, Quận 5, TP Hồ Chí Minh vào năm 1979 của ông Tiêu Mộc. Do lúc đó ông  Nguyễn Đức Anh không có hộ khẩu tại TP Hồ Chí Minh nên đã để bà Liên đứng tên trên giấy tờ với hình thức cùng với ông Tiêu Mộc lập giấy tờ “Tặng cho”. Căn nhà lúc đó là nhà trệt, nền xi-măng, mái nửa tôn, nửa ngói, tường mượn. Năm 1984, ông Nguyễn Đức Anh cùng 2 con sang Canada định cư và năm 1992 ông bảo lãnh cho bà Liên và các con còn lại sang Canada. Trước khi đi, bà Liên có làm tờ ủy quyền giao căn nhà cho bà Cao Thị Thanh Hồng quản lý, trên giấy này có ghi tên bà và chồng là ông Nguyễn Đức Anh đồng sở hữu căn nhà. Năm 1994, vợ chồng ông Nguyễn Đức Anh hợp đồng với Công ty Novina xây dựng lại nhà và nhờ ông Trần Ngọc Trường đứng ra giám sát việc xây dựng và ứng trước số tiền xây dựng nhà là 250.000.000đ. Bà Hồng đã xác nhận sự việc này và giao lại nhà cho ông Trường từ năm 1994. Xây xong nhà thì vợ chồng ông Anh bà Liên giao cho bà Lã Thị Bích Thơm (em gái bà Liên) trong coi căn nhà. Trong quá trình trông coi, bà Thơm có sửa chữa mặt tiền căn nhà, lắp đặt đồng hồ điện nước, điện thoại.
Đến nay, (sau khi ông Anh và bà Liên đã ly hôn), ông Nguyễn Đức Anh có đơn yêu cầu chia đôi căn nhà cho mỗi người 1/2. Nếu bà Liên lấy nhà thì hoàn tiền cho ông hoặc ngược lại, sau khi đã trừ các khoản tiền xây dựng, sửa chữa nhà trả ông Trường, bà Thơm và tiền trông coi nhà cho bà Hồng.

Tại Toà án, các bà Hồng, bà Thơm, ông Trường đều xác nhận nội dung nêu trên. Từ những căn cứ xác thực, có tình, có lý, tại bản án dân sự sơ thẩm số 3282 ngày 3.11.2009, Toà án nhân dân TP. Hồ Chí Minh đã xử: 1- Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Đức Anh. Buộc bà Lã Thị Bích Liên có trách nhiệm hoàn trả lại cho ông Nguyễn Đức Anh số tiền là 2.411.860đ. Sau khi trả số tiền này, bà Liên được toàn quyền sở hữu căn nhà 526 An Dương Vương, Phường 9, Quận 5, TP Hồ Chí Minh. 2- Ông Nguyễn Đức Anh và bà Lã Thị Bích Liên có trách nhiệm thanh toán trả cho bà Lã Thị Bích Thơm và ông Tăng Trùng 24.550.000đ. Trả cho ông Trần Ngọc Trường và bà Huỳnh Ngọc Ánh 250.000.000đ. Ghi nhận tự nguyện của ông Nguyễn Đức Anh trả số tiền lãi cho ông Trường, bà Ánh 52.500.000đ; trả cho bà Hồng 39.000.000đ; trả cho bà Thơm, ông Tăng Trùng 144.000.000đ.
Ngày 3.11.2009 đại diện của bà Lã Thị Bích Liên là bà Nguyễn Thị Hương Thảo kháng cáo bản án sơ thẩm. Ngày 16.11.2009 ông Nguyễn Đức Anh kháng cáo yêu cầu được nhận nhà.
Vụ án không có gì phức tạp mà mãi gần một năm sau, Toà phúc thẩm TANDTC mới đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm. Tại bản án phúc thẩm số 197, ngày 11.9.2010, Hội đồng xét xử phúc thẩm do thẩm phán Tô Chánh Trung chủ toạ phiên toà nhận định bằng những lý sự lộ rõ sự bênh vực cho bà Liên, bác bỏ tất cả lời trình bày của ông Anh và những người vừa là có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vừa là nhân chứng, thậm chí bác bỏ cả lời khai của chính em ruột bà Liên là bà Thơm xác định việc vợ chồng ông Nguyên mua nhà của ông Tiêu Mộc và làm giấy tờ với hình thức “Tặng cho” chứ ông Tiêu Mộc không hề có quan hệ thân thuộc gì với bà Liên, nên việc lập văn tự cho nhà đó chỉ là hình thức để tạo đều kiện thuận lợi cho bà Liên hoàn tất thủ tục đứng tên sở hữu nhà thay cho vợ chồng.
Ông thẩm phán Tô Chánh Trung giả vờ làm ngơ, bỏ qua những căn cứ thực tế, lấy hình thức pháp lý để lập luận một cách rất ngô nghê rằng căn nhà do bà Liên đứng tên thì là của riêng bà Liên, không có chứng cứ bà Liên nhập căn nhà vào làm tài sản chung vợ chồng(?). Thử hỏi ông thẩm phán Tô Chánh Trung rằng, khi còn chung sống vợ chồng trong căn nhà đó, bà Liên có dám nhận căn nhà là tài sản riêng và công bố với ông Nguyên rằng bà đã nhập (hoặc không nhập) vào làm tài sản chung vợ chồng hay không? Chưa đề cập đến thực tế vợ chồng cùng 6 người con sinh sống chung trong căn nhà đã nhiều năm không ai thừa nhận căn nhà của riêng bà Liên, mà chỉ cần đề cập đến việc khi giao nhà cho bà Cao Thị Thanh Hồng quản lý, sử dụng vào năm 1992, bà Liên cũng phải làm giấy tờ và đã ghi tên bà và chồng là ông Nguyễn Đức Anh đồng sở hữu căn nhà cũng đã chứng tỏ bản thân bà Liên chưa bao giờ có ý nghĩ mình có quyền sở hữu riêng đối với căn nhà đó.
Cách đánh giá chứng cứ của ông thẩm phán Tô Chánh Trung rất kỳ lạ, rằng giấy uỷ quyền giao nhà nêu tên cũng không phải là căn cứ để công nhận căn nhà thuộc  sở hữu chung vợ chồng(?). Vậy, nếu không xem xét các lời khai của các bên đương sự, của nhân chứng và đánh giá khách quan các chứng cứ như giấy tờ uỷ quyền giao nhà năm 1992 mà đòi hỏi trên giấy tờ sở hữu nhà phải ghi tên vợ chồng ông Anh, bà Liên mới công nhận là tài sản chung vợ chồng thì cần gì đến sự phán xét của Toà án?
Một điều vô lý nữa là mặc dù bà Liên không thừa nhận việc ông Trường đứng ra giám sát xây dựng và tạm ứng tiền xây dựng nhà theo yêu cầu của ông Anh vào năm 1994 nhưng tại Toà án, bà Liên lại đưa ra đề nghị rằng nếu Toà xử cho bà được sở hữu toàn bộ căn nhà thì bà sẽ “tự nguyện” thanh toán trả tiền cả gốc và lãi cho ông Trường? Đề nghị này càng chứng tỏ căn nhà không phải là tài sản riêng của bà Liên. Đề nghị phi lý này mặc dù gọi là tự nguyện cũng đã biểu hiện “dấu đầu, hở đuôi”. Ấy vậy mà các đề nghị đó của bà Liên vẫn được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận mới thấy ông Tô Chánh Trung đã bị bà Liên chỉ đạo như thế nào. Tại bản án phúc thẩm số197 ngày 11.9.2010, Toà phúc thẩm TANDTC đã xử: Bác yêu cầu của ông Nguyễn Đức Anh. Công nhận căn nhà 526 An Dương Vương, Phường 9, Quận 5, TP. Hồ Chí Minh là tài sản riêng của bà Lã Thị Bích Liên. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lã Thị Bích Liên thanh toán tiền sửa nhà, tiền công giữ nhà và tiền lãi cho bà Lã Thị Bích Thơm, ông Tăng Trùng 168.550.000đ; cho bà Cao Thị Thanh Hồng 39.000.000đ; cho ông Trần Ngọc Trường, bà Huỳnh Ngọc Ánh 302.500.000đ.
Việc xét xử của cấp phúc thẩm quay ngược 180 độ so với cấp sơ thẩm như nêu trên làm cho ông Nguyễn Đức Anh là nguyên đơn yêu cầu được chia căn nhà của vợ chồng, bỗng dưng trở nên mất nhà hay sao? Bà Liên là người bị kiện, bỗng dưng lại được Toà án hợp pháp hoá cho việc sở hữu toàn bộ căn nhà hay sao? Việc xét xử vụ án này của cấp sơ thẩm đúng hay phúc thẩm đúng còn chờ sự phân minh của cấp giám đốc thẩm sắp tới. Vậy nên, những người có thẩm quyền kháng nghị cần quan tâm xem xét lại toàn diện vụ án, trước hết là kiểm tra lại việc xét xử của Hội đồng xét xử phúc thẩm do ông Tô Chánh Trung làm chủ toạ phiên toà để lấy hồ sơ giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm nhằm đem lại công bằng cho mọi công dân, đem lại niềm tin của mọi người vào công lý.
(Theo BÁO NGƯỜI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN)

GIẢI QUYẾT KHỦNG HOẢNG TRONG QUAN HỆ CHUNG CƯ: CẦN CẢI CÁCH PHÁP LUẬT VỀ SỞ HỮU

Các vụ tranh chấp giữa chủ căn hộ chung cư và chủ đầu tư nổ ra ngày càng nhiều, càng phức tạp, dai dẳng. Đáng chú ý là trong tất cả những cuộc đôi co ấy, chủ đầu tư luôn được cho là bên “gây chuyện” bằng cách cố ý đặt bên kia, các chủ căn hộ, vào tình thế phải chấp nhận giao kèo với những điều kiện không bình đẳng khiến người ta bức xúc, rồi phản ứng.
Nhà chức trách, về phần mình, cứ loay hoay không biết làm thế nào để giải quyết cho ổn thoả xung đột giữa các bên, dù ai cũng thấy tình trạng bị chèn ép rành rành của chủ căn hộ trong mối quan hệ với chủ đầu tư.
Khó khăn ở chỗ không thể tước “vũ khí” của chủ đầu tư; nói rõ hơn là không thể lấy đi những tài sản mà họ dùng làm vật khống chế đối với chủ căn hộ, chẳng hạn, nhà để xe, các thiết bị phục vụ sinh hoạt hàng ngày như hệ thống dẫn điện, nước, mạng internet,… Những thứ đó vốn là của họ, một cách hợp pháp, từ khi toà nhà chung cư được xây dựng.
Ở các nước tiên tiến cũng có chung cư, thậm chí nhiều hơn mình nhiều lần; nhưng xã hội không phải chứng kiến tình cảnh khủng hoảng trong quan hệ giữa các bên theo kịch bản đó. Từ rất sớm, người làm luật đã nhận thức rõ tính chất phức tạp của loại hình sở hữu chung này và đã chủ động mổ xẻ, phân tích, nhận dạng những điểm nóng tiềm tàng trong quan hệ sở hữu để có cách ngăn ngừa sự bộc phát các trận chiến pháp lý.
Đặc biệt, người ta nói rằng một bất động sản chỉ được gọi là chung cư một khi nó được “hộ hoá” toàn bộ, nghĩa là được phân chia toàn bộ thành các căn hộ. Mỗi căn hộ gồm có những phần tài sản thuộc sở hữu riêng biệt của chủ căn hộ và những phần tài sản mà chủ căn hộ có quyền sở hữu chung với các chủ căn hộ khác. Tất cả các yếu tố tạo thành bất động sản đều phải được xác định tính chất, chỉ có thể hoặc riêng của chủ căn hộ, hoặc chung của tất cả các chủ căn hộ.

Cần tiến hành cải cách rộng hệ thống pháp luật sở hữu, nhất là phải xây dựng hoàn chỉnh một luật chuyên biệt về chung cư trên nền một quan niệm đúng đắn về loại sở hữu này.
Thực ra, không ai cấm chủ đầu tư, đồng thời là chủ nhân đầu tiên của toàn bộ bất động sản, giữ lại những tài sản vốn là của mình, không đưa vào các căn hộ. Nhưng khi đó, bất động sản không thể được gọi là chung cư: đó là một loại quan hệ sở hữu khác, chịu sự chi phối của một chế độ pháp lý khác.
Ví dụ, nếu chủ đầu tư giữ lại nhà để xe không đưa vào phần chung của căn hộ chung cư, thì luật pháp nói rằng trong mối quan hệ với nhà để xe, chủ căn hộ coi như ở trong tình trạng bị vây bọc và do đó, đương nhiên có một quyền địa dịch cho phép họ sử dụng nhà để xe, mà chủ đầu tư không thể từ chối.
Tất nhiên, nếu sử dụng tài sản của người khác mà gây thiệt hại, thì phải bồi thường. Hai bên có thể ngồi lại để thoả thuận về mức bồi thường; nếu thoả thuận không xong, thì có thể nhờ toà án ấn định bằng bản án. Đáng chú ý là khi ra toà, thì chính chủ đầu tư phải chứng minh thiệt hại của mình để yêu cầu bồi thường theo mức do mình đưa ra. Nói chung, chủ đầu tư mà giữ lại các tài sản đáng lý ra là của chung, thì chỉ rước phiền phức, rắc rối cho mình; lợi bất cập hại.
Ở Việt Nam, do luật không nói rõ ràng, các chủ đầu tư khi tiến hành chung cư hoá bất động sản thường chủ động giữ lại một số tài sản giữ vị trí “yết hầu” đối với cơ thể của chung cư, trong đó có nhà để xe. Lúc mua căn hộ, người mua có thể không chú ý đến chuyện này, do chưa có kinh nghiệm về cuộc sống trong không gian chung. Sau khi vào ở, chủ hộ mới thấy những thứ đó cần thiết cho sinh hoạt hàng ngày của mình.
Nhưng, không như chủ căn hộ ở các nước, chủ căn hộ ở nước mình không đương nhiên có quyền địa dịch để được phép sử dụng các tài sản ấy. Muốn có những thứ đó, họ phải đi thuê. Thế là chủ đầu tư lại tái xuất hiện, lần này trong tư thế của người nắm đàng chuôi trong thương thảo. Nói rằng người mua trong câu chuyện bị chủ đầu tư cho vào tròng thì hơi quá đáng; nhưng rõ ràng người mua hầu như không có sự lựa chọn và cũng không ở vị trí cho phép tự do mặc cả.
Rõ ràng, muốn giải quyết tận gốc cuộc khủng hoảng xã hội chung cư hiện tại, cần tiến hành cải cách rộng rộng hệ thống pháp luật sở hữu, nhất là phải xây dựng hoàn chỉnh một luật chuyên biệt về chung cư trên nền một quan niệm đúng đắn về loại sở hữu này, chứ không thể chỉ ra một văn bản đóng khung việc thu phí quản lý của chủ đầu tư.
(Theo BÁO SÀI GÒN TIẾP THỊ)

BÀN THÊM VỀ QUYỀN ƯU TIÊN MUA CỔ PHẦN

Cổ đông phổ thông được ưu tiên mua cổ phần mới chào bán tương ứng với tỷ lệ cổ phần của từng cổ đông trong công ty. Cụ thể như sau:
+ Một là, quyền ưu tiên mua cổ phần mới chào bán của công ty chỉ đặt ra khi một CTCP kinh doanh có lợi nhuận và phát hành thêm cổ phần mới để gọi thêm vốn cổ phần, khi đó, cổ đông của công ty sẽ được ưu tiên mua số cổ phần công ty mới chào bán này.
+ Hai là, chỉ có những cổ đông hiện hữu tại thời điểm công ty cổ phần (CTCP) gọi thêm vốn cổ phần mới được hưởng quyền này.
+ Ba là, quyền ưu tiên mua cổ phần mới được đặt ra để bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông hiện hữu, họ là những người đã gắn bó vơi công ty, và khi công ty kinh doanh có hiệu quả họ cũng phải là những người đầu tiên được hưởng lợi từ kết quả hoạt động kinh doanh này. Sự ưu tiên này thể hiện ở hai khía cạnh sau đây:
Ưu tiên về giá: Theo quy định tại Điều 87.1 Luật doanh nghiệp 2005, giá chào bán cổ phần không được thấp hơn giá thị trường tại thời điểm chào bán… ngoại trừ một số trường hợp, trong đó có trường hợp cổ phần chào bán cho tất cả các cổ đông hiện hữu theo tỷ lệ cổ phần hiện có của họ trong công ty.
Như vậy, giá chào bán cổ phần cho các cổ đông hiện hữu có thể thấp hơn giá thị trường (dành cho mọi đối tượng khác trong xã hội). Nghĩa là để sở hữu một lượng cổ phần như nhau thì các cổ đông hiện hữu sẽ bỏ ra một số tiền nhỏ hơn so với những người khác phải mua theo giá thị trường, vì giá mua cổ phần chào bán của các cổ đông hiện hữu thấp hơn giá mua cổ phần (giá thị trường) của các chủ thể khác. Sự ưu tiên về giá mua cổ phần mới chào bán của cổ đông hiện hữu chính là ở điều này.
Ưu tiên về thứ tự mua cổ phần: theo đó số cổ phần mới chào bán sẽ phải bán cho những cổ đông hiện hữu trước, nghia là họ được ưu tiên mua trước, sau đó phần còn lại công ty mới có thể chào bán rộng rãi cho các nhà đầu tư khác.

Ở đây chúng ta thấy, nếu xét dưới góc độ quản lý công ty, quyền ưu tiên trên của các cổ đông hiện hữu góp phần bảo đảm cho công ty không bị xáo trộn trong việc quản lý khi gọi thêm vốn cổ phần mới, bởi vì nếu không ưu tiên việc mua cổ phần mới cho các cổ đông hiện hữu có thể dẫn đến việc một số cổ đông ban đầu mất quyền kiểm soát công ty bởi các cổ đông mới có thể mua với số lượng lớn cổ phần mới phát hành và có thể giành quyền chi phối công ty, làm thay đổi trong bộ máy quản lý, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của công ty và cũng không loại trừ trường hợp đối thủ cạnh tranh của công ty nhảy vào thôn tính công ty.
Tuy nhiên, Luật doanh nghiệp 2005 không quy định khi cổ đông hiện hữu không có khả năng tài chính để mua thêm cổ phần mới chào bán của công ty, nghĩa là không có khả năng thực hiện quyền ưu tiên này (và còn vì các cổ đông không được nợ cổ phần) thì quyền ưu tiên đó có mất đi không?. Câu trả lời ở đây là dù Luật doanh nghiệp 2005 không quy đinh, nhưng có thể hiểu việc được hưởng quyền và việc thực hiện quyền đó trên thực tế là hai vấn đề khác nhau, một khi cổ đông hiện hữu không có khả năng thực hiện quyền của mình thì quyền ưu tiên đó sẽ mất đi và khi đó công ty có thể bán cổ phần mới đó cho người khác (một phần vì mục đích của việc phát hành cổ phần mới là để tăng vốn điều lệ, do đó cổ phần mới này cần phải được bán cho người khác khi các cổ đông hiện hữu không mua dù đã được ưu tiên mua trước.)
Vì vậy, quy định quyền ưu tiên này có vẻ như là để bảo vệ quyền lợi của các cổ đông hiện hữu trong đó có cổ đông thiểu số, nhưng thực ra quy định này cũng chỉ hướng đến bảo vệ quyền lợi của các cổ đông hiện hữu có khả năng tài chính, còn các cổ đông “yếu thế” trong công ty vì thế sẽ càng yếu thế hơn.
Trên thế giới, pháp luật của một số nước có quy định về việc chuyển nhượng quyền ưu tiên này, trong đó quyền tiên được thể hiện dưới hình thức một “giấy bảo đảm quyền mua cổ phần” mà CTCP cấp cho cổ đông. Trong giấy này có ghi rõ số lượng cổ phần được quyền ưu tiên mua. Nếu cổ đông không muốn hưởng quyền ưu tiên này thì họ sẽ bán giấy đó đi. Giấy bảo đảm này được mua bán trên thị trường chứng khoán như là một loại chứng khoán. . Quy định này chúng ta có thể tham khảo để cho quy định của Luật doanh nghiệp 2005 về quyền ưu tiên mua cổ phần mới chào bán thực sự phát huy được tác dụng trên thực tế, bảo vệ hữu hiệu quyền lợi của các cổ đông hiện hữu của CTCP.

CHẾ ĐỘ SỞ HỮU TOÀN DÂN VÀ VẤN ĐỀ SỞ HỮU ĐẤT ĐAI

Trong suốt thời gian qua, bất chấp mọi cố gắng của các nhà làm luật, các vấn đề cơ bản liên quan đến sở hữu toàn dân và sở hữu nhà nước vẫn chưa được giải quyết. Vấn đề sở hữu vốn thuộc một trong những phạm trù “cổ điển” của khoa học pháp lý và phạm trù “sơ đẳng” của một hệ thống pháp luật. Do đó, hầu như không có khó khăn gì để minh định nó. Nguyên nhân có thể có nhiều, nhưng theo chúng tôi, phần quan trọng nằm ở các “rào cản” mà các nhà làm luật chưa thể vượt qua cả về tâm lý chính trị và nhận thức chính trị.
Ở khía cạnh pháp lý, “sở hữu” luôn luôn là vấn đề nền tảng của cả pháp luật kinh tế lẫn pháp luật dân sự. Hơn một nửa thế kỷ qua, việc xây dựng pháp luật ở nước ta đều đã xoay quanh khái niệm này, và trên thực tế đã đạt được nhiều thành tựu cơ bản và nổi bật. Đó là thông qua các Hiến pháp từ 1946, 1959, 1980 và 1992 và các đạo luật đơn lẻ khác, đặc biệt là Bộ luật Dân sự năm 1995 như một đỉnh cao, sau đó sửa đổi năm 2005,  Nhà nước ta đã khẳng định và sáng tạo ra các chế định liên quan đến chế độ và hình thức sở hữu, địa vị pháp lý của chủ sở hữu, các chế định kề cận v.v..
Tuy nhiên, có một thực tế là cho tới hiện nay, vẫn tồn tại hai cách tiếp cận với vấn đề sở hữu  khác nhau, thậm chí chồng chéo và lẫn lộn. Đó là tiếp cận chính trị và tiếp cận pháp lý.
Nhấn mạnh cách “tiếp cận chính trị”, chúng ta luôn luôn tìm cách phân định và phân biệt giữa chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa (với nền tảng là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể) và chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa (mà nòng cốt là sở hữu tư nhân).  Trong khi đó, cách tiếp cận pháp lý đòi hỏi phải xác định rõ các quyền và nghĩa vụ của các chủ sở hữu và các đối tượng liên quan trong các giao dịch liên quan đến sở hữu theo  “hình thức sở hữu”, vốn đa dạng, phong phú và đậm màu sắc thực tiễn hơn “chế độ sở hữu”.
Cụ thể, Hiến pháp 1992 quy định ba chế độ sở hữu là sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng. Đồng thời, Hiến pháp cũng xác định các đối tượng quan trọng thuộc sở hữu toàn dân, trong đó bao gồm đất đai và “phần vốn và tài sản Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp …”. Đến năm 2003, trong hai đạo luật quan trọng được Quốc hội thông qua là Luật Đất đai và Luật Doanh nghiệp nhà nước lại có hai quy định khác nhau liên quan đến hai đối tượng thuộc sở hữu toàn dân. Trong khi Luật Đất đai vẫn khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân còn Nhà nước là “đại diện chủ sử hữu toàn dân”, thì Luật Doanh nghiệp nhà nước lại định nghĩa rằng “Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ…”.

Trong suốt thời gian qua mặc dù mọi cố gắng của các nhà làm luật, các vấn đề cơ bản liên quan đến sở hữu toàn dân và sở hữu nhà nước vẫn chưa được giải quyết. Tại sao vậy? Và vấn đề nằm ở đâu?
Có thể khẳng định rằng lý do không tại năng lực chuyên môn của các nhà làm luật. Vấn đề sở hữu vốn thuộc một trong những phạm trù “cổ điển” của khoa học pháp lý và phạm trù “sơ đẳng” của một hệ thống pháp luật. Do đó, hầu như không có khó khăn gì để minh định nó. Nguyên nhân có thể có nhiều, nhưng theo chúng tôi, phần quan trọng nằm ở các “rào cản” mà các nhà làm luật chưa thể vượt qua cả về tâm lý chính trị và nhận thức chính trị.
Về tâm lý chính trị, phải chăng đó là sự e ngại và né tránh để đối diện và cắt nghĩa về lý luận sự thay đổi có tính bước ngoặt của các chế định có tính nguyên tắc của Hiến pháp 1980 (trong đó khẳng định vị trí độc tôn của sở hữu xã hội chủ nghĩa với hai chế độ sở hữu là “toàn dân” và “tập thể”) thông qua ban hành Hiến pháp 1992 (với sự khẳng định cùng tồn tại của sở hữu tư nhân và nền kinh tế đa thành phần)?
Về nhận thức chính trị, phải chăng vẫn tồn tại định kiến xưa cũ rằng chủ nghĩa xã hội và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chỉ có thể được bảo đảm và xây dựng trên nền tảng của hoặc chế độ sở hữu toàn dân, hoặc hình thức sở hữu nhà nước ?
Ngoài ra, về mặt lý luận, dường như chúng ta vẫn để mặc nhiên tồn tại quan niệm mang tính giáo điều về phạm trù “sở hữu toàn dân” (cho đây là điều có tính tất yếu khách quan trong một xã hội xã hội chủ nghĩa), ở một cực này, và đơn giản hay tầm thường hoá nó bằng khái niệm “sở hữu nhà nước”, ở một cực khác, mà không có sự đào sâu để làm cho minh bạch.
I/ Về chế độ sở hữu toàn dân
Khái niệm sở hữu toàn dân là một sản phẩm của quá khứ. Trên công luận và trong một số công trình nghiên cứu thời gian qua, những vấn đề có tính nghi ngờ hoặc phê phán đã được mạnh dạn nêu ra theo hướng (i) có tồn tại thật không chế định này về mặt pháp lý, (ii) thực chất sở hữu toàn dân chỉ là cái “áo chính trị” của sở hữu nhà nước, và (iii) từ sự không rõ ràng của khái niệm và chế định này đã “đẻ” ra nhiều hệ quả và hậu quả khó giải quyết. Sự không rõ ràng này là có thật và được minh chứng bới các mâu thuẫn và không nhất quán trong các quy định của Hiến pháp với Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp nhà nước và Luật Đất đai v.v..
Đi sâu về mặt học thuật, có nhiều vấn đề cần bàn luận, thậm chí tranh cãi, về các khái niệm này. Chẳng hạn:
Nói đến “sở hữu toàn dân” đương nhiên có thể hiểu đó là quyền sở hữu chung của ít nhất tất cả mọi công dân đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam. Điều này, về mặt pháp lý, đòi hỏi phải tạo ra một cơ chế để tất cả mọi người dân (tức các đồng sở hữu chủ) đều có quyền tham gia “định đoạt” và “hưởng lợi” từ quyền sở hữu này. Tuy nhiên, dân số vốn là một đại lượng có tính biến động, (chẳng hạn thông qua sự sống, chết và dịch chuyển), do đó, về mặt khách quan sẽ không bao giờ xác định được những ai cuối cùng đã, đang và sẽ là đồng chủ sở hữu. Để đơn giản hoá, sẽ có thể có cách lý giải (mặc dù khiên cưỡng) rằng, Quốc hội chính là chủ thể của sở hữu toàn dân vì là “cơ quan đại diện cao nhất”. Tuy nhiên, Quốc hội chỉ do các công dân từ 18 tuổi trở lên và những người không bị tước quyền công dân bầu ra chứ không phải toàn dân; hơn nữa, về thực chất, bầu cử là hành vi thực hiện các quyền chính trị (để cấu tạo ra bộ máy nhà nước) chứ không phải hành vi uỷ quyền dân sự trong quan hệ sở hữu. Ở đây, chúng tôi muốn nói tới tính vô lý về pháp luật và vô nghĩa về mặt thực tế của khái niệm sở hữu toàn dân. Mặc dù trong thời gian qua, khi cổ phần hoá các xí nghiệp quốc doanh ở Liên Xô và các nước vốn thuộc khối Đông Âu (cũ), để thể hiện thái độ nghiêm túc với chế độ sở hữu toàn dân, người ta đã chia cổ phần của các xí nghiệp này cho mọi người dân, chứ không chỉ “bán một phần cho cán bộ, công nhân viên” như ở nước ta.
Còn về “sở hữu nhà nước” thì sẽ có các câu hỏi đặt ra như: (i) Ai là nhà nước? (khái niệm “nhà nước” là một hệ thống các cơ quan và cấu trúc khác nhau chứ không phải một cơ quan tập trung hay thống nhất), (ii) “nhà nước trung ương” hay “nhà nước địa phương?, và (iii) Ai là đại diện cho chủ thể nhà nước? (phân biệt giữa cơ quan chính quyền, cơ quan lập pháp và cơ quan tư pháp). Một khi không làm rõ các vấn đề như vậy thì sẽ dẫn tới một loạt hệ quả là các hành động “nhân danh nhà nước” bao gồm cả sự chồng chéo lẫn lạm dụng về thẩm quyền.  Hiện nay, khi pháp luật xác định theo cách giải nghĩa rằng “nhà nước là người đại diện sở hữu toàn dân” thì cần đi tiếp theo lập luận này, mà theo đó chúng ta lại vấp phải vấn đề khác. Đó là, cũng theo pháp luật thì chỉ có Quốc hội là người có quyền đại diện nhân dân (tức đồng thời có thể sẽ là người đại diện sở hữu toàn dân) chứ không phải các cơ quan chính quyền (tức Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các địa phương). Và trong trường hợp như vậy thì cần phải xác định rõ là cơ quan chính quyền (hay nói gọn là “chính quyền”) sẽ chỉ đóng vai trò là người quản lý tài sản thuộc sở hữu toàn dân mà thôi.
Với cách đặt vấn đề như trên, trong bối cảnh Đảng, Nhà nước đang chuẩn bị cho Đại hội Đảng lần thứ XI với các chương trình nghị sự quan trọng được trông đợi như sửa đổi Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, lấy đó làm tiền đề để sửa đổi Hiến pháp 1992, chúng tôi xin kiến nghị và đề xuất như sau:
(a)    Về phương diện chủ thể sở hữu:
Xem xét bỏ khái niệm và chế định “sở hữu toàn dân” vì không có cơ chế thực hiện đồng thời không có ý nghĩa thực chất, mà thay vào đó xác định các chủ thể mới thay cho “toàn dân” và “nhà nước”. Cụ thể, đưa vào hai khái niệm mới là sở hữu quốc gia và sở hữu của chính quyền (bao gồm sở hữu của chính quyền trung ương và sở hữu của chính quyền địa phương như tỉnh, huyện và xã), coi đó là hai hình thức quan trọng nhất của sở hữu công cộng. Theo chúng tôi, khái niệm “quốc gia” không chỉ rộng mà còn sâu sắc hơn khái niệm “toàn dân”. “Quốc gia” bao gồm cả lịch sử của nhiều thế hệ con người Việt Nam sống trên lãnh thổ này (tức quá khứ), hiện tại (toàn dân) và tương lai (bao hàm sự phát triển). Quốc gia là phạm trù khái quát nhưng có thực, tồn tại lâu dài, không phụ thuộc vào người dân với tư cách các cá thể thuộc phạm trù có tính biến động. Sở hữu quốc gia có ý nghĩa đặc biệt, là đối tượng bất di, bất dịch, không thể mua, bán, chuyển nhượng và được bảo hộ đặc biệt.  Sở hữu của chính quyền, ngược lại, có tính linh hoạt. Chính quyền có thể mua, bán, chuyển đổi, chuyển nhượng các đối tượng thuộc sở hữu của mình trên cơ sở Bộ luật Dân sự.
(b)    Về phương diện đối tượng sở hữu:
Hiến pháp 1992 hiện hành, tại Điều 17, có liệt kê các đối tượng thuộc sở hữu toàn dân, tuy nhiên vừa quá “mở” (rất tuỳ nghi), vừa không cụ thể và đặc biệt không có sự phân loại theo cấp độ quan trọng xét về mặt tài sản của một quốc gia hay nhà nước. Chẳng hạn, khi nói đến các “công trình kinh tế, văn hoá và khoa học…” thì quá mở và tuỳ nghi, hoặc khi liệt kê các đối tượng sở hữu thì lại đồng hạng giữa “đất đai, rừng núi, sông hồ …” với “phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp…” vốn rất khác nhau về tính chất cũng như ý nghĩa chính tị, kinh tế và xã hội. Cần lưu ý rằng tài sản thuộc sở hữu “quốc gia”, “nhà nước” hay “toàn dân” không chỉ mang đến nguồn lợi mà còn là gánh nặng về tài chính và các nghĩa vụ khác đối với nhân dân, trước hết với tư cách là người đóng thuế, do đó, vấn đề không chỉ là bảo vệ đối với các tài sản này mà còn là sự kiểm soát của nhân dân đối với sự gia tăng của nó (ví dụ sự đầu tư xây dựng công trình hay mua sắm của các cơ quan chính quyền cần phải bị kiểm soát trong các giới hạn theo luật định).  Do đó, chúng tôi đề xuất cần có cơ chế pháp lý để phân định, phân loại, kiểm soát sự gia tăng và biến động cũng như đặt ra các giới hạn về loại cũng như quy mô giá trị đối với các tài sản thuộc loại hình sở hữu đặc biệt này.
II/ Về sở hữu đất đai
Có lẽ không có quốc gia nào có bộ luật về quản lý đất đai đồ sộ và phức tạp như ở Việt Nam, nhưng khái quát về thực trạng pháp luật về đất đai của nước ta có thể diễn nôm rằng: “xác lập quyền rất khó, sử dụng và chuyển dịch quyền cũng khó nhưng tước bỏ quyền thì rất dễ”.
Nếu lấy mục tiêu của Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật như thể hiện trong Nghị quyết 48 –NQ/TW của Bộ chính trị năm ban hành năm 2005 về “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam từ 2005 đến 2010, tầm nhìn 2020” là thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thị trường và bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân để làm căn cứ đánh giá, thì có thể thấy rằng các quy định pháp luật về đất đai hiện nay đang tiếp tục là các “rào cản”. 
Có lẽ không có quốc gia nào có bộ luật về quản lý đất đai đồ sộ và phức tạp như ở Việt Nam, bao gồm Luật Đất đai 2003 và hơn 400 văn bản hướng dẫn sau đó được ban hành cho tới nay. Vấn đề ở chỗ đó không phải là tất cả pháp luật cần có về  đất đai (để điều chỉnh nó như là một loại tài nguyên, đối tượng sở hữu và tài sản theo BLDS) mà chủ yếu là các văn bản liên quan đến quản lý nhà nước hay quản lý hành chính về đất đai, tức về thực chất xoay quanh bảo vệ các quyền và lợi ích của nhà nước với tư cách là “người đại diện chủ sở hữu (toàn dân) về đất đai”.
Khái quát về thực trạng pháp luật về đất đai của nước ta có thể diễn nôm rằng: “xác lập quyền rất khó, sử dụng và chuyển dịch quyền cũng khó nhưng tước bỏ quyền thì rất dễ”. Có nhiều khía cạnh để có thể bàn luận xung quanh thực trạng này, tuy nhiên xét về phương diện “sở hữu toàn dân về đất đai” có thể nêu một số vấn đề ở góc độ lý thuyết như sau:
Thứ nhất, khi Hiến pháp ghi rằng “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” thì cần coi đó là tuyên ngôn chính trị về sở hữu hơn là một chế định pháp lý. Đất đai nói chung, tương tự như không khí và ánh sáng là các yếu tố thuộc về môi trường sống tự nhiên, nên không thể là “tài sản” thuộc phạm trù sở hữu của luật dân sự được. Thay vào đó, các “mảnh đất” hay “thửa đất” cụ thể mới là đối tượng của sở hữu theo pháp luật. Luật về đất đai của các nước, do đó, chính là luật về địa chính.
Thứ hai, khi tuyên bố đất đai thuộc sở hữu toàn dân trên cơ sở Luật Đất đai năm 1980, Nhà nước đã tước đoạt về mặt pháp lý (một cách đơn giản và dễ dàng) toàn bộ sở hữu tư nhân về đất đai ở Việt Nam. Tuy nhiên, bởi “đất đai” và “thửa đất” (hay “mảnh đất”) thuộc hai phạm trù khác nhau, do đó, trên thực tế, quá trình quốc hữu hoá các “mảnh đất” và “thửa đất” cụ thể đã không xảy ra sau đó. Hay nói một cách khác, Nhà nước vẫn phải thừa nhận một thực tế khách quan là ai ở đâu (trên mảnh đất nào) thì vẫn ở đó. Có nghĩa rằng về mặt pháp lý, Nhà nước chỉ can thiệp vào hai khía cạnh của quyền sở hữu đất đai, đó là kiểm soát quyền sử dụng và quyền định đoạt (chứ không tước đoạt hay giành lấy các quyền này). Từ nay, người dân (chủ sử dụng đất) muốn thay đổi mục đích sử dụng hay chuyển đổi, chuyển nhượng chủ quyền đối với các mảnh đất, thửa đất của mình thì phải xin phép và được sự đồng ý của Nhà nước. Như vậy, động cơ của hành động “quốc hữu hoá” nói trên không phải nằm ở vấn đề quyền sở hữu mà ở chủ trương của Nhà nước nhằm kế hoạch hoá tập trung một cách triệt để các quan hệ liên quan đến sở hữu đất đất đai.
Thứ ba, ngày nay, khi triển khai xây dựng nền kinh tế thị trường, việc kế  hoạch hoá của Nhà nước đối với nền kinh tế và đời sống xã hội không còn nữa, dẫn đến chế định sở hữu toàn dân đối với đất đai cũng mất hết ý nghĩa. Không những thế, việc tiếp tục duy trì chế định sở hữu này còn trực tiếp và/hoặc gián tiếp cản trở sự phát triển của nền kinh tế và quá trình làm giàu của người dân bằng việc hạn chế người dân biến các mảnh đất, thửa đất của mình thành tài sản và/hoặc vốn đầu tư. Mặt khác, chế định sở hữu toàn dân đối với đất đai đã và đang gây ra các “lạm dụng” một cách công khai hay ngấm ngầm của tất cả các chủ thể liên quan đến sở hữu, sử dụng và kinh doanh đất đai, bao gồm cả chính các cơ quan chính quyền, trong đó, thay vì chuyển đất đai thành tài sản và vốn đầu tư để phát triển kinh tế và đời sống thì biến nó thành phương tiện đầu cơ để trục lợi bằng tiền bạc ngắn hạn.
Cụ thể, từ góc độ thực tế của việc thi hành các chính sách về đất đai, có thể minh hoạ các yếu tố “rào cản” và “lạm dụng” nói trên như sau:
(a)    Yếu tố “rào cản”. Khi nói đến phát triển trong nền kinh tế thị trường tức là phát huy quyền tự do sáng tạo của người dân với tư cách là các chủ thể kinh tế. Theo đó, người dân cần phải có quyền tự do sử dụng các “mảnh đất”, “thửa đất” của mình như một phương tiện và/hoặc tài sản (hay vốn) kinh doanh. Nói đến “phương tiện” là nói đến tính linh hoạt và đa dạng về mục đích sử dụng.
Còn nói đến “vốn” hay “tài sản” trong kinh doanh tức nói đến khả năng chuyển dịch đơn giản và thuận tiện để “quay vòng” làm tăng giá trị đồng vốn và tài sản. Các khả năng này, rất tiếc đều bị cản trở hay hạn chế chính bởi cơ chế “sở hữu toàn dân”, trong đó điển hình là năm loại giới hạn về (i) chủ thể sử dụng đất (tức ai được giao đất hay thuê đất với các tiêu chí do cơ quan quản lý nhà nước quyết định), (ii) mục đích sử dụng đất (với các phân định rất chi tiết về các loại đất và hình thức pháp lý để có đất phụ thuộc vào mục đích sử dụng), (iii) quyền liên quan đến việc sử dụng (ví dụ quyền thế chấp, chuyển nhượng, thừa kế v.v..), (iv) thời hạn sử dụng đất (được quy định phổ biến là 20, 30 hay 50 năm, trừ đất ở dân sinh), và (v) thủ tục hành chính nặng nề và phức tạp để chuyển dịch và chuyển đổi quyền sử dụng đất. 
Cần lưu ý là trong thời gian qua, việc cấp các các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (“sổ đỏ”) đã được triển khai rộng rãi với quy mô và số lượng lớn, tuy nhiên câu hỏi đặt ra là “sổ đỏ” thực chất có ý nghĩa gì?
Đối với đất ở dân sinh, “sổ đỏ” chỉ tái xác nhận “ai ở đâu vẫn ở đấy”, và do đó, người dân không thấy có ích lợi gì một khi nhận thức rằng đó là đất thuộc sở hữu của ông cha để lại hoặc đã bỏ tiền ra mua từ trước, nay để nhận được  một “tờ giấy màu đỏ” lại phải nộp tiền và làm các thủ tục phiền hà. Nếu đất có “sổ đỏ” sẽ dễ dàng mua bán, chuyển nhượng hơn thì xét từ lợi ích của người dân, đó cũng chi là các thủ tục do chính Nhà nước đặt ra trong khi từ trước đó, người dân vẫn giao dịch bằng giấy viết tay.
Trên thực tế, trong các giao dịch đất đai hiện nay, đặc biệt là đất ở, nếu đối với cơ quan nhà nước khi tiến hành các thủ tục hành chính liên quan thì chỉ cần dựa trên “sổ đỏ” được cấp cho các mảnh đất, song người dân vẫn hiểu rằng, theo tập quán của giao dịch dân sự thì người đứng tên trên “sổ đỏ” chỉ là người đại diện cho các chủ sở hữu để tiếp nhận “sổ đỏ” mà thôi. Do vậy, khi tiến hành giao dịch mua bán, chuyển nhượng, bên mua vẫn yêu cầu có sự đồng ý của tất cả những đồng sở hữu hoặc có quyền và lợi ích liên quan khác đối với mảnh đất. Trong trường hợp này, có thể thấy rằng các “yếu tố dân sự” được coi trọng và thực hiện triệt để hơn các “yếu tố hành chính”.
“Sổ đỏ”, một khi được cấp, đương nhiên sẽ tạo thuận lợi hơn cho bên cho vay tiền (nhất là các ngân hàng) tiếp nhận thế chấp đối với quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, vấn đề phức tạp và các khó khăn lại xảy ra khi xử lý các thế chấp như vậy. Ngân hàng hay các bên cho vay hoàn toàn không dễ dàng phát mại tài sản thế chấp hay tiếp nhận quyền sử dụng đất thay thế bên vay bởi phụ thuộc một loạt các điều kiện được pháp luật quy định về chủ thể, mục đích, hình thức và thời hạn sử dụng đất như đã nói ở trên.
Nói tóm lại, hàng loạt các “sổ đỏ” đã được cấp sau các nỗ lực rất lớn của các cơ quan quản lý địa chính trong thời gian qua sẽ có thể phát huy tác dụng rất lớn cho đời sống dân sinh và đời sống kinh tế, nếu nó thật sự là các “chứng thư về sở hữu” đối với đất đai. Tuy nhiên với tính chất chỉ là các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (như tên gọi của nó), trong khi quyền sở hữu vẫn nằm trong tay “người khác” thì tác dụng và ý nghĩa của nó đã bị hạn chế rất nhiều.
(b)    Yếu tố “lạm dụng”. Trong thời gian qua, các “lạm dụng” trong lĩnh vực đất đai chủ yếu đến từ các doanh nghiệp và cơ quan quản lý Nhà nước tại các địa phương. Sự “lạm dụng” xảy ra đặc biệt nghiêm trọng trong hai khía cạnh (i) quy hoạch sử dụng đất và (ii) thu hồi quyền sử dụng đất hiện hữu của người dân (nhất là nông dân) để xây dựng các dự án công nghiệp và thương mại. Về mặt lý thuyết, quyền quy  hoạch sử dụng đất đương nhiên thuộc chủ sở hữu đất. Vậy nếu chủ sở hữu là “toàn dân” thì nhân dân phải được tham gia xây dựng quy hoạch.
Trên thực tế, nhân danh vai trò “đại diện  chủ sở hữu toàn dân”, các cơ quan chính quyền nắm giữ toàn quyền và độc quyền trong việc lập và sửa đổi quy  hoạch. Quá trình lạm dụng sẽ bắt đầu một cách “bài bản” khi có các nhóm lợi ích tư nhân từ phía các doanh nghiệp tham gia, thậm chí chi phối, dẫn đến hậu quả là quy  hoạch không còn phục vụ các mục đích “quốc kế dân sinh” mà chỉ nhằm hỗ trợ các nhóm lợi ích tư nhân tìm kiếm lợi nhuận thông qua các dự án kinh tế cụ thể.
Ngoài ra, Luật Đất đai và nhiều văn bản hướng dẫn thi hành đã hợp thức quyền thu hồi đất của người đang sử dụng để phát triển các dự án kinh tế mà không tính đến tính chất và mục tiêu của các dự án này. Khác với giai đoạn của nền kinh tế kế hoạch trước đây, trong nền kinh tế thị trường, hầu hết các dự án kinh tế được hình thành trên cơ sở các cân nhắc về lợi ích thương mại và vì động cơ lợi nhuận của cá nhân hoặc nhóm cá nhân các nhà kinh doanh.
Một sự cần thiết hay nhất thiết phải phân biệt giữa dự án vì lợi ích công cộng (trong đó có lợi ích của chính những người bị thu hồi đất) và dự án vì mục đích thương mại thuần tuý đã không được tính đến khi ban hành các văn bản pháp luật về đất đai và đầu tư. Do đó, hậu quả của quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá thời gian qua, như các phương tiện thông tin đại chúng đã cảnh báo, là sự mất và giảm nghiêm trọng “đất trồng lúa” và biến hàng triệu nông dân thành “tay trắng” về phương diện tư liệu sản xuất. Sự “lạm dụng” đó, theo chúng tôi, có nguyên nhân từ một cơ chế tâm lý và pháp lý đặc thù hình thành từ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.
Thứ tư, thông qua phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường, một quá trình tư nhân hoá về sở hữu đất đai đã và đang diễn ra trên thực tế một cách không thể tránh khỏi, dẫn đến vô hiệu hoá chế độ sở hữu toàn dân về đất đai như được xác định trong Hiến pháp 1992. Như trên đã nói, “chủ sở hữu đất đai” luôn luôn tách rời khỏi người chiếm hữu và sử dụng đất. Nhà nước (là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai) cố gắng duy trì quyền sở hữu của mình bằng cách can thiệp vào quá trình sử dụng và định đoạt đất.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra các quyền can thiệp một cách chủ động  này của Nhà nước đã và đang dần dần bị hạn chế và/hoặc khống chế bởi chính các yếu tố thị trường. Sự tác động của các quy luật thị trường (không chỉ bó hẹp trong nước mà còn bao gồm cả thị trường quốc tế và toàn cầu) gây sức ép làm phá vỡ các kế  hoạch chủ động, và trên thực tế những năm vừa qua đã buộc các cơ quan Nhà nước thường xuyên phải thay đổi các quy  hoạch phát triển kinh tế nói chung và quy hoạch sử dụng đất nói riêng đã ban hành.
Thực tế cũng chỉ ra rằng các dự án kinh tế có quy mô vừa và nhỏ có thể đáp ứng yêu cầu phải tuân thủ quy  hoạch; song các dự án lớn, thậm chí khổng lồ (với số vốn đầu tư được nêu ra tới hàng tỷ hay hàng chục tỷ USD) thì chắc chắn sẽ tác động làm thay đổi các quy  hoạch phát triển. Hơn nữa, các dự án đó phần lớn lại được khởi xướng và quyết định bởi các lực lượng tư nhân, là đối tượng chắc chắn chủ yếu quan tâm đến tỷ suất thu hồi đầu tư và lợi nhuận, hơn là những mục tiêu quốc kế, dân sinh.
Câu hỏi đặt ra là các cơ quan cấp phép đầu tư có thể từ chối cho phép các dự án đầu tư mang tính “gây sức ép” như vậy được không ? Có thể, nhưng rất khó, bởi về mặt công khai, Nhà nước đang và luôn luôn đứng trước một sức ép khác còn lớn và có tính trực tiếp hơn, đó là nâng cao và duy trì tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, đồng thời tạo ra công ăn việc làm, lấy phát triển kinh tế để bảo đảm ổn định chính trị và xã hội.
Trở lại khía cạnh sở hữu về đất đai, vấn đề chính ở chỗ các dự án kinh tế có phải luôn luôn được triển khai như cam kết của nhà đầu tư hay không, để qua đó cơ quan Nhà nước vẫn bảo đảm được các quy hoạch và kế hoạch về sử dụng đất? Trên thực tế vừa qua, trong phần lớn các trường hợp rủi ro đối với triển khai dự án, các cơ quan quản lý Nhà nước lại khó có thể thu hồi mà thường sẵn sàng đồng ý để chủ đầu tư gia hạn sử dụng đất, chuyển đổi mục đích và/hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho tổ chức, cá nhân khác. Đối với không ít dự án kinh tế, các quá trình gia hạn, chuyển đổi và chuyển nhượng lại có thể tiếp tục diễn ra thêm một vòng hay nhiều vòng nữa, để cuối cùng, các khu đất đã được cấp (có thể lên tới hàng trăm, hàng ngàn hecta) vẫn nguyên hình là “đất” trong khi các lợi ích của các chủ đầu tư liên quan vẫn được thu hồi đầy đủ, thông qua việc quay vòng kinh doanh và buôn bán cái gọi là “thương quyền” đối với đất đai.
Những điều nêu ra một cách khái quát như vậy diễn tả bản chất của quá trình tư nhân hoá đất đai, trong đó các cơ quan quản lý Nhà nước không còn đủ sức để sử dụng các công cụ và biện pháp hành chính nhằm kiểm soát sự vận động của các yếu tố và quy luật thị trường, dẫn đến đánh mất các thực quyền của người chủ sở hữu. Hậu qủa của nó, mà cả Nhà nướcvà xã hội phải gánh chịu là giá đất ngày càng tăng trong khi hiệu quả thật sự của các dự án đầu từ thì ngày càng thấp.
Để kết luận, đánh giá việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật trên cơ sở Nghị quyết 48-NQ-TW nói trên, liên quan đến vấn đề sở hữu về đất đai, chúng tôi cho rằng trong năm năm qua hệ thống pháp luật của nước ta không tiến thêm được bước nào trong việc giải quyết những vấn đề căn bản như đã đề cập.
Tuy nhiên, chúng tôi cũng không kiến nghị bãi bỏ chế độ sở hữu đất đai hiện nay một cách đơn giản. Thay vào đó, cần có sự nghiên cứu theo hướng đặt lại vấn đề có tính nguyên tắc của Hiến pháp 1992, theo hướng huỷ bỏ chế độ sở hữu toàn dân, đa dạng hoá sở hữu về đất đai, bao gồm sở hữu quốc gia (vĩnh viễn hay về cơ bản không tư nhân hoá), sở hữu của chính quyền và sở hữu tư nhân. Điều này là thông lệ phổ biến ở hầu hết các nước đã phát triển thành công.
(Theo TẠP CHÍ TIA SÁNG ĐIỆN TỬ)

Chủ Nhật, 24 tháng 10, 2010

ĐỪNG TIN Ở VẬN MAY

Còn một tinh thần thái độ nữa mà tôi khuyên các thanh niên muốn làm nên trong
đời phải để phòng. Thái độ đó có thể tóm tắt trong mấy tiếng này: “Tin ở vận
may” Không có tư tưởng nào tai hại cho người muốn thành công bằng tư tưởng ấy; không lời nào điên khùng hơn mấy tiếng đó. Điên khùng vì trong một vũ trụ bị luật nhân quả chi phối, thì không thể tồn tại một điều nguy hiểm như là vận may được. Bánh của bà H. ngon không phải là nhờ may, mà nhờ bà khéo léo. Người ta bảo ông nọ luôn luôn “gặp may” sự thực chỉ là ông ấy có khả năng và chịu khó làm việc.
Khi chúng ta bảo “cứ tin ở vận may”, tức là chúng ta chỉ muốn nói: “cứ tin ở cái việc sẽ xảy ra mà chúng ta không nắm chắc được”. Nhưng hễ còn có cách kiểm soát được cái sẽ xảy ra mà chúng ta không nắm chắc được đó, thì phải là điên khùng mới không kiểm soát nó.
Tôi càng lớn tuổi càng khó tin rằng có vận may. Xưa kia, có lần tôi viết: “Thực là có số tốt mà được sinh ra vào một gia đình giàu có, được hưởng một gia tài là năm trăm ngàn Mỹ kim, chứ không phải sinh trong một túp lều”. Ngày nay, tôi cho lời đó cũng không đúng nữa. Sinh trong một nhà giàu có thể hư hỏng mà suy bại; sinh trong một nhà nghèo có thể dễ có tinh thần chiến đấu và tinh thần đó kích
thích khả năng của ta. Một người bỏ ra nhiều năm để gây dựng một sự nghiệp rồi bỗng dưng một tai ách làm cho tiêu tan hết, ta cho ngay rằng người đó gặp vận rủi. Nhưng biết đâu chẳng phải tại anh ta đã không để ý tới những yếu tố gây ra tai ách. Lại có thể rằng biến cố đó bề ngoài là một tai ách, mà sự thực là một điều rất hay, bắt người đó phải vận động lên, chịu suy nghĩ, rèn luyện tư cách.


Vì vậy tôi không muốn dựng một lí thuyết về vận may, mà chỉ khuyên bạn: đừng nên tin ở nó.
Tin có may rủi, rằng người này có số tốt, người kia có số xấu, người này sinh ra có số vĩ nhân, người khác sinh ra có số nghèo nàn, tin như vậy là một thái độ vô lí. Cái mà ta gọi là “may” nhiều khi có thể là do gắng sức và làm việc hợp lí; cái mà ta gọi là “rủi” nhiều khi chỉ là do thiếu hai đức đó.
Những con bạc thường tin rằng gặp vận may thì phúc nối tiếp nhau tới, gặp vận rủi thì hoạ nối tiếp nhau xảy ra. Sống với một niềm tin như vậy thì có khác gì suốt đời bị một ác mộng không. Tôi cho rằng sống như vậy tất phải hoá điên mất. Người ta sẽ phải đi xem quẻ, coi thầy bà và tìm mọi cách cầu nguyện để gặp được vận may.
Nhưng làm sao có thể cầu nguyện mà vận may tới với mình được. Muốn nó tới rồi giữ được nó thì chỉ có cách làm việc cho gắt vào. Có một luật nghiêm khác trong các trò đánh bài là: chơi lâu thì thế nào một người cao nước cũng thắng một kẻ thấp nước. Trong canh bạc lớn của đời người thì cũng
vậy. Người thành công là người có nhiều đức quý mà đáng được thành công. Kẻ
thất bại là kẻ đáng bị thất bại, đáng thất bại nhất là vì kẻ đó không tin ở mình mà
cứ tin ở vận may.
Sở dĩ vậy là vì có một con bạc ở trong bản thân chúng ta. Cho nên chúng ta chỉ có thể thực sự thành công được khi nào đã diệt được con quỷ đó ở trong lòng chúng ta rồi. Trong nghề kinh doanh, kẻ nào định chơi một canh bạc thì chưa hạ quân bài thứ nhất cũng đã thua rồi.
Chúng ta thử xem một thanh niên bắt đầu làm ăn với quy tắc này: người ta sẽ bưng
một cái khay bằng bạc trên đó đặt một chìa khóa thần, chiếc khóa thành công mà
dâng mình. Đáng buồn thay cho kẻ đó. Hắn sẽ ương ngạnh từ chối tất cả những sự
mời mọc rất quyến rũ, có lợi cho hắn, hoặc bỏ qua tất cả những cơ hội nhỏ, cho
rằng không đáng làm. Hắn hi vọng rằng vận may như con gà quay từ trên trời rớt
xuống và hắn sẽ hưởng được một địa vị xứng đáng với tài năng của hắn. Riết rồi,
người ta đâm ngán không muốn chìa chiếc sào cho hắn nắm mà lội vô bờ nữa.
Cứ lo ve vãn, đeo đuổi vận may mà hắn bỏ lỡ tất cả những cơ hội tốt.
Tới khi đứng tuổi, những kẻ đó mắc một cái tật rất thường thấy trong đời. Họ làm
điếc tai những bạn đồng nghiệp thành công, siêng năng hơn họ,vì bắt những người
này phải nghe họ kể lể tấn kịch mà họ phóng đại ra về sự thất bại của họ; họ phàn
nàn rằng suốt đời gặp toàn những xui xẻo, chứ đáng lí tài ba như họ đã nhảy lên
những địa vị cao sang từ lâu rồi. Họ mắc cái mặc cảm có tài mà thiên hạ không
biết tới.

Người thực muốn thành công có thái độ khác hẳn. Không nghĩ gì tới vận may, vận rủi cả. Cơ hội nào tới, dù nhỏ tới mấy đi nữa, cũng nắm lấy liền, miễn là đưa mình đi xa hơn được một chút. Không đợi cho ông thần May tới gõ cửa đón mình đi. Tự tạo lấy vận may bằng sự làm việc. Đôi khi người đó có thể lầm lẫn vì thiếu kinh nghiệm hoặc óc phán đoán, nhưng mỗi lần thất bại là một bài học để lần sau tiến bộ hơn chút nữa, và tới khi đứng tuổi người đó thế nào cũng thành công.
Người đó không hề đút tay trong túi quần để đợi lúc có thể rên rỉ với mọi người rằng thời vận không tới, chỉ gặp toàn những chuyện rủi.
Cần phải xét một lí lẽ tế nhị hơn mà người ta thường viện ra để bênh vực cái
thuyết có vận may, người ta bảo có vài người trời phú cho giác quan thứ sáu, do
bản năng mà biết được xí nghiêp nào thành công, xí nghiệp nào thất bại, thị trường sắp mở rộng thêm hoặc sắp thu hẹp lại vì khủng hoảng. Người ta cho rằng hạng
người đó tiến trên đường thành công nhờ những cuộc mà tôi có thể gọi là cuộc
“đấu giá tinh thần” đó.
Tôi khuyên bạn đừng tin cái thuyết huyền bí rẻ tiền ấy. Sự thực khác hẳn.
Hạng người tài năng trong các ngành kinh doanh lớn, tài chính hay chính trị,
thường cho ta cảm tưởng rằng họ hành động do trực giác. Nhưng sự thực là nhờ luôn luôn chú ý tới mọi biến cố mà họ biết rõ được xã hội, biết rõ tới mức mỗi hành động của họ có vẻ như một phản ứng tự nhiên, y hệt trái tim ta đập do một kích thích thần kinh mà ta cứ tưởng là tự nhiên như vậy.
Nếu bạn hỏi tại sao họ hành động cách đó thì họ cũng chẳng hiểu tại sao nữa, chỉ đáp: “Tôi nảy ra cái ý như vậy, thế thôi”; nhưng sở dĩ họ nẩy ra cái ý như vậy là kinh nghiệm đã chứa chất rất nhiều trong tiềm thức của họ mà họ không hay.
Khi thấy họ dự tính và toan liệu đúng, mọi người la lên: “Ông ta gặp may làm sao!” Nhưng giá la lên như thế này thì đúng hơn: “óc nhận xét, suy tính của ông ta đúng làm sao! Kinh nghiệm của ông ta phong phú làm sao!”
Kẻ đầu cơ “gặp may” khác hẳn hạng người kể trên. Họ thành công một lần, rực rỡ
nhiều hay ít, rồi biến mất trong một tai ách nào đó. Làm giàu mau mà phá sản
cũng mau.
Muốn thực thành công, thành công hoài hoài thì không cần gì khác ngoài ba điều kiện này: tài năng, lí trí và sức khoẻ. Ngoài ra, toàn là chuyện dị đoan cả.
Thanh niên thì ai cũng có hi vọng, nhưng nếu hi vọng biến thành lòng tin ở vận may thì nguy hại mà tiêu ma cả chí khí.
Không có một thần phật nào phù hộ một em nhỏ để sau này nó thành công cả. Chỉ có cách nhận thức đúng sự vật và hăng hái làm việc mới thành công được thôi. Không có gì thay được sự làm việc. Kẻ nào sợ làm việc thì không sao thành công được, may lắm là đủ sống.